Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Tôn vinh văn hoá đọc >>> Giới thiệu

Giới thiệu

Chữa bệnh bằng y thuật và nghệ thuật

Chữa bệnh bằng y thuật và nghệ thuật

Nhà văn Lỗ Tấn (1881 - 1936, Trung Quốc) đã nửa chừng bỏ học ngành y tại Nhật khi ông nhận thức ra rằng, tại cố quốc của ông người ta còn dùng “bánh bao tẩm máu người để chữa bệnh lao”. Lỗ Tấn đã rẽ sang con đường văn nghệ và dùng văn chương để góp phần thức tỉnh những u tối mà xã hội Trung Quốc thời ông sống đang đè nặng lên đời sống mọi con người.

Theo Lỗ Tấn, bệnh tật về thân xác hay về tâm hồn, trí tuệ của con người đều là những căn bệnh cần phải được chữa lành.

Hiện nay, ở ta có rất nhiều bác sĩ kiêm nghệ sĩ và ngược lại. Có sự gặp gỡ của hai nghề nghiệp này trong cùng một con người bởi vì họ luôn mong muốn tìm ra giải pháp để con người vừa khỏe thể chất vừa khỏe tâm hồn và trí tuệ.

Sinh thời, nhà thơ, nhạc sĩ, bác sĩ Trương Thìn (1940 - 2012), quan niệm: “Sức khỏe của cơ thể là do “trời ban”, có người được trời “ban nhiều” nên cả đời không bệnh đau, có người “được ban ít” nên bệnh tật liên miên. Bệnh của cơ thể không đáng ngại bằng bệnh tật tâm hồn, muốn chữa bệnh trong tâm hồn không liều thuốc nào bằng nghệ thuật. Chính nghệ thuật làm cho tuổi thọ kiếp người được tăng thêm, đời sống kiếp người phong phú hơn.


Lỗ Tấn dùng văn chương để góp phần thức tỉnh những u tối của xã hội

Hiểu một nghĩa nào đó, cái đẹp của nghệ thuật làm cho con người sống ý nghĩa hơn, nhiều trường hợp bất tử”. Ông là người đã áp dụng phương pháp chữa bệnh bằng nghệ thuật.

Mong muốn giúp con người khỏe cả về thân xác và tinh thần luôn được nhiều nghệ sĩ kiêm bác sĩ ấp ủ, thực hiện. Nhà thơ, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọccho rằng: “Thể xác với tâm hồn là một cặp “song sinh” không thể tách rời. Người ta hay chúc nhau: “Thân tâm thường an lạc” là vậy!

Người làm thơ luôn có một tâm hồn rất nhạy cảm, đau được nỗi đau của người, khổ được nỗi khổ của người. Nên trong nghề y, có một tâm hồn nhân bản là rất cần thiết. Vì thế các đại học y lớn trên thế giới luôn buộc sinh viên y khoa năm đầu phải học một số tác phẩm tiểu thuyết”.

Có thể nói, Lỗ Tấn, Trương Thìn, Đỗ Hồng Ngọc hay nhiều thầy thuốc kiêm nghệ sĩ khác, họ vừa thực hành chữa bệnh bằng y thuật hay nghệ thuật cho người bệnh quanh mình; đồng thời họ còn thấy lĩnh vực y học còn là chất liệu cho các trang viết.

***

Năm 1965, khi còn là sinh viên năm thứ 3 y khoa, Đỗ Hồng Ngọc (sinh năm 1940) đi thực tập đỡ đẻ tại Bệnh viện Từ Dũ. Và chính công việc này đã tạo cảm xúc cho Đỗ Hồng Ngọc viết: “… Khi anh cắt rún cho em / Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé / Vì từ nay em đã phải cô đơn / Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ... ” - bài thơ “Thư cho bé sơ sinh”.

Lỗ Tấn, Trương Thìn, Đỗ Hồng Ngọc là những người từng học, từng hành nghề y, có cảm xúc rất mạnh để chuyển sở học và công việc khám chữa bệnh thành tác phẩm nghệ thuật. Những người làm nghề y luôn có cảm xúc như thế, thiết nghĩ vấn đề y đức luôn được họ coi trọng.

Bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, cho rằng: “Người thầy thuốc dù ngày xưa được coi là quan đốc, đại phu hay ngày nay được coi là người cung cấp “dịch vụ chăm sóc sức khỏe” gì gì đi nữa thì cũng phải luôn đứng trước lương tâm chức nghiệp của mình. Người thầy thuốc gồm có cả ba: Người + Thầy + Thuốc. Người thì có “nhân đạo”. Thầy thì có “nhân đức”. Thuốc thì có “nhân thuật”. Nhân đạo, nhân đức, nhân thuật hợp lại mới thành cái gọi là… “y đức”. Không có nhân đạo, nhân đức thì còn lâu mới có y đức.

Cho nên y đức là chuyện không dễ. Không chỉ được đào tạo, dạy dỗ ở trường Y mà phải “gieo trồng” từ hồi niên thiếu, từ trong gia đình, từ môi trường xã hội. Khi ra trường, hành nghề, còn bị ràng buộc bởi Nghĩa vụ luận y khoa (Déontologie médicale), được “quản lý” bởi một đoàn thể nghề nghiệp. Còn nghệ thuật tự nó là cái “chân”, cái “thiện”, cái “mỹ”. Y đức cũng chính là chân - thiện - mỹ đó vậy”.

Thanh Kiều
Thể thao & Văn hóa

Đọc lại 'Giết con chim nhại': Tiếng hót bền bỉ của lương tâm con người

Đọc lại 'Giết con chim nhại': Tiếng hót bền bỉ của lương tâm con người

Gần như suốt sự nghiệp cầm bút của mình, nhà văn Harper Lee chỉ viết có một cuốn tiểu thuyết duy nhất. Một quyển sách nhưng có khả năng đánh thức lương tâm loài người và tỏa sức sống mãnh liệt sau nửa thế kỷ xuất bản.

Như Báo Thể thao và Văn hóa đã đưa tin, nhà văn Harper Lee, tác giả của tiểu thuyết vĩ đại Giết con chim nhại đã qua đời cuối tuần trước (hôm 19/2) tại Mỹ, thọ 89 tuổi. Xung quanh cuộc đời và tác phẩm bất hủ của bà vẫn còn vô số những bí ẩn.

Món quà cuộc đời

Tác giả Giết con chim nhại tên đầy đủ là Nelle Harper Lee, sinh ngày 28/4/1926 tại Monroeville, bang Alabama, Mỹ. Bà là con út trong gia đình có bốn con. Mẹ bà là Amasa Coleman Lee, một phụ nữ nội trợ mất khi tác giả 25 tuổi còn cha là Frances Cunningham, từng là biên tập viên và làm việc cho cơ quan lập pháp Alabama trong giai đoạn từ 1926 – 1938.

Ông Cunningham chính là nguyên mẫu của nhân vật Atticus Finch trongGiết con chim nhại. Năm 1919, ông cũng đứng ra bảo vệ cho hai cha con da đen, bị buộc tội giết người thủ kho da trắng. Trớ trêu thay, hai người này sau đó vẫn bị buộc tội và là những người cuối cùng bị treo cổ ở Alabama.


"Có một thứ không tuân theo nguyên tắc số đông, đó là lương tâm con người”

Ông Cunningham sau đó không làm luật sư nữa. Giống như gia đình Finch, nhà Lee cũng có một quản gia da đen hàng ngày tới nấu nướng, dọn dẹp.

Khi theo học tại trường trung học Monreo, Lee đã quan tâm tới văn học Anh. Tuy nhiên sau đó cô theo học luật tại Đại học Alabama. Chưa lấy bằng luật, cô đã sang Anh một mùa Hè rồi quay lại New York làm nhân viên cho một hãng hàng không.

Chính tại đây, Lee bắt đầu những sáng tác đầu tiên và được khuyên nghỉ việc để tập trung vào viết lách. Lee khi đó chỉ là một cô gái trẻ sống giữa New York, chẳng có gì nhiều nhặn ngoài nỗi nhớ quê hương. Nhưng thật may mắn, đúng vào lúc cô đang phân vân giữa ngưỡng cửa văn chương thì hai bạn thân đã tặng cô một món quà giáng sinh vô giá: Một khoản tiền để cô có thể yên tâm tập trung vào viết lách. Lee rụt rè từ chối nhưng chính sự tin tưởng của hai người bạn đã giúp cô tự tin nhận lấy món quà của đời và sau đó, trả lại một món quà lớn hơn.

Câu chuyện về lương tâm con người

Harper Lee mất hai năm rưỡi để cho ra mắt Giết con chim nhại vào ngày 11/7/1960. Khi đưa bản thảo cho nhóm biên tập ở Lippincott, họ đã nói với Lee rằng cuốn sách may ra có thể bán được vài ngàn bản.

Nữ nhà văn trẻ không quá hy vọng vào sự thành công của tác phẩm nhưng cũng mong nó “không chết yểu bởi các nhà phê bình”. Nhưng trái lại, cuốn sách mang lại thành công vượt mọi kỳ vọng của mọi người.Giết con chim nhại được độc giả đón nhận nồng nhiệt và giành giải Pulitzer ngay năm 1961.

Giết con chim nhại là một cuốn sách nhẹ nhàng, được viết chủ yếu thông qua cái nhìn của Scout Finch, một cô bé nghịch ngợm chuẩn bị đi học. Không màu mè chiêu trò, tác phẩm của Lee chinh phục người đọc bởi một nguyên tắc đơn giản: lương tâm con người. Các tình tiết trong cuốn sách có nhiều điểm tương đồng với cuộc sống của nhà văn, nên có thể nói, đó chính là khúc hót từ tận sâu tâm hồn của nhà văn dành tặng cho cuộc đời.

Người dẫn truyện là cô bé nghịch ngợm Scout; tuy nhiên, nhân vật có sức lan tỏa, để lại nhiều giá trị nhất là bố của bé, luật sư Atticus. Trong bối cảnh là miền nam nước Mỹ những năm 1930, khi nạn phân biệt chủng tộc vẫn bám sâu vào đầu óc người dân, ông Atticus hiện lên là người rất tiến bộ. Cũng như bố của nhà văn, ông Atticus không ngần ngại đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người da đen. 

Nhưng trên tất cả, cái khiến người đọc nhớ tới ông là một người cha tuyệt vời. Atticus được bình chọn là người cha vĩ đại nhất trong tiểu thuyết. Ông luôn dạy con sống với lương tâm của chính mình, thân ái, bao dung độ lượng và có niềm tin vào con người.

Các vấn đề “nhạy cảm” của miền Nam nước Mỹ khi đó cũng đều được tác giả đưa vào như nạn phân biệt chủng tộc, sự bất cập của hệ thống giao dục, tư pháp…  Tất cả được Lee chuyển tải nhẹ nhàng thông qua nghệ thuật kể chuyện bậc thầy, đan xen giữa lời kể của một đứa trẻ với hồi tưởng của người phụ nữ khi trưởng thành, khiến người đọc cảm thấy dễ tiếp cận.

Harper Lee cũng vô cùng tài năng khi xây dựng nhiều tuyến nhân vật khác biệt về tầng lớp, màu da, giới tính, tuổi tác, tính cách; để rồi đưa họ hòa chung một mối thông qua lương tâm con người.

Thư Vĩ
Thể thao & Văn hóa

Tại sao văn học?

Tại sao văn học?

 

Rất nhiều lần, tại các hội chợ sách hay các hiệu sách, tôi gặp cảnh một quý ông đến bên tôi xin chữ ký. “Đây là xin cho vợ tôi, cho con gái tôi, cho mẹ tôi”, ông ta nói. “Vợ tôi rất thích đọc sách và yêu văn học”. Nghe thế lập tức tôi hỏi: “Thế còn ông thì sao? Chẳng lẽ ông không thích đọc sao?” Câu trả lời luôn là như nhau: “Tất nhiên, tôi thích đọc chứ, nhưng tôi bận bịu lắm”.

Tôi đã nghe lời giải thích này hàng chục lần: người đàn ông ấy và hàng nghìn người khác giống ông ta có rất nhiều việc quan trọng phải làm, có rất nhiều bổn phận, rất nhiều trách nhiệm trong cuộc sống, đến mức mà họ không thể bỏ ra được chút thời gian quý báu của mình để vùi đầu vào một cuốn tiểu thuyết, một tập thơ, hay một tập tiểu luận phê bình lấy vài giờ. Theo như lập luận phổ biến này thì văn học là một hoạt động có cũng được mà không cũng xong, hiển nhiên là nó cao quý và hữu ích cho việc vun đắp cảm xúc đẹp và hành vi tốt, nhưng chủ yếu nó là thứ tiêu khiển, giải trí, là thứ trang điểm mà chỉ những ai nhàn rỗi mới dùng đến. Đại để văn học cũng giống như thể thao, phim ảnh, cờ bài; nó có thể bị thí bỏ một cách không phân vân khi người ta cần “ưu tiên” cho những nhiệm vụ và bổn phận thiết yếu trong cuộc đấu tranh sinh tồn.

Có vẻ như, văn học ngày càng trở nên là hoạt động của phái nữ. Trong các hiệu sách, tại các hội nghị, hay tại các cuộc đọc truyện của các nhà văn, và thậm chí tại các khoa nhân văn trong trường đại học, phụ nữ rõ ràng là lấn át đàn ông về số lượng. Lý do hay được đưa ra là phụ nữ tầng lớp trung lưu đọc nhiều hơn vì họ làm việc ít giờ hơn nam giới và vì vậy nhiều người trong số họ cảm thấy họ có thể biện minh cho việc dành thời gian cho chuyện văn chương thơ phú dễ hơn đàn ông. Tôi thấy ác cảm với cách giải thích chia đàn ông và đàn bà ra thành hai phạm trù lạnh lùng và gán cho mỗi phái những ưu khuyết điểm của họ; nhưng không nghi ngờ gì là ngày càng có ít người đọc sách văn học và trong số độc giả còn lại thì phụ nữ là chiếm ưu thế.

Trường hợp này xảy ra hầu như ở khắp nơi. Tại Tây Ban Nha chẳng hạn, theo một điều tra mới đây do Tổng hội nhà văn Tây Ban Nha thực hiện thì một nửa dân số trong nước không bao giờ đọc một quyển sách. Cuộc điều tra cũng cho thấy trong thiểu số có đọc thì số phụ nữ đọc sách vượt quá số đàn ông là 6,2%, một tỷ lệ có vẻ như ngày càng tăng lên. Tôi mừng cho những phụ nữ đó, nhưng tôi lại thấy tiếc cho những đàn ông đó, và cho hàng triệu người có thể đọc sách nhưng lại quyết định không đọc.

Họ khiến tôi thương hại không chỉ vì họ không biết được thú vui họ đã bỏ lỡ, mà còn vì tôi tin rằng một xã hội không có văn học, hay một xã hội trong đó văn học bị đẩy sang bên lề cuộc sống xã hội và cá nhân, như một thói tật phải giấu kín, và bị biến thành như sự tôn thờ của một giáo phái, là một xã hội bị kết án trở nên man rợ về mặt tinh thần, và thậm chí là gây nguy hiểm cho sự tự do của nó. Tôi muốn đưa ra một vài lập luận chống lại ý tưởng xem văn học là một việc tiêu khiển thời gian xa xỉ, và để bênh vực cho quan điểm xem nó như là một sự khai tâm quan trọng và thiết yếu nhất, một hoạt động không thể thay thế để đào luyện các công dân trong một xã hội hiện đại và dân chủ, một xã hội của những cá nhân tự do.

Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên chuyên môn hóa tri thức, nhờ sự phát triển phi thường của khoa học và công nghệ và nhờ sự phân mảnh của tri thức ra thành vô số phân ngành khác nhau. Xu hướng văn hóa này, có lẽ, sẽ được chờ đợi tập trung vào những năm tới. Chắc chắn, sự chuyên môn hóa mang lại nhiều lợi ích. Nó cho phép khai thác sâu hơn và thực nghiệm lớn hơn. Nhưng nó cũng có những hậu quả tiêu cực, vì nó loại trừ những đặc điểm chung về trí tuệ và văn hóa cho phép đàn ông và phụ nữ cùng tồn tại, cùng giao tiếp, cùng cảm thấy có tình đoàn kết. Sự chuyên môn hóa dẫn tới sự thiếu hiểu biết xã hội, sự phân chia con người thành ra những khu biệt lập của giới kỹ sư và giới chuyên gia. Sự chuyên môn hóa tri thức đòi hỏi những ngôn ngữ chuyên biệt hóa và những bộ mã ngày càng bí thuật vì thông tin ngày càng trở nên chuyên biệt và phân ngành. Đây là chủ nghĩa phân lập và sự phân chia mà một câu ngạn ngữ đã cảnh báo chúng ta: chớ nhìn lá mà quên cây, nhìn cây mà quên rừng. Biết có rừng sẽ tạo ra cảm giác chung, cảm giác thuộc về, chúng gắn kết xã hội lại với nhau, ngăn nó khỏi tan ra thành vô số những phân mảnh duy ngã. Chủ nghĩa duy ngã của các dân tộc và các cá nhân sinh ra chứng hoang tưởng và mê sảng, làm sai lệch hiện thực, từ đó gây nên sự hận thù, chiến tranh, và thậm chí là diệt chủng.

Ngày nay, khoa học và công nghệ không thể đóng vai trò hợp nhất, chính bởi vì tri thức quá phong phú và tốc độ tiến triển của nó quá nhanh chóng, dẫn đến sự chuyên môn hóa sâu trở nên mờ mịt, khó hiểu. Nhưng văn học đang là, và sẽ vẫn là, chừng nào nó còn tồn tại, một mẫu số chung của kinh nghiệm con người, qua đó mọi người có thể nhận biết bản thân và giao tiếp với nhau, dù khác nhau về nghề nghiệp và hướng sống, về địa lý và văn hóa, về hoàn cảnh cá nhân. Có những cá nhân có quyền phép vượt qua được lịch sử, dù cuộc đời họ rất khác nhau: với tư cách là độc giả của Cervantes, Shakespeare, Dante, Tolstoy, chúng ta hiểu nhau băng qua không gian và thời gian, và chúng ta cảm thấy mình là thành viên của cùng một giống loài, đọc những tác phẩm các nhà văn viết ra, chúng ta học được điều chúng ta chia sẻ với tư cách những con người, điều chung trong tất cả chúng ta dù cho có rất nhiều những sự khác biệt tách rời chúng ta. Không gì bảo vệ con người chống lại thiên kiến ngu ngốc, tệ phân biệt chủng tộc, thói bè phái tôn giáo hay chính trị, và chủ nghĩa quốc gia thái quá tốt hơn cái sự thật luôn có trong một nền văn học lớn: đó là đàn ông và đàn bà của mọi dân tộc và mọi nơi chốn đều bình đẳng, và chỉ có sự bất công mới gieo rắc ở họ sự phân biệt đối xử, nỗi sợ, và sự bóc lột.

Không gì tốt hơn văn học dạy chúng ta biết nhìn thấy, qua những khác biệt tộc người và văn hóa, di sản phong phú của loài người và biết quý trọng những khác biệt đó như là biểu hiện sự sáng tạo nhiều mặt của nhân loại. Đọc một thứ văn hay là một trải nghiệm thích thú, cố nhiên; nhưng đó còn là trải nghiệm học hỏi chúng ta là ai và thế nào, trong sự toàn vẹn cũng như sự chưa hoàn hảo của con người mình, với những hành động, những ước mơ, những linh hồn của chúng ta, khi một mình cũng như khi trong những quan hệ nối chúng ta với những người khác, trong hình ảnh trước công chúng và tận sâu trong thâm tâm.

Tổng số phức hợp của những sự thật trái ngược này – như Isaiah Berlin gọi chúng – tạo nên chính bản chất của phận người. Trong thế giới ngày nay, tri thức mang tính toàn thể và sống động như vậy về con người chỉ có thể tìm thấy ở văn học. Thậm chí không một bộ môn nào khác của khoa nhân văn – không phải là triết học, sử học hay nghệ thuật, và chắc chắn không phải là các khoa học xã hội – có khả năng giữ được cái nhìn toàn vẹn đó, diễn ngôn phổ quát đó. Các khoa học nhân văn đã chịu thua trước sự phân chia và chia nhỏ tri thức, biệt lập mình ra thành những khu vực kỹ thuật ngày càng chia cắt mà ý tưởng và từ ngữ của chúng nằm ngoài tầm với của phụ nữ và đàn ông. Một số nhà phê bình và nhà lý thuyết thậm chí còn định biến văn học thành khoa học. Nhưng ý muốn đó không bao giờ xảy ra, bởi vì văn học không tồn tại để nghiên cứu chỉ một khu vực kinh nghiệm đơn lẻ. Nó tồn tại để thông qua trí tưởng tượng làm phong phú thêm cho toàn bộ cuộc sống con người, một cuộc sống không thể chia cắt, chặt khúc, hay quy về những chuỗi sơ đồ hoặc công thức mà không biến mất. Đây là ý nghĩa câu Proust nói: “Cuộc sống thực, cuối cùng đã soi sáng và phơi bày, cuộc sống duy nhất đã sống đầy đủ, là văn học”. Ông nói thế không phải là cường điệu, cũng không phải chỉ để nói tình yêu đối với thiên chức của mình. Ông đưa ra một ý kiến cụ thể rằng là nhờ văn học mà cuộc sống được hiểu rõ hơn và được sống tốt hơn; và rằng cuộc sống đang sống đòi hỏi phải sống nó đầy đủ hơn nữa và phải chia sẻ nó với những người khác.

Mối liên kết anh em mà văn học thiết lập giữa các con người giúp họ đối thoại với nhau, làm cho họ ý thức được nguồn gốc chung và mục đích chung, xuyên qua mọi rào chắn thời gian. Văn học mang chúng ta vào quá khứ và nối chúng ta với những người ở những thời trước đã mơ mộng, đã buồn vui qua những tác phẩm còn đến với chúng ta nay, những tác phẩm vẫn còn khiến chúng ta vui buồn, mơ mộng. Cái cảm giác thấy mình là thành viên của cả khối nhân loại đã sống qua thời gian và không gian là thành tựu cao nhất của văn hóa, và không gì làm nó sống lại ở mỗi thế hệ hơn là văn học.

Borges luôn bực tức mỗi khi ai hỏi ông: “Văn học thì có ích gì?” Ông cho đó là câu hỏi ngu ngốc và đáp lại: “Không ai hỏi tiếng hót chim hoàng yến hay cảnh ráng chiều hoàng hôn là có ích gì cả”. Nếu những sự đẹp đẽ là tồn tại, và nếu nhờ chúng cuộc sống trở nên bớt xấu xí và bớt buồn bã hơn, dù chỉ trong chốc lát, thì cần chi phải hỏi chúng có ích gì? Nhưng câu hỏi này là một câu hỏi hay. Vì những cuốn tiểu thuyết và những bài thơ không giống tiếng chim hót hay cảnh mặt trời lặn xuống chân trời, do chúng không phải được tạo nên bởi ngẫu nhiên hay thiên nhiên. Chúng là những sáng tạo của con người, nên hỏi vì sao và bằng cách nào chúng đi được vào thế giới, chúng nhằm mục đích gì, và vì sao chúng sống được lâu thế, là câu hỏi hợp lẽ.

Các tác phẩm văn học ra đời như những bóng ma vô hình vô ảnh trong tâm não nhà văn, khi nhà văn xây đắp nó bằng sức mạnh của vô thức, sự cảm nhận thế giới và cảm xúc kết hợp lại; đó là cái mà nhà thơ hay nhà văn vật lộn với ngôn từ để dần dần cấp cho chúng hình thức, cơ thể, chuyển động, nhịp điệu, hòa điệu, và cuộc sống. Một cuộc sống nhân tạo, hẳn nhiên, một cuộc sống được tưởng tượng ra, một cuộc sống làm bằng ngôn ngữ – thế nhưng đàn ông và phụ nữ lại tìm kiếm cuộc sống nhân tạo này, người thì thường xuyên người thì đôi khi, bởi vì cuộc sống thực đối với họ là ngắn ngủi, không thể đưa lại cho họ những điều họ muốn. Văn học không phải bắt đầu qua tác phẩm của một cá nhân riêng lẻ. Nó tồn tại chỉ khi được những người khác chấp nhận và trở thành một phần của đời sống xã hội – khi nhờ việc đọc mà nó trở thành kinh nghiệm được chia sẻ.

Một trong những hiệu quả tốt đẹp đầu tiên là ở cấp độ ngôn ngữ. Một cộng đồng không có văn học viết sẽ tự biểu hiện mình ít chính xác, ít sắc thái phong phú, ít rõ ràng hơn một cộng đồng có công cụ giao tiếp chính, từ ngữ, được bồi đắp và hoàn thiện qua các tác phẩm văn học, Một cộng đồng không đọc sách, không sờ tới văn học là một cộng đồng câm điếc và bị mắc chứng mất ngôn ngữ, bị vấp phải những vấn đề khủng khiếp trong giao tiếp do ngôn ngữ sống sượng, thô sơ. Điều này cũng đúng cho các cá nhân. Một người không đọc sách, hay đọc ít, hay chỉ đọc lớt phớt, là một người bị trở ngại: hắn có thể nói rất nhiều những chẳng nói được bao nhiêu, bởi vì vốn từ của hắn không đủ để thể hiện bản thân.

Đây không chỉ là hạn chế về từ ngữ. Nó còn cho thấy sự hạn chế về trí tuệ và óc tưởng tượng. Đó là sự nghèo nàn của tư duy, vì lý do đơn giản là những tư tưởng, những quan niệm ta dùng để nắm bắt những bí ẩn của thân phận chúng ta không tồn tại ngoài ngôn từ. Chúng ta học được cách nói chính xác, sâu sắc, chặt chẽ, tinh tế là nhờ có thứ văn học tốt, và chỉ nhờ có thứ văn học tốt. Không bộ môn hay phân ngành nghệ thuật nào khác có thể thay thế văn học trong việc trau chuốt ngôn ngữ mà mọi người cần đến để giao tiếp. Biết nói năng lưu loát, biết tùy ý sử dụng từ ngữ phong phú và đa dạng, biết tìm ra cách nói phù hợp cho mỗi ý tưởng và mỗi cảm xúc ta muốn truyền đạt, là cách chuẩn bị tốt nhất cho suy nghĩ, giảng dạy, học tập, trò chuyện, cũng như cho tưởng tượng, mơ mộng, cảm nhận. Từ ngữ sẽ tác động ngầm trở lại trong mọi hành động của chúng ta, ngay cả trong những hành động tưởng như rất xa ngôn ngữ. Và vì ngôn ngữ phát triển nhờ văn học mà trở nên tinh tế, trau chuốt, nên nó càng làm tăng thêm khả năng vui thích của con người.

Văn học thậm chí còn nâng tình yêu, khoái cảm và hành động tình dục lên địa vị sáng tạo nghệ thuật. Không có văn học, sắc dục (eroticism) sẽ không tồn tại. Tình yêu và khoái cảm sẽ nghèo nàn đi, chúng sẽ thiếu mất sự duyên dáng, tế nhị, chúng sẽ không có được cường độ mạnh mẽ do văn học đưa lại. Sẽ là không ngoa khi nói rằng những người đã đọc Garcilaso, Petrarch, Gongora, hay Baudelaire sẽ quý trọng khoái cảm và hưởng thụ khoái cảm nhiều hơn là những người thất học bị các bộ phim truyền hình rẻ tiền biến thành lũ ngốc. Trong một thế giới vô học, tình yêu và ham muốn không khác gì những thứ thỏa mãn loài vật, cũng như chúng không thể vượt quá được sự thực hiện những bản năng sơ đẳng.

Các phương tiện truyền thông nghe nhìn được trang bị đầy đủ cũng không thể thay được văn học trong việc dạy cho con người biết cách sử dụng chắc chắn, thành thục các khả năng hết sức phong phú của ngôn ngữ. Ngược lại, các phương tiện truyền thông nghe nhìn có xu hướng gạt từ ngữ xuống hàng hai để ưu tiên cho hình ảnh, đó mới là ngôn ngữ hàng đầu của các phương tiện này, và thu hẹp ngôn ngữ vào tiếng nói, dạng tồn tại tối thiểu không thể thiếu của nó, tách xa dạng viết. Nhận xét một bộ phim hay một chương trình truyền hình có “tính văn” là cách lịch sự để nói rằng cái đó chán. Vì lý do này, các chương trình văn học trên truyền thanh và truyền hình ít khi thu hút được công chúng. Theo như tôi biết, ngoại lệ duy nhất là chương trình Apostrophes của Bernard Pivot ở Pháp. Và điều này dẫn tôi tới ý nghĩ là văn học không chỉ hết sức cần thiết để có hiểu biết đầy đủ và nắm được thành thạo ngôn ngữ, mà số phận của nó còn là gắn chặt, không thể chia cắt, với số phận của sách, cái sản phẩm công nghiệp mà hiện nay nhiều người cho là đã lỗi thời.

Chuyện này khiến tôi nghĩ tới Bill Gates. Ông mới đến Madrid cách đây không lâu và đã tới thăm Viện Hàn lâm hoàng gia Tây Ban Nha, cơ quan liên doanh với Microsoft. Trong bài phát biểu của mình tại đây, Gates có đoan chắc với các thành viên Viện Hàn lâm rằng ông bảo đảm với tư cách cá nhân là chữ cái “ñ” sẽ không bao giờ bị loại ra khỏi phần mềm máy tính – một lời hứa cho phép bốn trăm triệu người nói tiếng TBN trên năm lục địa thở phào, vì việc xóa bỏ một chữ cái quan trọng như thế ra khỏi không gian ảo sẽ gây nên một vấn đề lớn. Tuy nhiên, ngay lập tức sau khi có sự nhượng bộ tử tế này đối với tiếng TBN, thậm chí là trước khi rời khỏi trụ sở của Viện Hàn lâm, Gates đã công khai thú nhận tại cuộc họp báo rằng ông mong muốn hoàn thành mục tiêu cao nhất của mình trước khi chết. Mục tiêu đó, ông nói, là đặt dấu chấm hết cho giấy và rồi cho sách.

Theo suy luận của ông, sách là vật đã lỗi thời. Gates cho rằng màn hình máy tính có khả năng thay cho giấy trong tất cả các chức năng mà giấy thực hiện từ trước cho tới nay. Ông cũng nhấn mạnh, ngoài chuyện là ít nặng nề, máy tính còn chiếm ít không gian, dễ mang đi; thêm nữa, việc truyền tin tức và văn học qua truyền thông điện tử, thay vì bằng sách báo, sẽ mang lại lợi ích sinh thái do ngừng việc phá rừng, một thảm họa do ngành công nghiệp giấy gây ra. Người ta vẫn tiếp tục đọc, Gates an ủi cử tọa, nhưng họ sẽ đọc trên các màn hình máy tính và do vậy môi trường sẽ có nhiều thêm chất diệp lục.

Tôi không trực tiếp nghe Gates nói, chỉ đọc tin trên báo. Nếu tôi có mặt tại đấy chắc tôi sẽ la ó Gates vì đã tuyên bố không chút xấu hổ ý định đẩy tôi và các đồng nghiệp của tôi, những người viết sách, vào đội quân thất nghiệp. Và tôi sẽ tranh cãi kịch liệt với ông. Liệu màn hình có thực sự thay được sách trong tất cả các phương diện không? Tôi không chắc là thế. Tôi hoàn toàn ý thức được cuộc cách mạng to lớn mà các công nghệ mới như Internet đã tạo ra trong các lĩnh vực truyền thông và chia sẻ thông tin, tôi thừa nhận là Internet đã giúp đỡ vô giá cho tôi trong công việc hàng ngày; nhưng sự biết ơn của tôi đối với các tiện nghi đó không hàm chứa niềm tin là màn hình máy tính có thể thay thế tờ giấy, hay việc đọc trên máy tính có thể thay cho đọc sách. Đây là cái hố sâu mà tôi không thể vượt qua. Tôi không thể chấp nhận ý tưởng cho rằng hành động đọc không mang tính thực dụng hay tính công việc, đọc không để tìm kiếm thông tin hay tìm kiếm sự giao tiếp có ích và tức thời, đọc chỉ để vui với những mơ mộng và thích thú từ các con chữ, trên màn hình máy tính cũng có được cảm giác thầm kín, có được sự tập trung đầu óc hay sự tĩnh lặng tâm hồn như khi cầm một cuốn sách lên đọc.

Có lẽ thiên kiến này là do thiếu thực tiễn, và do cách nghĩ lâu nay gắn văn học với sách và giấy. Nhưng thậm chí dù cho tôi thích lướt Web để đọc tin thế giới thì tôi sẽ vẫn không bao giờ mở màn hình để đọc một bài thơ của Gongora hay một tiểu thuyết của Onetti hay một tiểu luận của Paz, bởi vì tôi tin chắc rằng hiệu quả của việc đọc như thế sẽ không giống nhau. Tôi tin rằng, dù tôi không thể chứng minh được, khi sách biến mất, văn học sẽ bị giáng một đòn mạnh, thậm chí là đòn chí tử. Thuật ngữ “văn học” sẽ không biến mất, hẳn nhiên. Nhưng gần như chắc chắn là nó sẽ được dùng để chỉ một kiểu văn bản khác với cái chúng ta hiểu là văn học hiện nay, giống như “opera xà phòng” khác với các bi kịch của Sophocles và Shakespeare.

Còn một lý do khác để công nhận văn học có một vị trí quan trọng trong đời sống của các dân tộc. Thiếu nó, tư duy phê phán – động cơ thực sự của sự thay đổi lịch sử và là cái bảo vệ tốt nhất cho tự do, sẽ bị tổn thất không thể bù đắp được. Đấy là vì mọi thứ văn học tốt đều là cấp tiến, đặt ra những vấn đề cơ bản về thế giới ta sống. Mọi tác phẩm văn học vĩ đại đều có thiên hướng nổi loạn, điều này thường là nằm ngoài ý định của tác giả.

Văn học không nói gì với những người bằng lòng với số mệnh của mình, thỏa mãn với cuộc sống họ đang sống. Văn học là thức ăn của tinh thần nổi loạn, là nơi truyền bá thái độ không thỏa hiệp, là nơi trú ngụ cho những người có quá nhiều hay có quá ít trong cuộc sống. Người ta tìm đến văn học che chở khi bị bất hạnh cũng như khi bị thiếu thốn. Cưỡi con ngựa gầy Rocinante đi theo chàng kị sỹ cuối mùa trên những cánh đồng xứ La Mancha, giong buồm ra khơi trên lưng cá voi cùng với thuyền trưởng Ahab, uống thạch tín cùng với bà Bovary, biến thành côn trùng cùng với Gregor Samsa: đấy là mọi cách chúng ta bày ra để gạt bỏ mình khỏi những sai lầm và áp đặt của cuộc sống bất công này, một cuộc sống buộc chúng ta luôn phải trở nên giống nhau khi ta muốn là những người khác nhau, cũng như muốn thỏa mãn nhiều ham muốn ám ảnh ta.

Văn học làm nguôi ngoai sự không thỏa mãn này chỉ trong chốc lát – nhưng trong khoảnh khắc kỳ diệu đó, trong phút giây lơ lửng tạm thời đó của cuộc sống, ảo ảnh văn học nâng ta lên và đưa ta thoát ra ngoài lịch sử, và chúng ta trở thành công dân của một xứ sở vô thời gian và theo cách đó chúng ta là bất tử. Chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn, giàu có hơn, phức tạp hơn, hạnh phúc hơn và minh mẫn hơn chúng ta vốn có trong vòng quay nghiệt ngã của đời thường. Khi ta gấp sách lại và quên đi sự hư cấu văn học, ta trở lại cuộc sống hiện tại và so sánh nó với xứ sở huy hoàng mà ta vừa rời bỏ. Một nỗi thất vọng vô cùng ập đến chúng ta! Đồng thời ta cũng ngộ ra một điều lớn lao rằng thế giới tưởng tượng của tiểu thuyết là tốt hơn, đẹp hơn, đa dạng hơn, đầy đủ hơn và hoàn thiện hơn cuộc sống ta sống khi tỉnh thức, một cuộc sống bị quy định bởi những hạn chế và sự tẻ nhạt của thân phận chúng ta. Theo cách này, một thứ văn học tốt, thứ văn học đích thực luôn mang tính chất ngược ngạo, lật đổ, nổi loạn: đó là sự thách thức những gì đang tồn tại.

Làm sao chúng ta không cảm thấy bị lừa gạt sau khi đọc Chiến tranh và hòa bình, Đi tìm thời gian đã mất và trở lại cái thế giới tầm thường đang sống với những điều vụn vặt, những giới hạn và những điều cấm đoán nằm chờ khắp nơi, và cứ mỗi bước đi lại phá hỏng ảo ảnh của chúng ta? Thậm chí còn lớn hơn nhu cầu duy trì văn hóa và làm giàu ngôn ngữ, đóng góp lớn nhất của văn học cho sự tiến bộ của con người có lẽ là nhắc nhở ta (trong phần lớn trường hợp là không hề cố ý) rằng thế giới này bị tổ chức hỏng; rằng những người tỏ ra trái ngược, mạnh mẽ và hạnh phúc là giả bộ; rằng thế giới có thể được cải thiện, làm cho giống hơn với những thế giới mà đầu óc tưởng tượng và ngôn ngữ của chúng ta đã tạo ra. Một xã hội tự do và dân chủ cần phải có những công dân có trách nhiệm và có tinh thần phê phán, biết được nhu cầu liên tục xem xét thế giới ta đang sống và cố gắng, dù cho đây là một nhiệm vụ ngày càng bất khả thi, làm cho nó giống hơn nữa cái thế giới chúng ta muốn sống. Và không có phương tiện nào xúi giục sự bất hòa với tồn tại tốt hơn là đọc thứ văn học tốt; không có phương tiện nào tốt hơn tạo nên những công dân có tinh thần phê phán và độc lập, những người không bị các nhà cầm quyền thao túng, những người mang trong mình một ý chí linh hoạt và một tâm hồn rung động.

Tuy nhiên, nói văn học là phản kháng bởi vì nó làm cho độc giả thấy ra sự thiếu hoàn thiện của thế giới, không có nghĩa – như nhà thờ và chính quyền dường như nghĩ nó như vậy khi thiết lập sự kiểm duyệt – các tác phẩm văn học sẽ gây ra lập tức những bước ngoặt xã hội hay thúc đẩy các cuộc cách mạng. Hiệu quả xã hội và chính trị của một bài thơ, một vở kịch, một cuốn tiểu thuyết không thể đoán trước được bởi vì chúng không phải làm tập thể hay trải nghiệm tập thể. Chúng do các cá nhân làm ra và được các cá nhân đọc, mà có bao nhiêu cá nhân thì có bấy nhiêu kết luận được họ rút ra từ cái viết và cái đọc của mình. Vì vậy, rất khó, hay thậm chí là không thể, xác lập được những mô hình chính xác. Hơn thế, hiệu quả xã hội của một tác phẩm văn học lại ít liên quan với phẩm chất thẩm mỹ của họ. Cuốn tiểu thuyết xoàng của Harret Beecher Stowe (tác giả Túp lều bác Tôm – ND) dường như đã đóng vai trò quyết định trong việc khơi dậy ý thức xã hội và chính trị về nạn nô lệ khủng khiếp ở Mỹ. Việc hiệu quả của văn học khó xác định không hàm ý là chúng không có. Điều quan trọng là hiệu quả đấy thể hiện qua những hành động của các công dân được hình thành nhân cách một phần nhờ sách.

Thứ văn học tốt, trong khi tạm làm khuây nỗi bất an của ta thì thực ra lại làm tăng nó lên vì khơi dậy trong ta thái độ phê phán và không thỏa hiệp đối với cuộc sống. Thậm chí có thể nói văn học làm cho con người dường như bất hạnh hơn. Sống bất hòa, gây hấn với tồn tại, là tìm kiếm những điều không có, là tự kết án mình lao vào những trận đánh vô ích giống như đại tá Aureliano Buendía trong Trăm năm cô đơn chiến đấu mà biết chắc là sẽ mất hết. Tất cả những điều đó là đúng. Nhưng cũng là đúng rằng không có sự nổi loạn chống lại cái tầm thường, bẩn thỉu của cuộc sống, chúng ta sẽ vẫn sống trong trạng thái nguyên thủy, và lịch sử sẽ phải dừng lại. Cá nhân tự trị sẽ không có, khoa học và công nghệ sẽ không phát triển, các quyền con người sẽ không được ghi nhận, tự do sẽ không tồn tại. Tất cả những cái đó là nguồn gốc của nỗi bất hạnh, của những hành động phản kháng lại cuộc sống bị coi là thiếu hụt và không thể chịu đựng nổi. Vì tinh thần coi khinh cuộc sống như nó đang là – và những sự tìm kiếm cùng với cơn điên của Don Kihote do đọc các tiểu thuyết hiệp sĩ – nên văn học được coi như cái đinh thúc ngựa lớn.

Ta hãy thử lần lại lịch sử. Hãy hình dung một thế giới không có văn học, một nhân loại không đọc thơ văn. Trong một nền văn minh teo tóp kiểu như vậy, nơi ngôn ngữ kém phát triển, chỉ giống như những tiếng rên rỉ hay tiếng bắt chước, các cử chỉ phần nhiều thay cho ngôn từ, thì chắc chắn sẽ không có các tính từ. Những tính từ kiểu như bệnh Đông Ky Sốt, tính chất Kafka, tính chất Rabelaire, tính chất Orwell, bệnh ác dâm, bệnh bạo dâm, tất cả đều là từ văn học mà ra. Chắn chắn, chúng ta sẽ vẫn có những người điên rồ, những nạn nhân của chứng hoang tưởng và mặc cảm bị bức hại, những người thích khẩu vị khác thường và dư thừa thái quá, những động vật hai chân gây ra nỗi đau hay nhận lấy nỗi đau. Nhưng chúng ta sẽ không học được cách nhìn thấy, phía sau những hành vi thái quá bị những chuẩn mực văn hóa ngăn cấm ấy, những đặc điểm chính yếu của thân phận con người. Chúng ta sẽ không khám phá được những nét riêng của mình, như chỉ tài năng của Cervantes, Kafka, Rabelais, Orwell, de Sade, và Sacher-Masoch mới biết mở ra cho ta thấy.

Khi tiểu thuyết Don Kihote xứ Mancha xuất hiện, những độc giả đầu tiên, giống như tất cả các nhân vật trong sách, thấy lão hiệp sĩ điên rồ đó thật buồn cười. Hiện nay chúng ta biết việc caballero de la triste figura (lão hiệp sĩ mặt buồn) cứ khăng khăng coi cối xay gió là tên khổng lồ, cứ làm những việc dường như phi lý, thực ra đó là hình thức cao nhất của tính hào hiệp, và là cách chống lại sự khốn cùng của thế giới này với hy vọng thay đổi nó. Quan niệm của chúng ta về lý tưởng, về chủ nghĩa lý tưởng, với tất cả nội hàm đạo đức tích cực, sẽ không phải như chúng hiện có, sẽ không phải là những giá trị rõ ràng và đáng kính nếu như chúng không được thiên tài của Cervantes thể hiện qua một nhân vật đầy sức thuyết phục như vậy. Cũng có thể nói thế về một Đông Ky Sốt phụ nữ nhỏ hơn, thực tế hơn, đó là Emma Bovary, người đã hừng hực đấu tranh để được sống một cuộc sống huy hoàng của đam mê và xa hoa như trong những tiểu thuyết nàng đã đọc. Giống như con bướm, nàng đã lao vào ngọn lửa và bị chết cháy.

Những khám phá của tất cả các nhà sáng tạo văn học vĩ đại mở mắt cho ta thấy những phương diện chưa biết của thân phận chúng ta. Họ giúp ta có khả năng khai thác và thấu hiểu đầy đủ hơn cái hố thẳm chung của con người. Khi ta nói “tính chất Borges” thì cái từ đó lập tức gợi nên sự ngăn cách đầu óc ta với trật tự duy lý của thực tại và đi vào một vũ trụ tưởng tượng, một cấu trúc tinh thần nghiêm ngặt và thanh nhã, hầu như luôn là rối rắm và bí hiểm, đầy thách đố với những tham chiếu và ám gợi văn học, nhưng ta không thấy sự kỳ dị của nó là xa lạ vì ta nhận ra ở đó những ham muốn che giấu và những sự thật thầm kín của cá nhân ta được hiện hình chỉ nhờ vào sự sáng tạo văn học của Jorge Luis Borges. Cái từ “tính chất Kafka” đến trong đầu, giống như ống kính xếp nếp của máy ảnh kiểu cũ, mỗi khi ta cảm thấy mình là những cá nhân bị đe dọa, không được bảo vệ, trước sự đàn áp của những cỗ máy quyền lực gây ra nhiều đau khổ và bất công trong thế giới hiện đại – các chế độ độc tài, các đảng phái cầm quyền, các giáo hội khắc nghiệt, các hệ thống quan liêu ngột ngạt. Không có những truyện ngắn và tiểu thuyết do người đàn ông Do Thái bị dày vò, luôn sống đề phòng ở Praha viết ra bằng tiếng Đức này thì chúng ta không thể hiểu được cảm giác bất lực của một cá nhân bị biệt lập, hay nỗi khiếp sợ của những nhóm người bị truy bức và phân biệt đối xử, phải đương đầu với quyền lực bao trùm tất cả có thể đập tan họ ra từng mảnh và hủy diệt họ mà kẻ thừa hành thậm chí không cần ra mặt.

Tính từ “tính chất Orwell”, người bà con đầu tiên của “tính chất Kafka”, biểu thị một nỗi đau đớn khủng khiếp, một cảm giác phi lý cùng cực mà các chế độ độc tài toàn trị trong thế kỷ XX gây ra, đó là những chế độ độc tài chuyên chế tinh vi nhất, độc ác nhất lịch sử trong việc kiểm soát hành động và tâm lý của các thành viên xã hội. Trong tác phẩm1984 George Orwell mô tả một nhân loại chỉ còn là những cái bóng lạnh lùng nhan nhản khắp nơi lệ thuộc vào Anh Cả, một chúa tể độc tài đã kết hợp khủng bố và công nghệ để tiêu diệt tự do, tính tự nhiên và bình đẳng, biến xã hội thành một khối người máy. Trong cái thế giới ác mộng đó, ngôn ngữ cũng phải phục tùng quyền lực, bị biến thành một thứ “tiếng mới” lọc hết mọi sự phát kiến và chủ quan, trở nên chỉ còn là một chuỗi những âm thanh vô vị đủ để củng cố thân phận nô lệ của cá nhân vào hệ thống. Đúng là điều tiên tri đại họa của 1984 đã không xảy ra như dự tính, và chủ nghĩa cộng sản toàn trị ở Liên Xô cũng theo cách như chủ nghĩa phát xít toàn trị ở Đức và ở những nơi khác; ít lâu sau nó cũng bắt đầu xấu đi ở Trung Quốc, ở Cu Ba lỗi thời, và ở Bắc Hàn. Nhưng mối nguy hiểm không bao giờ biến mất hoàn toàn, cho nên cái từ “tính chất Orwell” vẫn tiếp tục mô tả mối nguy đó và giúp ta hiểu được nó.

Vì vậy những cái không hiện thực của văn học, những sự giả dối của văn học cũng là phương tiện quý báu để biết được phần lớn những thực tại bị che giấu của con người. Những sự thật mà nó phơi bày không phải bao giờ cũng là dễ chịu; đôi khi hình ảnh của chính chúng ta hiện ra trong tấm gương thơ văn là hình ảnh của quái vật. Điều này xảy đến khi chúng ta đọc những cảnh xác thịt nhầy nhụa do Sade nghĩ ra, hay những sự cào xé và hiến tế tàn bạo có đầy trong những cuốn sách đáng ghét của Sacher-Masoch và Bataille. Đôi khi quang cảnh kinh tởm và dã man đến mức nó trở nên không cưỡng lại được. Nhưng điều tệ nhất trong những trang sách đó không phải là máu, là sự sỉ nhục, là sự thích thú tra tấn một cách thấp hèn; điều tệ nhất là sự phát hiện ra rằng chứng bạo lực đó, chứng quá khích đó không hề xa lạ với chúng ta, rằng chúng là một phần sâu thẳm của bản tính người. Những con quái vật thèm khát lấn tới đó giấu mặt trong những góc sâu kín của thực thể chúng ta; và từ nơi tối tăm chúng sống chúng tìm dịp thuận tiện để hiện ra, để áp đặt quy tắc của sự ham muốn buông thả nhằm hủy diệt lý trí, cộng đồng và thậm chí sự tồn tại. Và không phải khoa học là kẻ đầu tiên thám hiểm vào những nơi âm u đó của đầu óc con người để phát hiện ra tiềm năng hủy diệt và tự hủy diệt của những nơi đó trong óc người. Chính văn học đưa lại những phát hiện này. Một thế giới không có văn học sẽ phần nào bị mù trước những tầng sâu khủng khiếp mà chúng ta rất cần phải thấy.

Man rợ, thấp kém, thiếu nhạy cảm tinh tế, ngu dốt và bản năng, trơ lỳ với đam mê và tình yêu, cái thế giới không văn học như vậy, cơn ác mộng mà tôi phác ra như vậy, sẽ có những đặc điểm chính là chủ nghĩa tuân phục và sự phục tùng toàn thể của loài người vào quyền lực. Theo nghĩa này, đây cũng là một thế giới thuần túy loài vật. Các bản năng gốc sẽ quyết định thực tế đời sống hàng ngày như vật lộn để sống sót, sợ hãi cái chưa biết, thỏa mãn những nhu cầu của cơ thể. Sẽ không có chỗ cho tinh thần. Hơn thế, trong thế giới đó, cuộc sống đơn điệu sẽ mang theo bóng tối của nỗi bi quan, của cảm giác đời người là thế rồi và luôn mãi thế, không ai và không cái gì có thể thay đổi được.

Khi hình dung ra một thế giới như vậy, người ta hay nghĩ đến những bộ tộc nguyên thủy còn đóng khố, những cộng đồng ma thuật-tôn giáo nhỏ sống bên lề xã hội hiện đại ở Mỹ Latin, châu Đại dương và châu Phi. Nhưng tôi nghĩ khác. Cơn ác mộng mà tôi nhắc nhở ở đây là kết quả không phải của sự phát triển thấp, mà là của sự phát triển cao. Do hậu quả của công nghệ và sự phụ thuộc của chúng ta vào nó, ta có thể hình dung xã hội tương lai đầy những màn hình máy tính và loa phóng thanh, chứ không hề có sách, hay một xã hội trong đó sách – cụ thể là các tác phẩm văn học – trở thành cái giống như thuật giả kim ở vào thời vật lý: một thứ kỳ dị có từ xưa, nay ở thời văn minh truyền thông được một số ít người điên điên khùng khùng đem ra chế tác lại trong các hầm tối. Tôi sợ là cái thế giới điều khiển học ấy, dù có thịnh vượng và mạnh mẽ đến đâu, dù tiêu chuẩn sống và thành tựu khoa học có cao đến đâu, cũng sẽ bị mọi rợ một cách sâu sắc và hoàn toàn vô hồn – một nhân loại cam chịu thành những người máy hậu văn học, bị khước từ tự do.

Tất nhiên, không chắc là bức tranh không tưởng rùng rợn này sẽ có lúc nào xảy ra. Kết cục của câu truyện chúng ta, kết cục của lịch sử, chưa được viết, và nó không được quyết định trước. Cái chúng ta muốn trở thành phụ thuộc hoàn toàn vào cách nhìn và ý chí của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta muốn tránh sự kiệt quệ của trí tưởng tượng, tránh sự biến mất của cảm giác bất an quý giá là cái tinh lọc cảm xúc chúng ta và dạy chúng ta biết nói hùng hồn, chính xác, tránh sự suy yếu của tự do, thì chúng ta phải hành động. Nói chính xác hơn, chúng ta phải đọc.

The New Republic, Issue Date: 05.14.01

(Nguồn: vanviet.info)

(Tác giả: Mario Vargas Llosa; Ngân Xuyên dịch)

Trịnh Công Sơn: Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của hiện tại

Trịnh Công Sơn: Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của hiện tại

Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên. Lãng quên những gì không cần thiết cho đời và cho chính bản thân mình.

Là nghệ sĩ và là một Phật tử, Trịnh Công Sơn có cách cảm nhận về Phật giáo của riêng mình. Theo cách cảm nhận đó, triết lý đạo Phật đã đi vào thế giới thanh âm và làm nên một trong những nét riêng của "dòng nhạc Trịnh". Nhớ về anh, NS GN xin trích lại những cảm tưởng đối với đạo Phật mà anh đã từng phát biểu.


Tôi là một Phật tử ở trong một gia đình có tôn giáo chính là Phật giáo. Từ những ngày còn trẻ, tôi đã đọc kinh và thuộc kinh Phật. Thuở bé tôi hay đến chùa vì thích sự yên tĩnh. Có những năm tháng nằm bệnh, đêm nào mẹ tôi cũng nhờ một thầy đến nhà tụng kinh cầu an và tôi thường đi vào giấc ngủ êm đềm giữa những câu kinh đó. Có thể vì một tuổi trẻ đã có cơ duyên đi qua những cổng nhà Phật nên trong vô thức, bên cạnh những di sản văn hoá Ðông Tây góp nhặt được, còn có lời kinh kệ vô tình nằm ở đấy.

Không hiểu sao, những năm gần đây tôi thường nghĩ về Phật giáo như một tôn giáo mang nhiều tính chất hiện sinh nhất. Bắt đầu bằng chữ sát na, một đơn vị thời gian siêu nhỏ. Phải biết sống hết mình trong mỗi sát na của thực tại. Từ mỗi cái ăn, cái uống, cái đi đứng, nằm ngồi. Không làm công việc này mà nghĩ đến công việc khác. Với tôi, đó cũng là Thiền, là một cách sống đích thực. Tôi vẫn tiếp tục thực tập cách sống như thế hàng ngày.

Tôi đang cố gắng quên Phật giáo như một tôn giáo. Tôi muốn đó là một thứ triết học siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người thuộc tôn giáo khác. Mỗi người phải nỗ lực để xây dựng cho bằng được một ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình và nuôi lớn Phật tính trong chính bản thân thành một tượng đài vững chắc. Nó sẽ giúp cho ta nhìn thế giới khác đi, nhìn cuộc sống khác đi.

Với tôi, Phật giáo là một triết học làm cho ta yêu đời hơn chứ không phải làm cho ta lãng quên cuộc sống.

… Tôi không quan niệm tìm đến với Phật mà là trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Ðó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật. Như một cơn lũ dũng mãnh đầy phù sa, mang theo trong nó những gì có thể nuôi dưỡng được cho một cõi "Ngộ" ra đời. "Thấy" và "Biết" và từ đó làm nảy sinh một nụ cười tủm tỉm, một thoáng cười "hàm tiếu" mà La Joconde của Léonard de Vinci mới có thể trong muôn một so sánh được. 

Cuối năm 1995, tôi có viết được một bài hát mà tôi rất thích và bạn bè ai cũng thích. Ðó là bài "Sóng về đâu". Bài này lấy cảm hứng từ câu kệ : "Gaté Gate. Paragaté. Parasmagaté. Bodhi svaha".

Tôi đang đi tìm một cách biểu hiện mới. Muốn vậy, khi sáng tác, tôi phải lãng quên hiện hữu này để đi vào một thực tại, một thực tại phiêu bồng, ở đó không có những xung đột trần tục của chữ nghĩa và những lý luận ngõ cụt không đâu.

Tôi đang tập hành Thiền về sự lãng quên. Lãng quên những gì không cần thiết cho đời và cho chính bản thân mình.

- Khải Thiên thực hiện -

Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn

Giới thiệu gần 4.000 đầu sách tại Hội chợ Sách quốc tế La Habana

Giới thiệu gần 4.000 đầu sách tại Hội chợ Sách quốc tế La Habana

Từ ngày 12-22/2, Hội chợ Sách quốc tế lần 25 của Cuba đã diễn ra tại thủ đô La Habana với khoảng 200 gian trưng bày sách của 37 quốc gia trên thế giới.



Năm nay, nước chủ nhà Cuba giới thiệu gần 4.000 đầu sách, trong đó có hơn 900 đầu sách mới, với hơn 4 triệu bản in.

Hội chợ thu hút hơn 70 nhà xuất bản từ các quốc gia tham dự, trong đó gần một nửa số nhà xuất bản có tác phẩm nói về Uruguay - quốc gia khách mời danh dự của hội chợ lần này.

Hội chợ Sách quốc tế La Habana, một trong những hội chợ sách lớn nhất Mỹ Latinh, luôn được coi là sự kiện xuất bản và sự kiện văn học lớn nhất trong năm của đảo quốc Caribe này. Năm nay, hội chợ tiếp tục đề cao câu danh ngôn ''Đọc là trưởng thành'' của anh hùng dân tộc Cuba và nhà tư tưởng vĩ đại José Martí.

Chương trình hội chợ cũng bao gồm nhiều hoạt động nghệ thuật trong nhiều lĩnh vực như hội họa, sân khấu, múa, điện ảnh, nghệ thuật tạo hình và âm nhạc.

Dù chỉ có dân số 11 triệu người, nhưng Cuba sở hữu một trong những nền văn học phong phú và có bề dày nhất trong số các nước nói tiếng Tây Ban Nha.

Đọc sách cũng là một thói quen phổ biến của người dân đảo quốc Caribe này, một trong những yếu tố giúp Cuba vẫn có được một nền khoa học tương đối phát triển bất chấp những khó khăn trong tiếp cận thông tin và công nghệ mới trên thế giới do lệnh cấm vận của Mỹ./.

Theo TTXVN

Thơ tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc ngày 17/2/1979

Thơ tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc ngày 17/2/1979

Nhà thơ Trần Nhuận Minh

TRẦN NHUẬN MINH

MỘT TRĂM BƯỚC CUỐI CÙNG

LỜI TÁC GIẢ: Tôi đi thực tế sáng tác suốt cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc từ năm 1978, nổ súng năm 1979 và rải rác kéo dài đến năm 1984Một chiều, cuối tháng 4. 1979, rất tình cờ, tôi được đọc trên báo Nhân Dân về một nữ công nhân lâm trường đã đưa giặc vào bãi mìn. Tôi rất xúc động viết luôn bài thơ dài này, tái hiện lại 100 bước cuối cùng trong một đời người, chị đã sống ra sao. Tác phẩm đã đăng báo và sau đó được in ở tập thơ Thành phố bên này sông (1982) (*). Tôi rất biết ơn báo Nhân Dân đã cho tôi tư liệu và nguồn xúc cảm để tôi hoàn thành tác phẩm này và tôi lưu lại đây như một kỷ niệm về một quãng đời làm thơ của mình, ở một thời điểm có một không hai của lịch sử đất nước trong thế kỉ XX.

T.N.M.

-----------------------

(*) Lấy tên một bài thơ đã được Tặng thưởng thơ năm 1979 của TC VNQĐ làm đầu đề

Tôi muốn gì ư?

Tôi muốn sống

Tôi muốn làm mẹ…

Cái giản dị tột cùng sao giờ khao khát thế

Nhưng tôi không có cách nào

99 BƯỚC

Thực ra thì tôi có cách đấy

Nếu tôi muốn cứu con tôi

Đứa con đang bắt đầu thành người

Nằm co trong bụng tôi như một con tôm

Búng vào sườn tôi như một con tôm

97 BƯỚC

Tôi sinh ra ở một làng quê

Có lũy tre xanh như bao làng quê khác

Tôi lớn lên đi học

Dở dang chưa qua được lớp 10

Một thế hệ đã vào đời như vậy đấy

Có thể nói cái gì cũng dở dang

Chỉ tuổi thanh xuân là nguyên vẹn

Hiến dâng cho Tổ Quốc

Tôi đã góp một bàn tay nhỏ

Mở con đường lớn Hồ Chí Minh

Ngang dọc Trường Sơn những năm

Gian khổ và hùng tráng

Tôi về lâm trường

Giữa lúc người Hoa chảy đi như một dòng lũ xối

Không sức nào cản được

91 BƯỚC

Tôi đếm từng bước chân

Không, tôi chỉ đoán chừng như vậy

Cái khoảng cách cuối cùng này

Xuyên qua đời tôi như một cây xương rồng gai

Cơ thể tôi cảm biết sâu sắc

Tất cả sự chà xát của nó

Cái khoảng cách cuối cùng này

Xuyên qua đời tôi

như một tia chớp giật

Tôi nhận ra mình hoàn toàn trong sạch

Tinh khôi như vừa sinh ra...

Tôi đã chọn cho mình một cách sống

Thì tôi cũng chọn cho mình một cách chết

Chọn cách chết nghĩa là chọn cách sống

Và tôi ngẩng cao đầu

Thanh thản

đi...

86 BƯỚC

Tôi đã tập, đã tập, đã tập

Không phải tập đi, mà tập nhìn

Để hiểu được những biến đổi rất nhanh

Của thời đại

Để tôi không chóng mặt

Khi nhìn vào ngôi sao đỏ lấp lánh

Hiện lên trên mũ kẻ thù

Đã nhiều năm đứng sát sau lưng chúng ta…

Ngôi sao đỏ tôi hằng tin yêu

Suốt những tháng năm tôi thơ ấu

Tuổi thơ ấu của tôi đã bị phản bội

Niềm tin yêu của tôi đã bị phản bội

Không nỗi đau nào giống nỗi đau nào

78 BƯỚC

Nhưng nỗi đau này của tôi

Cả dân tộc tôi đang phải chịu đựng

Không, dân tộc tôi không phải chỉ có chịu đựng

Dù chúng tôi đã tự kìm chế

Và nhận về mình một phần hy sinh

Chúng tôi đã khép lại một cuộc chiến tranh

Không muốn lại mở ra

Cuộc chiến tranh khác nữa

Chúng tôi muốn đất mọc lên cây lúa

Mặt sông mọc lên cây buồm

Còn tôi ư? Tôi muốn sinh con

Được bế bồng như bao người mẹ

Được bình thường như bao người mẹ

Được dịu ngọt và độ lượng như bao người mẹ

Chính vì thế, chúng tôi đã tự kìm chế

Dù...

69 BƯỚC

Tôi đếm từng bước chân

Không, tôi chỉ đoán chừng như vậy

Và như thế, khoảng cách giữa tôi với cái chết

Cứ gần lại đến khủng khiếp

Đây là cuộc chiến tranh một mất, một còn

Một mình tôi, tôi cũng phải là một dân tộc

Một mình tôi, tôi cũng phải chịu trách nhiệm

Trước lịch sử

Một mình tôi, tôi cũng phải chiến thắng

Tôi muốn kêu to lên một tiếng

Tổ Quốc!

Nhưng kêu lên để mà làm gì

Giữa cánh rừng đổ ngổn ngang

Vì đạn đại bác địch

Giữa những xác chết

Xác đồng đội tôi và rất nhiều xác giặc

Có thể nói là chùm lợp lên nhau

Dấu vết của một trận đánh giáp lá cà

Một trận đánh mà ngoài con dao găm

Cái dây lưng hay hòn đá

Ngoài nắm tay hay những cái răng

Tất cả vũ khí khác đều vô ích

Tôi đã đánh một trận như thế

Với thứ vũ khí cuối cùng trong tay

Báng một khẩu súng trường đã gẫy

Tôi cầm đập bừa vào mặt giặc

Chúng đông vô kể

Nhưng sức lực thì có hạn thôi

Chúng hoảng sợ chạy xa tôi

Tôi bị bắt không phải vì chúng mạnh

Mà vì con tôi đã lên tiếng

Nó đạp vào sườn tôi một cái

Mạnh đến nỗi làm tôi chao đi

Tôi rủn cả ruột gan

Tối sẩm cả mặt mày...

Hỡi những ai, những ai, những ai

Sẽ đọc niềm tâm sự này của tôi

Hãy hiểu cho tôi cái lúc đó nhé

Cái lúc tôi rủn cả ruột gan

Tối sẩm cả mặt mày

Cái lúc tôi gần như buông tay

Cái lúc ấy - một khoảng khắc thôi

Nhưng bây giờ đã là tất cả

Tôi tự trách mình tại sao lại như vậy

Nhưng tôi không thể giải thích được…

CÓ LẼ CHỈ CÒN 52 - 51 BƯỚC CHÂN

- Nhưng tôi không thể giải thích được

Thực tình là lúc ấy, một khoảng khắc thôi

Tôi không nghĩ được cái gì khác

Ngoài một niềm mong manh

Như cánh bướm này

- Con tôi

Con tôi đấy!

Cái giọt máu nhỏ nhoi

Cái bóng dáng cuối cùng của tôi

Sự ký thác của tôi trên mặt đất

Nó đang đòi sự sống

Tôi là người duy nhất ở trên đời này

Được biết nó và được chịu trách nhiệm về nó

Thoáng nghĩ ấy làm tôi bàng hoàng

Và thế là, rất nhanh

Tôi bị bắt

Và bây giờ, chúng bắt tôi dẫn chúng

Chúng ngu đến nỗi, tưởng rằng

Vì một đứa con, dù đó có thể là tất cả

Đối với tôi

Tôi có thể làm theo ý chúng

Chúng thúc tôi đi

37 BƯỚC

Còn bây giờ, tôi thúc chúng đi

Bởi tôi biết, tôi phải đi đường nào

Để tìm về với Tổ Quốc

Nhưng thoạt đầu, tôi chưa nghĩ được như vậy

Và tôi dẫn chúng đi loanh quanh

31 BƯỚC

Ngày đã mở đầu như thế nào

Không phải với mặt trời lên và tiếng chim hót

Ngày đã mở đầu

Bằng hàng loạt đại bác

Vào lức hơn 12 giờ đêm

Vào lúc bạn tôi đang ngủ say

Còn tôi thì thức gác

Tôi chưa bao giờ

Nghe thấy tiếng đại bác

Dính liền nhau thành một mảng

Rền ở trên trời

Rền ở dưới đất

Tôi cũng chưa bao giờ trông thấy

Kẻ thù đội mũ, mặc áo như ta

Chạy sau lá cờ ta

Bắn vào ta bằng khẩu súng ta cầm...

24 BƯỚC

Tôi nghe vang tiếng những bước chân

Cuối cùng

Của tôi

Trong rừng cây

Tôi thấy chợt hiện lên

Dáng mẹ hao gầy

Còng lưng xách nước

Cái cầu ao

Gióng tre ngà thân thuộc

Mẹ ơi!

Sẽ có nhiều người nuôi dưỡng mẹ thay con

Nhưng con của mẹ thì không ai thay được

Cho dù thế, con cũng không muốn mình

Có số phận khác với các bạn con

Những người suốt tuổi thanh xuân

Đã đứng cùng con

bên vách chiến hào

Đất bóng nhẫy lên vì những vết xẻng

Tay hứng giọt nước trong

Chảy từ một rễ cây

14 BƯỚC

Bằng con đường này

Tôi lại gặp người yêu

Anh đứng chờ tôi

Một mình trong bóng tối...

Anh yêu ơi, tôi nói

Hãy tha thứ cho em

Những gì em vụng dại...

12 BƯỚC

CÓ LẼ CHỈ CÒN 10 BƯỚC -

9 BƯỚC NỮA THÔI

Tôi đã đặt chân lên con đường mòn nhỏ

Chạy qua bãi cỏ hoang

Sau bãi cỏ hoang là dãy đồi nhấp nhô răng cưa

Các cỡ súng của ta

Đã phục sẵn ở đó

Hai bên đường, nấp trong cỏ

Là những quả mìn và những mũi chông sắt

Chính tôi đã cùng đồng đội

Gài mìn và cắm chông...

Ơi bãi cỏ thân yêu, bãi cỏ hiền lành

Đã cất giấu bài ca

Hãi hùng và dang dở của tôi

Sẽ cất lên bài ca

Bi tráng và chiến thắng của tôi...

Quân giặc đã lọt vào trận địa rồi

Đây là việc cuối chót

Tôi có thể làm được

Vì sự sống còn của Tổ Quốc

Con ơi!

Đứa con đang thành người

và quá bé bỏng của mẹ

Sự ký thác của mẹ

Cái bóng dáng cuối cùng của mẹ

Hãy yên, hãy yên nào

Đừng có thức tỉnh vào lúc này

Đừng có đạp bụng mẹ vào lúc này

(Nếu vậy, mẹ sẽ không có đủ can đảm)

Đừng có... đừng có...

Chỉ cần một phút nín thở

Mẹ sẽ chạy ào vào bãi cỏ

Và thế là những kẻ giết con

Sẽ tan xác trong những tiếng nổ dây chuyền

Của mìn và những loạt đạn

trên đồi

xả xuống

Nào, hãy yên, hãy yên

Mẹ ru con một lời cuối cùng

Một lời ru không có âm tiếng

À ơi... ả à ơi...

Hãy ngủ ngoan, con

Cái ngủ mày ngủ cho ngoan...

Cho...

Cho lòng mẹ thêm thanh thản

Cho người mẹ thêm nhẹ nhõm

Để mẹ chỉ cần giang hai cánh tay ra

Thế là mẹ con ta

Sẽ bay lên như cánh chim

Sẽ bay lên...

bay lên...

bay lên...

như cánh chim...

Như-cánh-chim...

Viết ở xã Quảng Nghĩa -  Biên giới 4 -1979

Đã in trong tập thơ THÀNH PHỐ BÊN NÀY SÔNG, 1982

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

GẶP LẠI CÁC EM

Các em nằm yên nghỉ bên sông

Những cánh hoa hồi phủ thơm mặt đất

Anh về thăm mà khôn cầm nước mắt

Trời biên cương xanh ngắt

Mây trắng bồi hồi đỉnh chốt người đi.

Sông Kỳ Cùng đò đang đợi bên kia

Nước ngập cầu Khánh Khê, xe ta chưa sang được.

Anh vòng qua lối tắt

Tìm các em trong sắc cỏ xanh rì

Sau cơn mưa nghi ngút nắng hè

Để bóng anh trùm lên từng ngôi mộ

Hàng bia nhỏ không còn nhìn rõ chữ

Nhưng gương mặt nào anh cũng nhớ y nguyên

Anh thì thầm gọi tên mãi từng em

Như gọi tên những người thương yêu nhất

Những đứa em chung chiến hào giữ đất

Mùa xuân qua đã ngã xuống nơi này.

Chưa tròn tuổi quân nhưng các em sống trọn cuộc đời

Với đồng đội, với tình yêu biên giới

Các em ơi có nghe anh gọi

Cả đội hình đơn vị sắp qua đây

Mười năm hành quân qua bao chặng đường dài

Nay đứng trước các em anh thấy mình rõ nhất

Thấy tan đi những suy tư vụn vặt

Thấy cháy bùng bao ước nguyện thiêng liêng

Cho anh về sống lại những đêm

Đốt ngọn lửa trong gió mùa đông bắc

Ôm tấm chăn chiên còn vương bụi đất

Đi dọc chiến hào nhường hơi ấm cho em

Vẫn còn đây ôi tiếng hát hồn nhiên

Đêm đẩy mảng cùng anh vượt thác

Cả tiểu đoàn qua sông ào ạt

Em đập sóng thìa lìa cho dậy ánh trăng vàng

Các em đi khi mười tám tuổi xuân

Và để lại những trái tim trong trắng

Ở Đồng Đăng, ở Thâm Mô, Chậu Cảnh

Bên hầm sâu, trên chiến lũy pháo đài

Đất của mình chứ đất của ai,

Phải xông lên mà giữ!

Tiếng các em thét gọi nhau trong chiến hào khói lửa

Còn cháy lòng bao chiến sỹ xung phong…

Thôi các em nằm yên

Quân ta đang tiến về Cao Lộc

Đường bình độ cả trung đoàn thầm nhắc

Phải giữ yên mảnh đất các em nằm

Lửa cháy rồi trên cao điểm Bốn trăm.

1981

- Theo Vanvn.net -

Tây hành nhật ký - tập sử liệu quý của người xưa

Tây hành nhật ký - tập sử liệu quý của người xưa

Tây hành nhật ký, dưới danh nghĩa là nhật ký của chung sứ bộ Phan Thanh Giản, nhưng trên thực tế do chính Phó sứ Phạm Phú Thứ soạn thảo.

"Đọc Tây hành nhật ký, người đọc sẽ cảm thấy rưng rưng xúc động trước tấm lòng hoài hương của những người Việt vì hoàn cảnh phải sống xa Tổ quốc, khi nghe tin đồng bào mình hiện diện tại thủ phủ Paris, đã vội vàng tìm mọi cách liên lạc để thỏa niềm mong nhớ".

Sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp năm 1863 để đưa quốc thư bàn việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam kỳ không phải là sứ bộ đầu tiên của Việt Nam đến đất nước châu Âu này. Trước đó 23 năm (1840), đã có một sứ bộ do Tôn Thất Thường cầm đầu đến Paris với những mục đích không được công bố rõ. Tuy nhiên, sứ bộ Phan Thanh Giản được giới sử học đặc biệt chú ý, chẳng những vì qui mô nhân sự và mục tiêu quan trọng của chuyến đi, mà còn vì một tài liệu quý vừa là bản tấu của sứ bộ dâng lên nhà vua, vừa là một tập du ký ghi chép thật tỉ mỉ và tinh tế những chuyện mắt thấy tai nghe trong suốt cuộc hành trình.

Tập tài liệu đó là Tây hành nhật ký, dưới danh nghĩa là nhật ký của chung sứ bộ Phan Thanh Giản, nhưng trên thực tế do chính Tả Tham tri Lại bộ, Phó sứ Phạm Phú Thứ soạn thảo.

Nhật ký gồm ba quyển, quyển 1 được Ngô Đình Diệm, sinh viên trường Hậu bổ (sau làm Tổng thống ngụy quyền tại miền Nam) dịch ra tiếng Pháp, đăng trên Tập san Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue – BAVH) năm 1919; quyển 2 do Trần Xuân Toản dịch ra tiếng Pháp, cũng đăng trên BAVH năm 1926.

Tại miền Nam, Tây hành nhật ký được dịch ra Việt ngữ lần đầu tiên vào những năm 1960-1962, đăng trên tạp chí Văn Đàn, dịch giả là các ông Tô Nam, Nguyễn Đình Diệm, chuyên viên Hán học trường Viễn Đông bác cổ Sài Gòn và Văn Vinh - Lê Khải Văn. Bản dịch trên dựa vào bản sao lục bằng tiếng Hán do cháu gọi bằng chú của tác giả là Phạm Phú Lâm (từng giữ chức Khâm sai Tả trực kỳ vào năm 1886) và người đồng châu là Trương Trọng Hữu sắp xếp thành tập.

Bản dịch trên có ưu điểm là các dịch giả vận dụng sở học để ghi lại nguyên ngữ nhiều nhân danh và địa danh đã được Phạm Phú Thứ phiên âm ra cách đọc của người Việt, mà nếu thiếu nguyên ngữ, người đọc sau này sẽ gặp nhiều khó khăn, ví dụ nước Ai Cập (Egypte) được người soạn ghi là Y-Diệp, cảng Suez viết là Khu-ét, Le Caire thì viết là thành Ke, thiếu tá Pháp Rieunier âm là Lý-A-Nhe, Aubaret thì âm là A-Ba-Ly… Tuy nhiên, một số địa danh và nhân danh vượt ra ngoài khả năng tìm hiểu và suy đoán, người dịch không thể chú thích gì sau phần phiên âm của tác giả.

Đúng với nghĩa nhật ký, tập văn ghi chép những việc xảy ra hằng ngày, từ thời điểm sứ bộ xuống tàu rời Huế ngày 21-6-1863, đến ngày tàu đưa sứ bộ trở lại Việt Nam, về đến cửa Thuận An ngày 28-3-1864. Ba ngày sau, tập sách được trình lên vua Tự Đức, dòng cuối ghi rõ “thần Phạm Phú Thứ phụng thảo”.

Có thể xác định Tây hành nhật ký là tập du ký đầu tiên của người Việt viết về sinh hoạt của một số nước phương Tây (Pháp, Tây Ban Nha, Ý). Điều đáng nói ở đây là vừa với nhiệm vụ của một đại thần nhận lãnh sứ mệnh trọng đại do nhà vua giao phó, vừa bằng một tinh thần học hỏi, một óc nhận xét tinh tế, Phạm Phú Thứ đã mang lại cho người đọc nhiều chi tiết thú vị về những vùng đất ông đã đi qua, như  cảng Aden, Le Caire, cảng Alexandrie, Toulon, Marseille…

Một sự tình cờ buộc sứ bộ phải lưu lại rất lâu tại công quán ở thủ đô Paris, do hoàng đế Napoléon III đang đi tuần sát phương xa, do đó đã được các viên chức Pháp hướng dẫn đi xem hát, đến thăm các xưởng dệt thảm, lò gốm, xưởng chế tạo hạt nổ, các xưởng đắp tượng, làm giấy, sản xuất thuốc lá, chế tạo pha lê…, tại mỗi nơi, vị sứ thần đều miêu tả từng chi tiết diễn ra trước mắt, chẳng hạn, ông đã kể lại cảnh xem hát như sau:

“… Nói về cách thức diễn, cứ hết một hồi thì bức màn từ từ hạ xuống che kín sân khấu, khi nào bên trong dàn cảnh xong thì rung chuông báo hiệu, âm nhạc nổi lên, bức màn lại dần dần cuộn lên. Ca đồng, vũ nữ nhảy múa theo nhịp đàn sáo, tuy nhiều âm thanh, nhưng không hề thấy loạn xạ hay mất trật tự…” (Văn Đàn số 44 – 1960).

Hình ảnh một buổi xem hát như trên vẫn còn tồn tại ở Việt Nam vào những thập niên 1940-1950. Ở một đoạn khác, tác giả mô tả kỹ thuật đưa tàu vào xưởng sửa chữa ở cảng Toulon khá độc đáo:

“Còn vũng sửa tàu thì là một cái bể chiều dài hơn chiếc tàu, mặt trước có cửa sắt để dẫn nước bể. Lúc muốn sửa, người ta mở cửa cho nước bể chảy vào ngang với mực nước bên ngoài rồi dắt tàu vào đặt trên chiếc giá bằng sắt, bấy giờ mới đóng cửa lại; dùng máy để bơm hết nước bên trong ra. Khi nước ra hết thì chiếc thân tàu nằm lại ở trên giá, bấy giờ thợ thuyền cứ việc đứng dưới sửa chữa, khi nào chữa xong thì lại mở cửa cho nước chảy vào để cho chiếc tàu nổi lên trên giá, người ta chỉ việc mở máy cho tàu tiến ra, coi rất nhẹ nhõm, mà không hề dùng đến nhân lực…” (Văn Đàn số 44 – 1960)

Ở từng trang ghi chép, Tây hành nhật ký cung cấp cho người đọc những tư liệu mới mẻ trong kho tàng kiến thức, chẳng hạn như về mặt nhiếp ảnh, có thể xác định Phan Thanh Giản là người Việt Nam đầu tiên được chụp ảnh chân dung, và thời điểm ra đời bức ảnh đầu tiên chụp vị chánh sứ này là ngày 20-9-1863:

“… Đến giờ ngọ thì giời hơi tạnh. Thần đẳng (cách xưng hô của các quan với nhà vua) vận triều phục chỉnh tề rồi lên trên lầu chụp ảnh… Còn phương pháp chụp ảnh thì trước hết thấy lấy nước thuốc xoa vào miếng kính rồi đặt vào ống; người đứng phía trước nhìn thẳng vào miệng ống; hình người sẽ do ánh sáng mặt trời in vào miếng kính, tơ tóc không sai mảy may… từ hôm ấy trở đi, các quan chức luôn luôn đem thợ đến quán, yêu cầu thần đẳng để cho họ chụp mấy tấm để tặng thần đẳng và bạn hữu…” (Văn Đàn bộ mới số 2–1961).

Về mặt tôn giáo, Petrus Trương Vĩnh Ký là một trong những giáo dân Công giáo Việt Nam đầu tiên được diện kiến Đức Giáo hoàng, nhân dịp sứ bộ ghé lại Rome:

“… Nay cứ theo lời Trương Vĩnh Ký thuật lại, trong chuyến thăm tỉnh Rô-ma này, các nhân viên trên tàu có mua rất nhiều chuỗi tràng hạt và thánh giá. Họ kể lại khi được vào bái kiến Đức Giáo hoàng thì rất trọng thể, uy nghiêm… Đến lượt Trương Vĩnh Ký, đức Giáo hoàng hỏi: “Con ở đâu tới?”. Ký thưa là theo sứ đoàn. Đức Giáo hoàng lại hỏi: “Bên nước Nam, người tòng giáo nhiều hay ít?”. Ký thưa: “Nay bên nước con đã bỏ lệnh cấm theo, chắc rằng số tín đồ sẽ tăng…” (Văn Đàn bộ mới số 2 – 1961)

Đọc Tây hành nhật ký, sẽ thấy cách nay hơn 150 năm, nước Pháp đã có lệnh cấm hút thuốc trong rạp hát: “… trong nhà hát thì có lệnh cấm không hút thuốc lá… (Người phương Tây rất trọng phụ nữ, mà tính phụ nữ không thích hút thuốc, ngay khi ở nhà, người chồng nghiện thuốc mỗi khi muốn hút cũng phải tránh sang phòng bên, còn lúc ở trong phòng hát, hay ở trên xe, và lúc dắt tay dạo phố, cũng đều không dám hút cả…” (Văn Đàn số 44 – 1960).

Riêng phong tục bắt tay, đây có lẽ cũng là lần đầu tiên, những người Việt Nam đại diện cho một đất nước Á Đông tập làm quen: “Nói chuyện được một lát, viên ấy đứng dậy cáo từ; vừa nói, vừa tháo chiếc bít tất tay phải ra (..) và nói thêm rằng: “Ngày nay, chúng ta chẳng khác gì anh em, vậy xin cho tôi theo tục phương Tây chúng tôi để tỏ đôi chữ đồng tâm hiệp ý”, rồi ông bắt tay từ biệt. (Các viên chức Tây. Sau khi hội kiến với sứ bộ ta, lúc cáo biệt đều bắt tay thần đẳng, đủ cả ba người) (*)

* Đọc Tây hành nhật ký, người đọc sẽ cảm thấy rưng rưng xúc động trước tấm lòng hoài hương của những người Việt vì hoàn cảnh phải sống xa Tổ quốc, khi nghe tin đồng bào mình hiện diện tại thủ phủ Paris, đã vội vàng tìm mọi cách liên lạc để thỏa niềm mong nhớ.

Đó là trường hợp của bà Magdeleine Nguyễn Thị Sen (trong nhật ký, có chỗ ghi là Nguyễn Thị Liên), có chồng là Philippe Vannier, tên Việt là Nguyễn Văn Chấn, từng làm quan dưới thời vua Gia Long (1802-1820) và Minh Mạng (1820-1840), theo chồng về Pháp năm 1824 và ở Lorient từ ấy đến ngày qua đời.

Nghe tin sứ bộ đến Pháp, bà cùng con gái tức tốc đi xe lửa đến Paris, thuê chỗ trọ rồi tới thăm sứ bộ ngày 5-10-1863. Sứ bộ còn nấn ná ở Paris để chờ gặp Pháp hoàng, bà không rời chỗ trọ, bền lòng đợi đến hơn một tháng sau, ngày 7-11-1863, khi sứ bộ rời nước Pháp, hai mẹ con tiễn họ xuống tàu, nước mắt chảy dài, vì biết chẳng có ngày về thăm lại cố quốc. Người phụ nữ đáng thương đó còn sống trên đất Pháp 15 năm nữa, mất năm 1878, thọ 87 tuổi, tính đến thời điểm ấy bà đã ly hương 54 năm trời.

Người thứ hai tìm đến sứ bộ là Nguyễn Văn Đức (Michel Đức Chaigneau), con trai Jean Baptiste Chaigneau, tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, cũng từng làm quan dưới hai triều Gia Long và Minh Mạng; mẹ là bà Benoite Hồ Thị Huề, mất năm 1815. Nghe tin sứ bộ đến Pháp, Đức cũng tìm đến thăm vào ngày 24-9-1863. Lúc đó ông đã 60 tuổi (sinh năm 1803), nhưng Phạm Phú Thứ ghi nhầm là 58 tuổi. Bốn năm sau (1867), Michel Đức Chaigneau xuất bản tại Paris tập Souvenirs de Hue (Hồi ức về Huế), kể lại cuộc sống ông đã trải qua tại Huế vào những thập niên 1800-1820.

* Bên cạnh những “người thật, việc thật” có tầm sử liệu cao, Tây hành nhật ký còn là cơ sở dữ liệu giúp các nhà nghiên cứu thẩm định tính chân xác của nhiều sự kiện hay giai thoại lịch sử, trong đó có “giai thoại” tùy tiện về chiếc khăn điều gói quần áo của Chánh sứ Phan Thanh Giản.

“Giai thoại” đó xuất phát từ tạp chí Phổ Thông phát hành ở Sài Gòn khoảng cuối thập niên 1950, kể rằng khi tàu đưa sứ bộ sang Pháp dừng lại kênh Suez, do yêu cầu của chính quyền địa phương, sứ bộ phải treo quốc kỳ lên cột buồm, nhưng túng quá, không tìm đâu ra cờ và vải để may cờ, sứ bộ đã “mượn tạm” chiếc khăn gói quần áo của cụ Phan Thanh Giản để làm cờ. Trên thực tế, Tây hành nhật ký đã viết khá rõ về trường hợp này:

“Nguyên khi tàu sắp vào cảng thì Lý A Nhe (Rieunier) cho biết rằng: “Đây sang Pháp, những nơi nào sứ bộ đi qua sẽ đều có nổ súng đón chào, vì thế cần phải có cờ sứ bộ trương lên đáp lễ”. Thần đẳng trả lời: “Chúng tôi hiện chỉ đem theo có lá quốc kỳ”. Viên đó xem xong bảo rằng: “Cờ này về phần màu sắc, lẫn lộn với cờ các nước, sợ khó phân biệt, vậy xin sứ bộ viết thêm mấy chữ của quý quốc vào đó thì hơn”. Thần đẳng nghe viên ấy nói như vậy, bàn nhau lấy ngay tơ đỏ thêu thêm bốn chữ “Đại Nam khâm sứ” vào giữa quốc kỳ và thêu tất cả hai mặt, rồi treo lên cột buồm giữa…” (Văn Đàn số 38 –1960).

Chuyện đã rõ, càng không có việc thiếu vải, vì trong cuộc hành trình, sứ bộ nhiều lần mang vải vóc, tơ lụa…. làm quà cho những viên chức địa phương đã dành cho họ sự đón tiếp trọng thị.

* Tây hành nhật ký cũng nêu rõ thông ngôn Trương Vĩnh Ký và Phủ Tôn Thọ Tường không phải là thành viên của sứ bộ như nhiều cây bút về sau đã hiểu nhầm. Họ (và một số người khác) chỉ là những viên chức trong bộ máy chính quyền của Pháp tại Sài Gòn, được cử vào đoàn viên chức Pháp tháp tùng để hỗ trợ sứ bộ.

* Cũng theo nhật ký, không có trường hợp vứt xác thành viên sứ bộ xuống biển khi qua đời, như có tài liệu đã nhầm lẫn. Trong chuyến đi, có hai trường hợp tử vong, một của thông ngôn Nguyễn Văn Trường, được an táng ở Aden ngày 9-8-1863; một của Chánh y sĩ Nguyễn Văn Huy, mất ngày 29-8-1863, được an táng ở Alexandrie.

Ngày 10-2-1864, trên đường trở về, khi tàu ghé lại Aden, sứ bộ Việt Nam có xin chính quyền sở tại cho khai quật hài cốt Nguyễn Văn Trường mang về nước, nhưng do không có đủ phương tiện cần thiết như hòm kẽm, quách gỗ, các thứ thuốc thơm… yêu cầu này không được chấp thuận.

Được viết ra trong điều kiện những kiến thức khoa học của tác giả còn rất hạn chế, Tây hành nhật ký là một “hiện tượng” trong xã hội Việt Nam những năm 1860. Ngày nay, tác phẩm này vẫn còn một giá trị nhất định giúp chúng ta tìm thấy lại những hình ảnh đã chìm sâu trong khoảng mịt mờ của quá khứ.

Theo Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần

(*) Ba người đây là Chánh sứ Phan Thanh Giản, Phó sứ Phạm Phú Thứ và Bồi sứ Ngụy Khắc Đản.

(**) Trên thực tế năm 1863, chỉ có cảng Suez, kênh Suez mãi đến năm 1869 mới đào xong.

Vui xuân Bính Thân hái lộc cùng Nhà sách Tiền Phong

Vui xuân Bính Thân hái lộc cùng Nhà sách Tiền Phong
Hái lộc đầu xuân là một trong những phong tục của người Việt Nam trong dịp tết cổ truyền, và đây cũng là một chương trình truyền thống của Nhà sách Tiền Phong dành tặng cho những vị khách quý trong dịp đầu xuân mới.

Với quan niệm đầu năm trao nhau câu chữ, tặng nhau cuốn sách, là mang may mắn và trí tuệ cho  người được nhận quà nên ngay từ những ngày đầu năm mới, mọi người đã có thói quen đến nhà sách mua hàng rất đông.

Hưởng ứng tinh thần hiếu học ấy, Nhà sách Tiền Phong đã chuẩn bị hàng ngàn đầu sách mới, văn phòng phẩm và quà tặng. Tất cả mặt hàng đều đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng mẫu mã và đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, sẵn sàng chào đón khách hàng trong dịp mở cửa đầu năm nay.

Bên cạnh đó, để tạo không khí vui tươi phấn khởi cho khách hàng, Nhà sách Tiền Phong thực hiện chương trình “Hái lộc đầu xuân” dành cho khách đến mua hàng có hóa đơn thanh toán từ 200.000đ trở lên sẽ được hái tặng 01 phong bao lì xì may mắn với nhiều giải thưởng hấp dẫn lên đến 100.000 đ. Chương trình khuyến mãi đặc biệt này diễn ra từ 10/02/2016 đến hết 14/02/2016 (mùng 3 tết đến hết mùng 7 tháng Giêng âm lịch )

“Hái lộc đầu xuân”cũng là lời chúc và là tấm lòng của CBCNV Công ty CP Tiền Phong, của Nhà sách Tiền Phong dành tặng khách hàng, với mong muốn những điều may mắn nhất, tốt đẹp nhất sẽ đến với khách hàng trong dịp đầu xuân năm mới.

Địa chỉ mua sách: Hệ thống Nhà sách Tiền Phong thuộc Công ty Cổ phần Tiền Phong

Tại Hà Nội:  175 Nguyễn Thái Học, 17B Ngọc Hà, 175 Tây Sơn.

Tại Hải Phòng: 55 Lạch Tray – Ngô Quyền- Hải Phòng

Tại Hải Dương: 326 Nguyễn Lương Bằng – Tp Hải Dương

Tại Thanh Hóa:  96 Lê Hoàn - Phường Điện Biên - Tp. Thanh Hóa

Theo PV - Tiền phong

Trang 7 trong tổng số 16 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1879
mod_vvisit_counterHôm qua4973
mod_vvisit_counterTất cả4524890

20 188
,
Hôm nay:27 - 3 - 2017
Hiện có 257 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: