Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Tôn vinh văn hoá đọc >>> Giới thiệu

Giới thiệu

CHỦ NGHĨA TỐI GIẢN VÀ THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

CHỦ NGHĨA TỐI GIẢN VÀ THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
GIA NGHI - Những cảnh báo từ Socrates về sự thiếu thốn của con người trong cuộc sống bận rộn khiến chúng ta nhận ra tính hợp lí của sự tối giản. Giữa những bận tâm chồng chất của đời sống, tìm được điều quan trọng, thiết yếu nhất, loại bỏ những điều không cần thiết chính là biểu hiện của một nhận thức và ứng xử đạt đến sự thông thái.

Greg Mc Keown - tác giả cuốn sách Nghệ thuật theo đuổi sự tối giản cũng đưa ra nhận định: “Điều đó (sự tối giản - G.N) cũng không có nghĩa bạn chỉ cần làm ít đi mà là bạn cần đầu tư thời gian và công sức của mình một cách hợp lí và sáng suốt để đóng góp được ở mức cao nhất bằng cách chỉ làm những việc cần thiết đối với mình” (Bảo Thư dịch, Nxb Lao động Xã hội, 2016). Việt Nam đương đại, trong sự hội nhập một cách sâu rộng, trong các tương quan chằng chịt của quá khứ, hiện tại, truyền thống, tương lai, bản địa và toàn cầu hoá, khoa học kĩ thuật công nghệ,… đã đặt con người vào một mối bận rộn đủ để đến lúc đặt ra vấn đề cần phải thanh lọc, loại bỏ - tối giản hoá.

Sự tối giản trong hội hoạ, kiến trúc, văn chương thể hiện cấu trúc tinh thần của con người trong những động thái hướng đến sự tối giản của đời sống. Chủ nghĩa tối giản (minimalism) ra đời sau thế chiến thứ hai ở phương Tây và phát triển mạnh vào những năm 60, 70 của thế kỉ XX. Chủ nghĩa tối giản phản ứng lại với chủ nghĩa cầu toàn trong một thế giới phồn tạp, có quá nhiều thứ để con người quan tâm, mọi thứ bị cuốn trong mớ bòng bong của đời sống khiến con người luôn cảm thấy mỏi mệt, đa mang không thoát ra được. Phải can đảm để rũ bỏ những thứ không cần thiết, giữ lại những điều thiết yếu nhất. Đó là phong cách sống tối giản. Tối giản không phải là làm ít đi, ít quan tâm đi, mà là chú ý đến cái cần thiết, hữu ích nhất, loại trừ những thứ không quan trọng, làm vướng bận con người, cản trở chất lượng cuộc sống. Sự bùng nổ của internet, các phương tiện truyền thông là một cơ hội của chủ nghĩa cầu toàn, của sự “thậm phồn”. Trong thế giới của muôn vàn liên kết như thế, con người dường như đánh mất cơ hội được quan sát, nghiền ngẫm, đánh giá, xác định các giá trị hữu ích, thiết thân. Bởi vậy, về bản chất, sự đa bội trong thế giới toàn cầu hoá dễ dẫn con người đến sự vô cảm, thờ ơ, hời hợt với tất cả mọi thứ. Tối giản trả lại cho con người cơ hội được sống với những điều thiết yếu nhất. Nhưng, không phải ai cũng có thể nhìn thấy sự tối giản trong tính đa bội, cầu toàn. Cần phải có năng lực nhận ra cái gì là thiết yếu nhất. Dũng cảm loại bỏ, dũng cảm đối mặt với cái nhìn xa lạ, hoài nghi từ cộng đồng cầu toàn. Tối giản, như thế, cũng không phải là chống lại toàn cầu hoá, chống lại những tương giao của đời sống, mà đó là năng lực nhìn ra mối liên hệ bản chất nhất, hình thái căn bản nhất của hiện hữu. Con người tối giản tìm được sự cân bằng trong những ồn ào xao động của đời sống, giải trừ được sự mệt mỏi bởi những mối bận tâm đến từ bên ngoài. Sự trầm uất, quá tải, stress hay những chứng bệnh khác của thời đại truyền thông có thể được kiểm soát thông qua lăng kính tối giản. “Chúng ta đã mất khả năng chọn lọc cái gì là quan trọng và cái gì không. Các nhà tâm lí học gọi đó là sự mệt mỏi của việc quyết định: khi chúng ta buộc phải đưa ra càng nhiều quyết định thì chất lượng của những quyết định đó càng giảm sút” (Greg Mc Keown).

Thơ Việt Nam đương đại đang thể hiện một cách khá sinh động tâm thức của con người trong không gian sống giao thoa các hệ hình tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại. Hình thái đời sống này dường như làm tăng lên áp lực đối với con người Việt Nam. Chính vì vậy, sự tối giản trong thơ như một phương cách, một thái độ, một ứng xử nhằm giải toả trạng thái căng thẳng của cá nhân. Tiêu biểu cho khuynh hướng này, có thể kể đến Đoàn Văn Chúc với thơ một hai chữ, Lê Đạt với thơ hai câu, Dương Tường (Đàn), Mai Văn Phấn (Hoa giấu mặt; thả), Nguyễn Khoa Linh (Nghiệm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9), Hàm Anh (Gọi tháng ba), lu (lấp kín một lặng im), một số bài thơ ngắn của Nguyễn Thế Hoàng Linh…

Trước hết, sự tối giản trong biểu hiện của các tác giả này là ở chỗ, thơ của họ tiến đến hình thái thơ ngắn (một hai chữ, hai câu, ba câu, bốn câu). Sự lược bỏ về mặt hình thức, vật liệu là bước đầu tiên trong việc thể hiện lựa chọn của các tác giả. Đàn của Dương Tường chỉ có một chữ với những cách trình bày khác nhau. Mai Văn Phấn với thơ ba câu trong Hoa giấu mặt và thả, Nguyễn Khoa Linh với một series Nghiệm - hai câu, Gọi tháng ba của Hàm Anh là những bài thơ ngắn, lấp kín một lặng im của lu hay thơ ngắn của Nguyễn Thế Hoàng Linh cũng chỉ là những bài thơ hai, ba, bốn câu xinh xắn mà ám ảnh… Sự tinh giản về mặt hình thức đã nói lên tâm thế của chủ thể sáng tạo trong việc lựa chọn hình thái hiện diện của văn bản. Điều đó, trong tư duy không biện biệt hình thức và nội dung, đã mang đến cảm quan nghệ thuật mới. Xu hướng tối giản về hình thức dường như đang thu hút được khá đông các nhà thơ theo đuổi cũng như sự quan tâm của độc giả. Sự nở rộ của trường ca những năm vừa kết thúc chiến tranh, sự trương nở của thể thơ dài thâu tóm nhiều vấn đề của đời sống, sự gia tăng yếu tố sự kiện, truyện kể trong thơ đã khiến cho thơ trở nên cồng kềnh. Do vậy, cùng với áp lực từ đời sống, trở về với sự tối giản trong hình hài những bài thơ nhỏ nhắn, xinh xắn là lựa chọn của khá nhiều người.

“Ít nhưng chất” là cách chúng ta hình dung về sự tối giản. Theo đó, chất lượng được đặt lên trên số lượng. Đối với thơ tối giản, chú ý thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ, ý thức thẩm mĩ… lại càng ưu tiên cho khía cạnh chất trong khi nỗ lực hạn chế tối đa phương diện lượng. Sự nghiêm khắc trong lựa chọn để đẩy phương diện chất đến giới hạn tối đa đồng thời giảm thiểu công cụ, phương tiện biểu đạt chính là ý niệm của mĩ học tối giản. Muốn như thế, nhà thơ phải có một hệ thống các tiêu chí, các nguyên tắc làm căn cứ cho việc triển khai ý niệm nghệ thuật của mình. Có thể khái quát các nguyên tắc của mĩ học tối giản trên một số phương diện như:
Tối giản về hình thức - phương thức nghệ thuật. Các nhà thơ chủ trương tối giản lựa chọn hình thức hai, ba, năm câu, trục xuất hư từ vốn là nguồn cơn của gia tăng các cấu trúc ngữ pháp, tiết chế hệ thống từ ngữ biểu cảm, miêu tả, hạn chế vần để giảm thiểu sự lan toả của ngữ âm, vận hành một vài nhịp có tính sơ khởi, tuyển lựa những từ ngữ đắt giá, đắc địa nhất cho tứ thơ của mình. Chẳng hạn: Sương mù/ Giăng/ Gỗ mục/ Đơm hoa (thả - Mai Văn Phấn); Con sẻ nhỏ ngủ quên mùa lá nở/ tự phai mình trong một cánh rừng thu (lấp kín một lặng im - lu); Chợt nhớ về xứ cũ/ Nâu sồng quên mộng xanh (Quên - Nguyễn Khoa Linh)… Nhưng, vẫn phải kính cẩn nghiêng mình trước sự tối giản đến mức lặn sâu vào chữ, đập chữ ra để tìm thấy lõi, quăng quật chữ để chữ phát nghĩa, rời bỏ xác chữ để phiêu du trong miền “bóng chữ” như Lê Đạt:Nắng tạnh heo mày hoa lạnh/ Mimôza chiều khép cánh mi môi xa (Mimôza); Anh rình trắng nghìn trăng nghiêng ngõ mộng/ Bước thị thơm chân chữ động em về (Tấm chữ).

- Tối giản về đối tượng: Để tối giản, thi sĩ của khuynh hướng này thường khai thác hiệu quả của biểu tượng. Biểu tượng có khả năng thâu tóm thế giới tinh thần ở cả chiều vô thức và hữu thức, cả quá khứ, hiện tại và luôn mở rộng dự phóng về tương lai. Biểu tượng chấp nhận các khả thể diễn giải trong nhiều ngữ cảnh khác nhau. Chẳng hạn: Hoa ở Côn Sơn/ Thơm/ Suối trong/ Len qua viên cuội; Đỉnh cây/ Chao đảo/ Lòng hồ/ Yên tĩnh (thả - Mai Văn Phấn). Biểu tượng hoa - suối - viên cuội đã thể hiện cái nhìn quán chiếu của chủ thể về con đường giác ngộ. Biểu tượng đỉnh cây - lòng hồ đã thể hiện những trạng thái, chất sống khác nhau: chao đảo - yên tĩnh. Với tập thả, Mai Văn Phấn dùng thể ba câu và biểu tượng, giản lược nhiều phương diện trong một văn bản thơ. Người đọc sẽ khó đạt được mục đích khi đi tìm những cảm thức đô thị hay nhà máy, bê tông, xe cộ, những sự vật hiện tượng bề bộn như ở một số tập trước của anh. Điều đó không nói lên thái độ rời xa cuộc sống, ngược lại, chủ thể đã nhìn sâu vào bản chất hay những giá trị cốt lõi có tính siêu thời gian, không gian của đời sống. Điều gì có thể đạt đến khả năng siêu thời gian, không gian như thế? Chỉ có thể là giá trị nhân bản phổ quát. Giá trị này tồn tại vượt lên các giới hạn về không gian, thời gian, thể chế, quốc gia, tôn giáo…

- Hạn chế tối đa bày tỏ cảm xúc: Giữ thái độ khách quan phải được xem là tâm thế của chủ thể sáng tạo nghệ thuật tối giản. Đối với những thể thơ ngắn hai câu, ba câu… việc duy trì thái độ trữ tình khách quan là rất cần thiết. Sự khách quan giúp tiết chế được lời, cảm xúc, để biểu tượng và tứ thơ tự phát sáng, “hữu xạ tự nhiên hương”. Như thế, phương thức giao tiếp nghệ thuật chủ đạo ở đây là gợi. Chủ thể sáng tạo không nói cụ thể ý niệm, cảm xúc của mình. Người đọc cũng không tiếp nhận những gì chủ thể gửi gắm mà qua gợi ý từ tác phẩm, người đọc tự tìm ra cho mình những thông điệp, ý nghĩa từ tác phẩm. Chẳng hạn: Chân trời bay mất/ lũ chim không biết bám vào đâu (lấp kín một lặng im - lu); Hãy tận tâm/ nhiều khi/ trong lặng thầm (Phép thử thuật tư biện - Mai Quỳnh Nam)…

- Thu hẹp không gian, trường nhìn vật lí để mở rộng không gian của tinh thần - không gian tâm tưởng. Không gian tâm tưởng là một siêu không gian, bởi ở đó có thể xâm nhập, trùng xếp, đan cài các không gian: quá khứ, hiện tại, tương lai, vô thức, hữu thức, các không gian tâm linh, tín ngưỡng… Bội số của nó lớn hơn không gian vật lí rất nhiều. Bởi thế, tối giản mà hiệu quả biểu đạt lại cao hơn: Đêm lạnh/ Chiếc lá/ Ủ ấm/ Con sâu (thả - Mai Văn Phấn); Nói với anh/ Nói với bóng tối/ Bằng hơi thở/ Chỉ còn hơi thở (Gọi tháng Ba - Hàm Anh).

- Rời bỏ cái vẫn được gọi là hiện thực khách quan, tiến đến những hiện thực của tâm tưởng, của sự khải thị. Chẳng hạn: Tôi là cọng cỏ dại/ từng mọc ngày XƯA rồi/ tôi là cọng cỏ dại/ sẽ mọc ngày SAU thôi (Tôi là một kẻ khác - Nhật Chiêu).

Hệ thống những nguyên lí vừa nêu có thể hình thành một quy chiếu của mĩ học tối giản trong thơ. Tối giản đem đến chất lượng đời sống ở chiều sâu của sự tĩnh lặng mà không phải ai cũng có thể nhận biết giữa đời sống đương đại. Tối giản không đơn giản là kĩ thuật mà đó là thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan. Nói cách khác, đó chính là tư tưởng trong thực hành sống, thực hành nghệ thuật của con người theo đuổi chủ nghĩa này. Hình thức những văn bản ngắn là sự hiện ra của tư tưởng tối giản hoá, của mĩ học tối giản trong tương quan với các hình thái, xu hướng nghệ thuật, thẩm mĩ khác. Ở đây, cũng cần lưu ý, có trường hợp “đạm”, “nhạt” mà không phải tối giản. Trúc Thông là một trường hợp như thế khi thơ ông là mĩ học của “Trong”, “Đạm”, “Lụa” (Chu Văn Sơn, Trúc Thông: ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ). Chính nhà phê bình Chu Văn Sơn dùng khái niệm Đạm và tỏ ra băn khoăn về khái niệm Nhạt mà F.Jullien đã dùng (Bàn về cái nhạt, Trương Thị An Na dịch và giới thiệu, Nxb Đà Nẵng, 2004). Thực tế, F.Jullien đã cảm nhận được cái Đạm, nhưng qua cách dịch của Trương Thị An Na đã thành Nhạt. Một lưỡng lự có thể xuất hiện ở đây khi Đạm không phải là bản chất của cái tối giản. Trong hình dung về đối tượng, Đạm nói lên trạng thái chung thuộc về tính chất của cái được nói đến. Trong khi, tối giản lại là khái niệm chỉ mức độ. Có thể nhận ra, trong nghệ thuật tối giản, cái bao quanh, phủ lên đối tượng là cái Đạm, nhưng bản thân đối tượng lại được nhận diện và tập trung chú ý. Như thế, cái Đạm chính là cái đã bị loại/lược bỏ - cái không cần chú ý. Còn cái tối giản là cái được lựa chọn - cái tập trung chú ý. Dĩ nhiên, không thể tách cái Đạm ra khỏi tổng thể không gian nghệ thuật tối giản. Trong nghệ thuật tối giản, cái vắng mặt hiện hữu một cách mãnh liệt bằng chính sự vắng mặt của nó. Dương Tường sử dụng chữ đàn với những cách trình bày khác nhau là một cách thể hiện sự loại trừ và lựa chọn của ông. Chú ý đến nhạc, nhưng ông không dùng ngôn ngữ để miêu tả âm nhạc. Ông sử dụng biểu tượng cây đàn trong những cách điệu gắn với chữ đàn và các hình thức mô phỏng có tính tượng trưng. Do đó, tâm điểm chú ý sáng lên trong sự tinh giản tối đa của lời của các sự vật khác vô tình xuất hiện trong lời.

Lựa chọn - kết hợp là nguyên lí căn bản của thơ. Điều này phù hợp với quan điểm về sự tối giản khi lựa chọn là cơ sở cho việc theo đuổi sự tối giản hoặc cầu toàn. Tất cả nằm ở mức độ, phạm vi, chất lượng sự lựa chọn của chủ thể. Sự lựa chọn trong thơ không chỉ là lựa chọn cái đúng mà lựa chọn cái phù hợp, cái hay, cái giàu giá trị biểu đạt, cái có nhạc tính và tạo nên nhịp điệu. Như thế, sự lựa chọn trong thơ vốn đã khắc nghiệt, đối với dạng thơ tối giản mức độ khắc nghiệt này còn tăng lên gấp nhiều lần. Thậm chí, chúng ta sẽ thấy hiện lên trong và xung quanh văn bản nhiều hơn những khoảng trắng - không gian vật lí. Nghệ thuật tối giản thể hiện khá rõ tính chủ thể trong việc phân định cái gì là thiết yếu, là tâm điểm của sự chú ý. Chúng ta sẽ thấy điều đó trong thơ của Mai Văn Phấn khi mỗi bài đều chỉ là một khoảnh khắc của thời gian, một góc nhìn với khá ít đối tượng trong trường nhìn: Tiếng chim mùa xuân/ Xuyên núi/ Cây rùng mình; Sau cơn mưa/ Cây non/ Từ khe đá/ Vươn ra biển. Sự tối giản đến mức chỉ còn lại rất ít từ ngữ, hình ảnh. Tuy nhiên, điều được lựa chọn đã nói lên một cách sâu sắc và đầy đủ nhất về tâm thức, cảm xúc, trạng thái - chân dung chủ thể trong một khoảnh khắc rất nhỏ của thời gian. Khoảnh khắc là đơn vị thời gian vô cùng quan trọng của sự tối giản. Sự chớp bắt một khoảnh khắc của thời gian, nơi sự sống diễn ra rất nhanh, thể hiện sự tinh nhạy của chủ thể đồng thời cho thấy khả năng cảm nhận, phán đoán, phân tích, loại trừ và lựa chọn của anh ta. Chính trong khoảnh khắc này, con người hiện hữu một cách trọn vẹn. Sự tối giản về thời gian, không gian, các hình thức biểu đạt khác (nếu có thể hiểu giản đơn như thế) đem đến cái nhìn tập trung vào một chi tiết. Sự tập trung một cách cao độ tạo nên cơ hội cho nhận thức, cảm xúc. Như thế cũng là tạo cơ hội cho chính sự sống.

Chủ nghĩa tối giản lên tiếng về cái dư thừa, vô nghĩa của nhiều hiện tượng trong đời sống. Sự ồn ào, xô bồ của các trào lưu, dòng phái, chủ nghĩa, khuynh hướng trong thơ… đã khiến cho sự im lặng, tinh tế, sâu sắc trở thành một cái gì khá hiếm hoi. Dĩ nhiên, mọi sự tồn tại như thế lại chính là hiện thực trực tiếp của đời sống. Lựa chọn khoảnh khắc (lúc nào?), lựa chọn đối tượng (cái gì?), lựa chọn trạng thái (như thế nào?) phụ thuộc vào sự tinh nhạy, vốn tri thức, văn hoá, năng lực thẩm mĩ của chủ thể. Ở đây, câu chuyện dễ dẫn đến những hình dung như là chủ thể đang sử dụng con dao hai lưỡi. Sự thiếu tinh nhạy và năng lực văn hoá, tri thức, thẩm mĩ nông cạn dễ rơi vào vụn vặt mà ta gọi là sự đơn giản, tầm thường.

Sự tối giản trong thực tế không phải là quá mới mẻ hay riêng khác ở thơ Việt Nam đương đại. Sự ra đời của nó ở phương Tây cũng đã từ rất lâu. Tuy nhiên, phương Tây dường như không phải là tất cả, truyền thống phương Đông cũng gắn liền với sự tĩnh lặng. Có thể tìm thấy sự tĩnh lặng trong tranh thuỷ mặc Trung Hoa, tư tưởng trung dung trong học thuyết Nho giáo của Khổng Tử, tinh thần vô vi trong học thuyết của Lão Tử, trong tranh Mặc Hội hay thể thơ haiku của Nhật Bản. Điểm gặp gỡ chính là những truyền thống này gắn với chủ thể là những người đã đạt đến sự thông thái về lẽ sống, quy luật của hoá sinh. Đặt những trạng thái và mức độ này vào một hệ thống, ta thấy rằng, cái “đạm” là phông nền, bối cảnh của cái tối giản. Đôi khi, hai trạng thái này bị nhầm lẫn bởi chúng gắn bó quá mật thiết với nhau. Nếu không có cái đạm, nhạt, chúng ta không nhận ra cái tối giản. Cũng như, cái tối giản không thể hiện ra ở một không gian đã ken dày các lựa chọn khác một cách phồn tạp. Sự thưa vắng những yếu tố, tín hiệu trong không gian là cơ sở để sự tối giản được lĩnh hội. Sự tối giản trong thơ ba câu của Mai Văn Phấn, Trúc Thông, Nguyễn Khoa Linh thiên về cái tĩnh lặng, thanh đạm của phương Đông. Trong khi đó, Đoàn Văn Chúc, Lê Đạt, Dương Tường, trẻ hơn nữa như Miên Di, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Hàm Anh, lu… lại nghiêng về phía kĩ thuật tối giản của phương Tây. Dẫu sao, trong sáng tạo của họ, tinh thần của sự sống được hiện ra trong những điều kiện tối thiểu của biểu đạt.

Thơ Việt Nam đương đại đang chứng kiến nhiều khuynh hướng thể nghiệm. Mĩ học tối giản là một khuynh hướng dựa trên nhận thức, thái độ sống của chủ thể sáng tạo đang gây được nhiều cảm hứng cho công chúng đương đại. Trong hoàn cảnh sống “thậm phồn” như hiện tại, tối giản dường như đang trao lại cơ hội được sống cho con người. Từ rất xa xưa, Socrates đã cảnh báo: “Hãy cẩn thận với sự thiếu thốn của một cuộc sống bận rộn”. Tối giản, như thế, thật thú vị lại là điều kiện để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Những lo âu về một thế giới vô cảm dường như đã tìm thấy ở chủ nghĩa tối giản một lời giải đáp hay một sự bám víu, để từ đó kiến tạo không gian sống nhân văn hơn cho con người đương đại.
G.N

Nguồn: Văn nghệ Quân đội

DẠY VĂN, HỌC VĂN: “NẾU CÓ TÌNH YÊU SAY MÊ TRUNG THỰC TUYỆT ĐỐI THÌ KHÔNG BAO GIỜ CHÁN”

DẠY VĂN, HỌC VĂN: “NẾU CÓ TÌNH YÊU SAY MÊ TRUNG THỰC TUYỆT ĐỐI THÌ KHÔNG BAO GIỜ CHÁN”

Sáng 10/5, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề Lý luận phê bình với việc đổi mới dạy học Văn trong nhà trường hiện nay tại thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc). Buổi toạ đàm giao lưu cùng các trại viên đang tham gia Trại Nghiên cứu, Phê bình văn học về đề tài Lực lượng vũ trang và Chiến tranh Cách mạng do tạp chí VNQĐ tổ chức.

Tại đây, các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu lý luận phê bình và các sinh viên cùng nhau chia sẻ  về những cách tiếp cận, tư duy đổi mới trong nghiên cứu văn học cùng những kinh nghiệm để truyền lửa nhiệt huyết trong việc tìm tòi những điều mới lạ trong văn chương.

Chia sẻ kinh nghiệm truyền đạt
Tại toạ đàm, PGS, TS Văn Giá, Trưởng khoa Viết Văn Báo chí, ĐH Văn hoá HN nói: “Những năm tháng tại trường học là vùng kí ức giúp tôi có chiều sâu, nội dung tâm hồn để tôi có được những trang viết sau này. Phải đến 28-30 tuổi tôi mới biết mình có khả năng ở lĩnh vực nào. Còn những năm 20 tuổi là những trang viết vụng dại đầu đời, tôi viết đủ thể loại, gửi đi khắp nơi để muốn chứng minh khả năng của mình. Có bài được đăng có bài không được đăng. Và lúc đó, tâm lý của tôi với những bài không được đăng là do các báo chưa nhận ra tài năng của mình”. 

“Lý thuyết cũng đi qua rất nhiều hệ hình cần nhiều chọn lọc. Trong trường hợp nghiên cứu không thể chỉ vận dụng một trường lí thuyết mà nên vận nhiều phương pháp khác nhau. Để mỗi bài nghiên cứu hay truyện ngắn để lại dấu ấn rất khó. Và có vẻ như có quá nhiều áp lực đối với người viết. Nhưng với tôi, sự lựa chọn đi vào văn chương tạo ra nhiều thú vị trong cuộc sống giúp mình thêm đam mê, vì văn chương chính là con người. Đã là con người thì vô cùng đáng trân trọng” - PGS. TS Lý Hoài Thu, giảng viên khoa Văn, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia HN nói.

TS. Thái Phan Vàng Anh, ĐH Sư phạm thuộc Đại học Huế chia sẻ từ thực tiễn dạy học của mình: “Tôi thấy đây là một diễn đàn giao lưu hiếm có giữa ba giới nhà văn – nhà nghiên cứu lí luận phê bình và người giảng dạy. Rất mong qua đây sẽ tạo ra nhiều cơ hội chia sẻ, trao đổi lẫn nhau. Bởi việc giáo dục hiện nay hơi xa so với thực tiễn và chúng tôi muốn cung cấp chìa khóa cho các sinh viên đến với nhiều thể loại, nhất là các tác phẩm hậu hiện đại. Quá trình tiếp nhận khiến sinh viên quen với các tác phẩm lãng mạn, đã khẳng định tên tuổi còn các tác phẩm mới thì còn khá xa lạ. Do đó, cũng cần có khuynh hướng sáng tác có tiếp cận mới cho các sinh viên học văn”.

Thay đổi góc độ nhìn nhận văn chương
Lấy ví dụ từ tập thơ mới xuất bản của mình, nhà thơ Lê Anh Hoài chia sẻ rằng tập thơ của anh đã có sự góp sức của các nhà khoa học để có thể trình bày ở 5 ngôn ngữ dân tộc Việt Nam. Đây được coi là một cách tiếp cận ngoại vi hay còn gọi là hậu hiện đại. Từ đó, nhà thơ nói với các sinh viên: “Tôi mong các em mở rộng trường quan sát của mình để không bị thu hẹp hay có cái nhìn quá mẫu mực, quá trễ với nền văn chương mới. Các em sau này sẽ là thầy cô, sẽ mở rộng vi cảm, biên độ nghiên cứu và lấy nhiều tác phẩm dùng làm ví dụ khơi gợi cho học trò. Điều này sẽ tốt cho giáo dục tính nhân văn của xã hội tương lai”.

PGS.TS Phùng Gia Thế - Trưởng phòng Đào tạo - ĐH Sư phạm Hà Nội 2 - cũng chia sẻ là các giảng viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 rất cập nhật các xu hướng văn chương nên các em sinh viên cũng được tiếp nhận nhiều thể loại văn học hậu hiện đại để có cái nhìn đa chiều hơn trong việc học tập, nghiên cứu.

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng chia sẻ quan điểm của mình về nền văn chương hiện tại: “Nhiều người cho rằng văn chương đang lâm nguy, nhưng tôi thấy văn chương không lâm nguy và tôi có niềm tin rằng văn chương lâm nguy nếu có chỉ là nhất thời, là một bộ phận hay một giai đoạn nào đó. Từ 42 năm giảng dạy tôi đã rút kinh nghiệm rằng nếu có tình yêu say mê, trung thành tuyệt đối thì không bao giờ chán văn chương cả. Đi dạy học lại là một trải nghiệm đặc biệt thú vị. Nếu mình cứ say mê tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu, ngẫm nghĩ kĩ thì tình yêu này sẽ nâng lên thành trí tuệ. Nếu làm được như vậy thì văn chương không bao giờ vô nghĩa giữa xã hội mà các thang giá trị đang mờ mịt như hiện nay. Cuối cùng, văn chương sẽ trở lại vị trí vốn có vì đó là liều thuốc tinh thần của con người”.

Cũng tại buổi giao lưu, các em sinh viên đã đặt câu hỏi với các nhà lí luận phê bình, các nhà văn về những thắc mắc của mình xung quanh các tác phẩm mà các em đang tìm hiểu cũng như các vấn đề văn học hiện tại như tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Uông Triều, nghiên cứu văn học Mỹ Latin của TS Phan Tuấn Anh, chủ nghĩa Mác xít trong văn học, ý nghĩa của nghiên cứu phê bình văn học trong nhà trường,… Và đã được chính các tác giả, các nhà phê bình giải đáp trực tiếp.

Với những thầy cô giáo tương lai thì đây chính là dịp tiếp cận gần hơn với các tác giả văn học, các nhà nghiên cứu để thêm những phương pháp, góc tiếp cận trong văn chương mà những cây bút như Bùi Việt Thắng, Lý Hoài Thu, Văn Giá,… đã tạo nên được bản sắc riêng của mình để thấy rằng sự nhiệt thành trong tình yêu văn chương sẽ tạo nên những điều thú vị trong cuộc sống, để khẳng định cho câu thơ - “Nỗi buồn của chúng ta là nỗi buồn không bản sắc”*.

THU OANH –Nguồn: Văn nghệ Quân đội

 

Cụ ông 90 tặng bảo tàng tỉnh cuốn truyện Kiều viết trên chất liệu giấy dó

Cụ ông 90 tặng bảo tàng tỉnh cuốn truyện Kiều viết trên chất liệu giấy dó

Sau 75 năm lưu giữ cụ Đinh Công Bá (90 tuổi, trú tại xóm 9, xã Sơn Diệm, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) đã quyết định trao tặng cho Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh cuốn truyện Kiều do chính tay cụ viết chữ bằng Hán Nôm trên chất liệu giấy dó.

SN1922, cụ Bá - nguyên là cán bộ Uỷ ban hành chánh xã Sơn Diệm thời kỳ kháng chiến chống Pháp à người rất đam mê truyện Kiều. Mới khoảng 12 tuổi không chỉ đọc thuộc vanh vách truyện kiều của Đại thi hào Nguyễn Du mà cụ Bá có thể đem ý tứ cốt truyện giảng giải cho bạn bè cùng lứa của cụ thời ấy. Vừa đam mê, lại vừa rất tinh thông nho giáo nên từ nhỏ cụ Bá đã dành tâm lực viết lại truyện Kiều bằng chữ Hán Nôm trên chất liệu giấy dó còn được gọi là giấy bản. Năm 16 tuổi sau thời gian dài viết bằng niềm đam mê cụ Bá đã cho ra đời cuốn sách Kiều đặc biệt trên với đầy đủ 3250, chép bằng 2 mặt.
Từ khi hoàn thành việc chép cuốn sách truyện đặc biệt nói trên cụ Bá luôn mang bên mình như một vật bảo bối và dùng nó để đọc, răn dạy con cháu mỗi khi sum họp gia đình.
Sau 75 năm qua lưu giữ, vừa qua cụ Bá đã quyết định trao tặng cuốn sách đặc biệt nói trên cho Bảo tàng Nguyễn Du thuộc Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh. Trước việc làm đầy ý nghĩa này của cụ Bá Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh đã tặng cụ giấy khen, động viên cụ tiếp tục sống vui sống khỏe.


Cụ Bá bên giấy khen do Giám đốc Sở VHTT&DL tỉnh Hà Tĩnh trao tặng

Được biết, ngoài cuốn truyện Kiều vừa trao tặng cụ Bá tự viết và đang lưu giữ cuốn “Minh Đạo” nói về đạo đức, gia phong trong gia đình, dòng họ để răn dạy và lưu giữ cho thế hệ con cháu muôn đời sau.

Minh Nho - Hà Phương
Nguồn: Dantri

Sách của Ngô Bảo Châu dụ độc giả đến với toán học

Sách của Ngô Bảo Châu dụ độc giả đến với toán học

Cho rằng cuốn sách mang lại cho con em và bản thân niềm hứng thú, say mê để yêu toán học như yêu một bài thơ, bản nhạc, không ít độc giả bày tỏ mong muốn có thêm nhiều cuộc phiêu lưu của Ai và Ky hơn nữa.

Tối 2/8, tại Hội trường Trung tâm văn hóa Pháp, Hà Nội diễn ra buổi tọa đàm giới thiệu tác phẩm “Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình” của tác giả Ngô Bảo Châu và người bạn Nguyễn Phương Văn. Tuy chỉ mới xuất bản được hơn bốn tháng, cuốn sách đã được tái bản tới bốn lần với lượng sách bán ra lên tới hàng chục nghìn bản. Lượng khán giả chật kín Hội trường Trung tâm văn hóa Pháp - từ người lớn tới trẻ em - cũng cho thấy sức hút đặc biệt của Ai và Ky.

“Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình” được hai tác giả thống nhất gọi là thể loại “tiểu thuyết toán hiệp”. Lựa chọn hình thức cổ tích, cuốn sách là cuộc phiêu lưu của hai nhân vật Ai và Ky trong thế giới những con số và phép dựng, của trường và chiều. Chặng đường Ai và Ky dấn bước trong câu chuyện bắt đầu từ buổi sơ khai của toán học với Euclid và những tiên đề đầu tiên về điểm và đường thẳng, Cartesius với hệ tọa độ và phương pháp tư duy trừu tượng… cho tới cả những lý thuyết toán học hiện đại. Hai nhân vật Ai và Ky gặp gỡ, trò chuyện cùng những danh nhân toán học của nhiều thời đại, được họ giảng giải, từ đó hiểu ra những quy luật, định lý cũng như vẻ đẹp của toán học.


Bốn diễn giả tại tọa đàm. Từ trái sang: Tiến sĩ Hà Huy Khoái, tác giả Nguyễn Phương Văn, tác giả Ngô Bảo Châu, nhà thơ Trần Đăng Khoa. Ảnh: Nhã Nam.

Theo Tiến sĩ toán học Hà Huy Khoái, cuốn sách, với những cách nhìn thấu đáo và cách diễn giải giản dị, đã mang chân lý đến với người đọc một cách tự nhiên. Theo ông, GS. Ngô Bảo Châu là một người hiểu rõ bản chất toán học nên đã biến những vấn đề hết sức phức tạp trở nên dễ hiểu, đưa con người trở lại sự ngây thơ để nhìn nhận toán học. Trong cuốn sách, ông có thể đọc được cả những vấn đề của toán học, văn học, lịch sử và triết học. Đặc biệt, những triết lý giản dị mà sâu sắc được đan cài trong tác phẩm như “tôi đang nghi ngờ” (bắt nguồn từ quan điểm triết học “tôi tư duy tức là tôi tồn tại”), cho thấy sự sâu sắc như con người Ngô Bảo Châu, bởi khi nghi ngờ cái khác tức là bản thân “tôi” đã tồn tại.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng, cuốn sách ai đọc cũng hiểu, nhưng hiểu sâu sắc thì không phải là chuyện đơn giản. Càng từng trải, người đọc sẽ càng hiểu nội dung của nó ở nhiều góc độ, ý nghĩa khác nhau. “Thần đồng thơ” cũng nhận định, cuốn sách viết chung nhưng không có dấu hiệu của những vết ráp nối mà cả hai hòa vào nhau cả về văn phong và nội dung.


GS Ngô Bảo Châu và Nguyễn Phương Văn ký tặng độc giả. Ảnh: Nhã Nam

GS. Ngô Bảo Châu chia sẻ, cuốn sách xuất phát từ tình bạn giữa anh và Nguyễn Phương Văn. Kiến thức toán học trong “Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình” do Ngô Bảo Châu đưa ra, trong khi cả hai bàn bạc về nhân vật, mạch truyện và thống nhất văn phong để triển khai câu chuyện. Trong 8 tháng viết sách, Ngô Bảo Châu ở Mỹ, Nguyễn Phương Văn ở Việt Nam, vì thế phần lớn họ trao đổi qua internet. Có khi, Ngô Bảo Châu nêu ý tưởng, vẽ hình rồi scan gửi về cho Nguyễn Phương Văn. Cuốn sách được viết bằng một văn phong mạch lạc và trong sáng. Nguyễn Phương Văn cho biết, tất cả những gì rườm rà, diễn đạt hoa mỹ, dài dòng đều được Ngô Bảo Châu cắt bỏ bằng tư duy của một nhà toán học.

Sử dụng hình thức tiểu thuyết, nhưng nội dung của “Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình” hoàn toàn là những kiến thức toán học, khiến không ít độc giả thắc mắc về yếu tố văn chương trong cuốn sách. Theo Ngô Bảo Châu, việc lựa chọn hình thức tiểu thuyết chỉ là lựa chọn một cách hành văn, nhân vật, giới hạn của nhân vật để miêu tả, đồng thời cấp cho tác phẩm một tuyến truyện, với mục đích chuyển tải những nội dung toán học. Cả hai tác giả cho rằng, đây chỉ là một tác phẩm cận văn học, chứ chưa phải là văn học. Tiến sĩ Hà Huy Khoái nhận định, thành công về văn học ở cuốn sách nằm ở cách chọn hình thức truyện cổ tích. Theo ông, chỉ trong cổ tích, những danh nhân toán học cách nhau hàng thế kỷ mới có thể ngồi chung dưới một mái nhà, đàm đạo, tái hiện được cả một chặng đường của toán học từ sơ khởi đến hiện tại.


Bìa cuốn sách "Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình"

Cuốn sách thành công ngoài mong đợi về đối tượng độc giả khiến hai tác giả hài lòng. Tuy nhiên, điều nuối tiếc, theo Ngô Bảo Châu, là đã để nhân vật đơn thuần sống với những tri thức khoa học mà thiếu buồn vui về cuộc sống. Nếu được viết lại, nhà toán học cho biết, anh sẽ cấp cho nhân vật có tình cảm, có buồn vui và thiết tha với cuộc sống hơn.

Theo Ngô Bảo Châu, “Ai và Ky ở xứ sở những con số tàng hình” mang đến cho người đọc tình yêu với toán học, để nhìn nhận toán học không phải một công cụ đo đếm hay công cụ cho các ngành khoa học khác mà là thứ cần cho đời sống, như văn thơ, nhạc họa. Không ít các ý kiến cho rằng, cuốn sách có nhiều chỗ khó hiểu, nhưng Ngô Bảo Châu hy vọng, chính điều đó sẽ kích thích trí tò mò của độc giả để hiểu về nó - đó cũng chính là một con đường đến với toán học.

Nguồn: eVan.net

Ngôn ngữ mạng xã hội vào từ điển Mỹ

Ngôn ngữ mạng xã hội vào từ điển Mỹ

150 từ tiếng Anh thông dụng nhờ mạng xã hội như ‘bromance’, ‘tweet’ hay ‘crowdsourcing’… vừa được đưa vào từ điển Đại học Merriam-Webster của Mỹ, ấn bản năm 2011.

Hát xẩm vỉa hè phố cổ

Trong kí ức mẹ tôi, người phụ nữ nông thôn lên tỉnh lập nghiệp, những phiên chợ quê dường như luôn luôn sống động. Phiên chợ làng tôi họp trên vệ đê con sông đào, bên gốc đa đầu làng với chỉ vài cái lán che tạm bợ dù rằng ngày này qua năm khác nó vẫn tồn tại. Và không thể thiếu trong phiên chợ đó là những giọng hát xẩm đầy nỉ non, ai oán...

Trường hợp ra đời của tạp chí Nam Phong

Trường hợp ra đời của tạp chí Nam Phong

“Nam Phong có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, nó cũng đã gây một ảnh hưởng rất sâu xa trong giới trí thức Việt Nam trước kia”.

Bởi người lớn “quên” vai trò nêu gương

Bởi người lớn “quên” vai trò nêu gương

Với xã hội hiện đại, biết đọc, biết viết mới chỉ là bước đầu tiên của quá trình tri thức, quan trọng hơn là tiếp cận tri thức, sáng tạo trên cơ sở tri thức và hơn nữa, là phẩm cách văn hóa của mỗi người sau khi đã dấn thân vào quá trình tri thức.

Trang 1 trong tổng số 3 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1665
mod_vvisit_counterHôm qua2892
mod_vvisit_counterTất cả4702573

20 122
,
Hôm nay:25 - 5 - 2017
Hiện có 241 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: