Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Tôn vinh văn hoá đọc >>> Giới thiệu

Giới thiệu

Gặp gỡ văn chương Bắc - Trung - Nam

Gặp gỡ văn chương Bắc - Trung - Nam

Văn học địa phương là một phần không thể thiếu trong dòng chảy văn học Việt Nam để tạo nên sự phong phú cũng như giá trị nghệ thuật. Nhân dịp đầu năm, báo Tổ Quốc mời bạn đọc cùng ngồi lên chuyến tàu văn học để qua Bắc - Trung - Nam gặp gỡ với các nhà văn, nhà thơ: Mã A Lềnh (Lào Cai), Kiều Vượng (Thanh Hóa) và Lê Thanh My (An Giang), cùng chia sẻ câu chuyện văn chương.


PV: Trong lĩnh vực văn học (thơ, văn xuôi, lý luận phê bình, văn học dịch) thì ở địa phương của nhà văn, nhà thơ thế mạnh nổi trội nhất là gì?

Nhà văn Mã A Lềnh: Cũng như nhiều địa phương miền núi, cuối năm điểm lại, số lượng tác phẩm nổi trội vẫn là văn, thơ. Vài năm gần đây loại hình nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian mỗi năm trung bình có khoảng 2, 3 công trình được xuất bản vì sự phong phú của nền văn hóa các dân tộc thiểu số. Đối với tác phẩm sáng tác thì ký chiếm ưu thế vì Lào Cai đang trên đà xây dựng với kỳ vọng sẽ trở thành một trung tâm phát triển của khu vực miền Tây Bắc nói riêng và khu vực miền núi phía Bắc nói chung.

Nhà văn Kiều Vượng: Trong lĩnh vực văn học, thế mạnh nhất ở Thanh Hóa là văn xuôi.

Nhà thơ Lê Thanh My: An Giang là vùng đất khai mở chưa đầy 300 năm, nhưng trong kho tàng văn học cũng đã ghi lại nhiều tên tuổi văn chương xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Đến nay, truyền thống ấy dường như vẫn luôn lưu giữ và phát huy. Trong lĩnh vực văn chương, hiện tại An Giang có nhiều nhà văn hơn một số tỉnh bạn trong khu vực và một đội ngũ kế thừa. Họ đã chứng tỏ khả năng của mình nhiều nhất vẫn là thơ và văn xuôi.

PV: Nhà văn, nhà thơ có thể cho biết trong năm 2015 vừa qua văn học địa phương mình đã có những ‘gặt hái’ gì đáng kể?

Nhà văn Mã A Lềnh: Ở địa phương, từ cuối năm 2014 tôi chỉ còn là một độc giả trung thành, không có nhiều cơ hội dung nạp thông tin, song may mắn là một thành viên Hội đồng nghệ thuật của tỉnh, hiện tôi đang đọc một số cuốn sách đã được Thường trực Hội VHNT tỉnh chọn lọc và gửi đến, gồm 3 cuốn truyện và ký, 1 cuốn truyện ngắn, 1 cuốn truyện thiếu nhi, 2 cuốn thơ, 1 cuốn tiểu luận và 1 cuốn sưu tầm - nghiên cứu văn hóa dân gian. Có thể kể thêm cuốn Bão trở, trường ca của Đoàn Hữu Nam, Dòng sông vẫn chảy, tập truyện ngắn của Nguyễn Văn Tông, Dấu xưa, tập truyện và ký của Tuấn Lợi, Tình ca đá núi, tập thơ của tôi (Mã A Lềnh)… Như vậy, số lượng công trình của năm 2015 có phần trội hơn những năm trước, và chất lượng cũng khá hơn nhiều: ví như tập thơ Những chiều tam giác mạch của tác giả trẻ Hoàng Anh Tuấn, Nxb Hội nhà văn, Mây không bay về trời của tác giả Tống Ngọc Hân, Nxb Quân đội nhân dân… mang đến một hơi thở trẻ trung, dung dị và sâu lắng. Nếu như cần công bố một con số tổng kết cùng với các ngành kinh tế, thì văn học Lào Cai đang tiếp tục gặt hái những thành quả dày dặn, vạm vỡ.

Nhà văn Kiều Vượng: Năm 2015, văn học địa hương đã có nhiều gặt hái đáng kể vì Ban Văn của Văn nghệ Thanh Hóa lên tới 28 hội viên, trong đó có 7 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Các nhà văn có tác phẩm đáng nói như Từ Nguyên Tĩnh, Đào Hữu Phương, Hà Cẩm Anh, Cẩm Hương, Nguyễn Văn Đệ, Kiều Vượng v.v…

16 tập văn xuôi được xuất bản trong một năm là con số đáng nói của văn xuôi Thanh Hóa.

Nhà thơ Lê Thanh My: Trong năm 2015, tại 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có cuộc thi truyện ngắn dành cho các cây bút chuyên và không chuyên trong khu vực do An Giang đăng cai tổ chức, cuộc thi đã thành công và An Giang vẫn là tỉnh duy nhất nhận được 5/11 giải thưởng. Đồng thời với nhiều cuộc thi khác, các tác giả An Giang vẫn luôn chứng tỏ khả năng của mình, tôi không kể hết những kết quả đó, nhưng tôi rất hoan nghênh thành tích mà các tác giả đã mang về.


Nhà văn Kiều Vượng (ảnh: Internet)

PV: Theo quan điểm của nhà văn, nhà thơ thì thế mạnh về thể loại đó nổi bật nội dung gì có thể coi là “đặc sản” vùng miền mà chỉ cần đọc lên độc giả biết ngay giọng văn này viết về con người, vùng đất nhất định nào đó. Hay nói cách khác là văn học địa phương của nhà văn có nét riêng đặc thù gì?

Nhà văn Mã A Lềnh: Gặp người Lào Cai, bạn sẽ gặp bàn tay ấm áp với hơi thở nồng nàn, dáng mạo dịu hiền, đằm thắm. Tác giả Lào Cai gắn bó máu thịt với quê hương bằng biết học, biết cống hiến, biết tránh gay gắt, phổng trội, gào thét, đằm mình trong dòng chảy của nền văn hóa yêu thương và cần mẫn, đó là “đặc sản” của văn học Lào Cai.

Nhà văn Kiều Vượng: Văn học địa phương Thanh Hóa có nét riêng độc đáo làm bạn đọc dễ nhận ra là cách mô tả nhân vật với một giọng điệu rất miền Trung. Thơ Thanh Hóa của nhiều thế hệ được bộc lộc rõ nhất như: “Trong điếm nhỏ mười chàng trai tráng/ Sờ chui lựu đạn/ Ngồi thổi nùn rơm” trong “Nhớ” của Hồng Nguyên; rồi “Người hái rau rừng ăn nheo mắt/ Người rách áo thiếu kim mài sắt/ Người đập mảnh chai vễnh cằm cạo râu…” trong “Đèo cả” của Hữu Loan; “Những người lính xứ Thanh/ Đứng canh từng tấc đất/ Quỳ chân bên sóng mài đại đao” của Hà Khang; “Những con người đen như mực/ Đặc thành keo/ Tròn một củ/ Mặt rẹt một đường gươm” của Trần Mai Ninh; hay “Một cộng một thành đôi/ Anh cộng cô đơn thành biển/ Nắng tắt mà em không đến/ Anh ngồi rót biển vải chai” của Trịnh Thanh Sơn. Rất nhiều nhà thơ Xứ Thanh nổi trội trong ngôn ngữ địa phương như: Nguyễn Duy, Xuân Sách, Lữ Giang, Hồ Zếnh, Thôi Hữu, Văn Đắc v.v…

Nhà thơ Lê Thanh My: Tôi không cho rằng nhất thiết con người ở vùng miền nào thì phải thể hiện được tính cách, ngôn ngữ của vùng miền đó trong tác phẩm của mình và xem nó như một “đặc sản”. Nhà văn tạo ra phong cách bằng khí chất, cái nền văn hóa thẫm đẫm trong tâm hồn và tâm tư của tác giả hòa quyện lại sẽ cho ra một giọng điệu, một tính cách. Không có một giới hạn và khuôn phép nào có thể định hình được tư duy của nhà văn.

PV: Qua quan sát của nhà văn, nhà thơ thì những điều kiện nào tạo nên nét riêng đặc thù đó trong tác phẩm văn học?

Nhà văn Kiều Vượng: Những điều kiện tạo nên nét riêng trong tác phẩm văn học theo tôi chính là từ những gian khó của vùng đất Duyên hải miền Trung. Cứ nghe điệu hò Sông Mã với hai từ “Dô huệch” đã nghĩ ngay đến hàng trăm con người đang xúm lại đất một chiếc thuyền mắc cạn. Văn học chịu ảnh hưởng rất lớn từ một thực tế nhiều gian nan ở một vùng đất.

Nhà thơ Lê Thanh My: Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, cho nên chúng ta luôn có cách sở hữu cuộc sống và phản ánh nó. Con người sống trong điều kiện nào thì sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng, nhận sự tác động xung quanh nó. Văn chương cũng không ngoại lệ. Nhẹ nhàng, sâu sắc và phóng khoáng là tính cách, đặc thù của các nhà văn phía Nam. Tác phẩm văn học của nhà văn ít nhiều cũng sẽ thể hiện ra điều đó chứ!

PV: Đối với người cầm bút, những đặc trưng vùng miền của một tác giả rất có thể tạo thành ấn tượng, thậm chí là phong cách riêng. Tuy nhiên đối tượng độc giả chưa chắc đã chiếm số đông sự hưởng ứng. Vậy người cầm bút có cần phải dung hòa một giọng điệu để dễ dàng có lượng độc giả đông đảo không?

Nhà văn Mã A Lềnh: Tâm lý con người ngày nay đang biến chuyển nhiều chiều; số lượng độc giả tìm đến những cuốn sách văn học hầu như không có. Trong thành phố có 2 hiệu sách lớn nhưng không có sách văn học, và cũng không có gian sách địa phương. Thư viện tỉnh và các nhà trường không hề liên hệ với tác giả. Từ cảnh huống ấy, sách văn học chỉ có thể chảy trong nội bộ những người cùng sở thích, và chảy ngầm ra khỏi lãnh địa, nên người ở xa có thể tiếp nhận nhiều và rõ văn học Lào Cai hơn người Lào Cai. Tuy nhiên có điều mừng là tác phẩm văn học Lào Cai luôn giữ được phong độ và sắc thái của mình. Dù sao, muốn có độc giả, muốn tìm được độc giả đồng lòng và đồng hành cùng mình, thì tác giả phải biết cách làm ma-két-tinh, nghĩa là phải làm sao để thêm nhiều người yêu những dòng văn, những tinh thơ của mình. Muốn vậy, những trang viết phải luôn tươi rói, trẻ trung và đôn hậu.

Nhà văn Kiều Vượng: Do đặc trưng của vùng miền, các thế hệ nhà văn đã có nhiều dung hòa khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm. Nếu bê nguyên sự cộc cằn vào văn học chắc bạn đọc sẽ chán ngay. Cố Nhà văn Triệu Bôn từng viết trong “Dọc đường quê hương”.

Thanh Hóa quê tôi như một vùng nước lợ. Tất cả cái mặn mà chân chất của miền Trong và cái hào hoa phong nhã của miền Ngoài khi chạm vào đất Thanh đều hòa tan ra.

Nhà thơ Lê Thanh My: Tôi cho rằng nhà văn cần phải lệ thuộc vào chính sự rung cảm của anh ta chứ không phải lệ thuộc vào độc giả.


Nhà thơ Lê Thanh My (ảnh: nhà thơ cung cấp)

PV: Hội Nhà văn ở địa phương có tạo điều kiện gì để những tác phẩm văn học địa phương phát huy được thế mạnh, tạo được dấu ấn trong lòng độc giả?

Nhà văn Mã A Lềnh: Năng khiếu văn học vốn dĩ cha mẹ đã ban cho từ khi sinh ra rồi. Muốn viết được thì phải tự luyện rèn, và đó là sở thích cá nhân, nên nếu đã dấn thân vào sự nghiệp văn chương thì chẳng ai chờ đợi, hay đòi hỏi một cái gì. Chức năng và trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền và tổ chức Hội thì họ phải tự hiểu và thực thi cho đầy đủ. Văn phòng Hội VHNT tỉnh tuy đã có nhiều nỗ lực phục vụ hội viên và tác giả theo những nhiệm vụ quy định của biên chế, song, cái nhược lớn nhất là không tổ chức hội thảo, không chịu quảng bá, thông tin, đến như việc chi ra vài trăm ngàn đồng để mua tác phẩm, công trình của tác giả địa phương, của hội viên trong tổ chức hội chính trị - xã hội - nghề nghiệp của mình, tức là gây dựng một “thị trường” cho những sản phẩm văn học, nghệ thuật cũng không làm. Điều đó sẽ phải được khắc phục.

Nhà văn Kiều Vượng: Công việc sáng tác là việc riêng của từng nhà văn, ở địa phương các nhà văn chỉ có thể trao đổi, mạn đàm với nhau, mừng cho nhau mỗi khi có một tác phẩm ra mắt công chúng. Hội địa phương có hỗ trợ một phần kinh phí mỗi khi tác giả hoàn thành tác phẩm, có bản thảo đem nộp cho Hội, còn tạo thế mạnh, gây dấu ấn cho độc giả vẫn từ tài năng và sự tìm tòi, khám phá và thể hiện nhân vật của mỗi nhà văn. Ngay cả “Đi bước nữa” của Nguyễn Thế Phương; “Bão không có gió” của Kiều Vượng; “Cõi người” của Từ Nguyên Tĩnh cũng là cách sáng tạo của các nhà văn trong thể hiện mới có. Độc đáo như “Tuyển tập thơ Nguyễn Duy” gần đây ai dám bảo không có dấu ấn một vùng đất, nhất là phần viết về quê trong tập “Đường về”..

Nhà thơ Lê Thanh My: Hội văn học nghệ thuật địa phương nào cũng mong làm được một việc là phát huy thế mạnh của lực lượng văn nghệ sĩ ngay chính địa phương mình, và họ luôn mong muốn các đọc giả của họ chiêm ngưỡng sự tỏa hương từ những tác phẩm văn học nghệ thuật do chính các văn nghệ sĩ làm ra.

PV: Nhà văn, nhà thơ hi vọng điều gì ở văn học địa phương mình năm 2016 tới đây?

Nhà văn Mã A Lềnh: Đã thành thông lệ, tháng Ba hằng năm, anh em hội viên, tác giả Lào Cai lại gặp gỡ đầu xuân để thăm hỏi, động viên nhau, rồi ai nấy lại lặng lẽ độc hành theo lối mòn vào cánh rừng thẳm của văn chương, thi ca mà thăm thú, mà cuốc xới. Hẳn ai cũng đã tự chuẩn bị hành trang cho mình rồi, nhất là những công trình, tác phẩm dày trang phải bỏ ra nhiều công sức. Còn đối với chính sách, bạn biết rồi đấy, như một lão bản cổ hủ, già khụ, ló đầu ra ngó nghé, rồi rụt cổ sập cửa lại… Nhân thể xin báo tin để bạn đọc yêu quý cùng mừng, là năm 2015, Mã A Lềnh đã xuất bản tập thơ “Tình ca đá núi”, Nxb Văn hóa dân tộc, “Phong tục thờ cúng tổ tiên…”, viết chung với Triệu Thị Phương, Nxb Văn hóa dân tộc, và sắp phát hành “Dân ca Hmông”, Nxb Kim Đồng, “Truyện ngắn tinh chọn”, Nxb Hội Nhà văn, “Tuyển tập Mã A Lềnh”, Nxb Đại học Thái Nguyên.


Nhà văn Mã A Lềnh (ảnh: nhà văn cung cấp)

Nhà văn Kiều Vượng: Tôi rất hy vọng sự từng trải và ấp ủ lâu năm của một thế hệ nhà văn chống Mỹ tại Thanh Hóa hôm nay. Năm 2016 có 12 tác phẩm đã đăng ký sáng tác xin tài trợ là một thực tế để tin tưởng vào lực lượng này. Điều phân vân nhất là lớp nhà văn trẻ hiếm quá, chập chờn quá, cứ như sao sớm, sao chiều trên bầu trời quá nhiều thay đổi nhưng biết đâu đó cũng là niềm hy vọng.

Nhà thơ Lê Thanh My: Tôi hi vọng thì nhiều lắm, nhưng tất nhiên không phải muốn là có được, tôi chỉ mong mỗi nhà văn có thêm một sự nỗ lực, một dự định mới cho tác phẩm của chính mình trong năm mới. Như vậy thôi.

* Cảm ơn các nhà văn, nhà thơ đã chia sẻ với báo Điện tử Tổ Quốc. Xin chúc các nhà văn, nhà thơ và chúc cho văn học Việt Nam năm 2016 gặt hái được nhiều tác phẩm chất lượng!

Hiền Nguyễn (thực hiện) - Văn học quê nhà -

Bộ sưu tầm: Những cuốn tiểu thuyết sẽ khiến bạn cảm thấy yêu đời hơn

Bộ sưu tầm: Những cuốn tiểu thuyết sẽ khiến bạn cảm thấy yêu đời hơn

Trong một ngày mưa gió, nếu các bạn cảm thấy chán nản và buồn bã, bạn sẽ chìm đắm vào cơn buồn đó một cách mệt mỏi. Nếu cứ tiếp tục chìm đắm, bạn sẽ thấy tâm hồn bạn “mọc rêu” (cách dùng từ của nhạc sĩ Dương Thụ). Nhưng cuộc đời có đáng chán như ta tưởng? Bạn chỉ chán nản cuộc đời khi bạn không thật sự sống, không thật sự hiện hữu. Bạn sa đà vào những mớ lý thuyết xám ngoắt, những định hướng tương lai khô cứng, những ký ức buồn bã của một thời đã qua nông nổi. Buồn là một cảm giác tích cực, bởi nó khiến chúng ta dễ dàng đồng cảm với nhau, nhưng buồn chán là một cảm giác tiêu cực bởi nó khiến bạn tách khỏi cuộc sống.

Muốn thoát khỏi sự buồn chán, bạn chỉ cần hiện hữu. Cảm nhận thế giới trong từng hơi thở, từng làn gió, từng sợi nắng, từng cái ôm ấm áp… Và thậm chí, nếu bạn cô độc, hãy cảm nhận trọn vẹn linh hồn mình. Nếu bạn còn đủ tinh tế để cảm nhận tất cả những điều đó hàng ngày, bạn sẽ không bị những cơn mưa u ám giết chết linh hồn. Nhưng bởi vì sự vội vã trong cuộc sống đã khiến các bạn quên đi sự cảm nhận ấy, nên các nhà văn đã gửi gắm cái cảm hứng tận hưởng từng khoảnh khắc trong tác phẩm của mình. Hãy đọc chúng và có thể bạn sẽ thấy yêu đời hơn:

“Zorba, con người hoan lạc” của Nikos Kazantzaki là một cuốn tiểu thuyết kỳ thú. Cuốn tiểu thuyết kể về quãng đời điên rồ của người kể chuyện và ông già Zorba cuồng phóng. Zorba luôn làm chúng ta hình dung tới vị thần Dionysus, vị thần của rượu nho và lễ hội. Ông ta luôn hết lòng vì điều mình muốn, thậm chí sẵn sàng chặt một ngón tay để có thể nặn gốm. Và một khi ông ta không còn hứng thú với điều gì, ông ta sẽ bỏ đi. Ông ta nhảy múa ngoài bãi biển trong đêm thanh vắng, ông ta trầm ngâm triết lý bên ngọn lửa lúc bình minh. Ông ta nhìn tận gan ruột lũ tu sĩ khổ hạnh lừa dối và đối với họ bằng một thái độ vừa giễu cợt và thương cảm. Ông khám phá thế giới, tận hưởng thế giới trong từng giây từng phút. Đọc “Zorba, con người hoan lạc”, bạn sẽ tự hỏi rằng: “Mình đang làm cái quái gì với cuộc đời mình thế này? Có đáng để đánh đổi tất cả lạc thú trên trần gian để lấy một tấm bằng, một công việc nhàm chán, một ngôi nhà nhạt nhẽo… chính xác là một cái lồng giam cả thân xác và tư tưởng, hay không?”. Bạn trả lời thế nào là tùy ở bạn, còn Zorba sẽ khẳng định là không, bởi ông là đại diện cho tinh thần Hoan lạc của cái thuở Dionysus còn ngự trị trên thế gian này.

“Nhà giả kim” của Paulo Coelho không ca ngợi những chuỗi ngày hoan ca mà kể về một hành trình đơn độc của chàng chăn cừu Santiago. “Nhà giả kim” là cuốn sách bán chạy nhất thế giới sau “Kinh Thánh” nhưng không bao giờ được giới hàn lâm thừa nhận dù những ẩn ngữ của cuốn sách rất mang tính hàn lâm. Có thể các “nhà hàn lâm” đã quên mất cách phải cảm nhận như thế nào, tâm hồn của họ có lẽ đã “mọc rêu” cùng với những quyển sách quằn quại, đau khổ hay những cách tân nghệ thuật màu mè vô nghĩa. Santiago là một người đi theo giấc mơ của mình để tìm kho báu ở Ai Cập. Cậu vượt qua sa mạc để tới Ai Cập, nhưng rồi hóa ra kho báu của cậu lại nằm ngay ở nơi cậu xuất phát. Trong hành trình của cậu, cậu được chỉ dẫn bởi nhà giả kim, một nhà thông thái lang thang, chỉ dẫn cho cậu về những dấu hiệu và điều huyền bí của vũ trụ. Những ai thích các cốt truyện phức tạp sẽ không hiểu “Nhà giả kim”, bởi không thể đọc tiểu thuyết này theo cái cách hồi hộp hay dằn vặt của thứ tiểu thuyết thị trường ba xu được. “Nhà giả kim” cũng như “Hoàng tử bé”, ẩn chứa nhiều ẩn ngữ. Khi đọc từng chi tiết, bạn chỉ cần cảm nhận văn phong và chiêm nghiệm về ẩn ngữ phía sau là đủ.

“Cánh buồm đỏ thắm” của Alexandr Grin sẽ khiến những ai thích đọc tiểu thuyết lãng mạn cảm thấy bị thuyết phục. Ngày nay quá nhiều bạn trẻ mải mê đọc các tiểu thuyết ngôn tình câu nước mắt, mà đã quên mất sự lãng mạn và ước mơ lãng mạn của tình yêu như thế nào. “Cánh buồm đỏ thắm” có thể gợi nhắc cho bạn sự lãng mạn ấy. Khi đọc nó, bạn có thể cười nhạo cái giấc mơ tình yêu về chàng hoàng tử với con thuyền có cánh buồm đỏ thắm, bạn sẽ tưởng tượng rằng cô ta sẽ mãi đắm chìm trong vô vọng và thích thú rằng mình là kẻ lõi đời. Nhưng một người yêu cô gái thật sự đã tự hóa thân mình thành chàng hoàng tử với cánh buồm đỏ thắm. Tình yêu thật sự với một người con gái không phải là mang cho họ tiền tài, danh vọng, mà khiến họ tin vào giấc mơ tình yêu. Và chừng nào còn hi vọng, còn giấc mơ tình yêu ấy, thế giới còn có sự lãng mạn và cái đẹp. Đừng tin những kẻ lọc lõi cời nhạo giấc mơ, bởi giấc mơ sẽ thành hiện thực khi có người thực hiện chúng.

Tôi đọc “Con nhân mã trong vườn” của Moacyr Scliar ngay sau khi phát chán với “Cuộc đời của Pi” và thứ đức tin mang tính lý thuyết. “Cuộc đời của Pi” nhận đủ thứ giải thưởng và lời tán dương, nhưng ít ai để ý rằng tác phẩm thật sự ảnh hưởng tới tác giả “Cuộc đời của Pi” chính là “Con nhân mã trong vườn”. Không phải câu chuyện về sự vật lộn trên thuyền cùng với đức tin như “Cuộc đời của Pi”, “Con nhân mã trong vườn” tạo cho chúng ta những cảm xúc phóng túng phó mặc thứ đức tin xa vời. Nhân vật chính sinh ra đã là một con nhân mã giữa loài người. Nhân mã bị giằng xẽ giữa thèm muốn đôi chân người hay tung vó ngựa giữa thảo nguyên mênh mông. Và nhân mã vì quá cô độc, sợ hãi, đã tìm kiếm cho mình đôi chân người, nhưng những giấc mơ về những con ngựa có cánh, tiếng vó ngựa và ký ức nơi đồng hoang vẫn ám ảnh kẻ đã từng là nhân mã ấy. Người ta bảo anh ta bị điên, rằng anh ta chưa từng là nhân mã, nhưng hơn ai hết một con nhân mã luôn nhớ mình là nhân mã. Câu chuyện giàu tính tượng trưng, và dù người ta gọi nó là hiện thực huyền ảo thì nó vẫn là một tiểu thuyết tượng trưng với rất nhiều biểu tượng gợi nhắc ta về giấc mơ tự do được là chính mình, tự do được phiêu du trong cuộc sống, tự do được hiện hữu.

Đông Phương Sóc - Book Hunter Club

Sách đọc ngày xuân: Tám ngàn rưỡi dặm, tiểu thuyết Nguyễn Bính...

Sách đọc ngày xuân: Tám ngàn rưỡi dặm, tiểu thuyết Nguyễn Bính...

Ngày xuân thong thả, có những cuốn sách mới bạn có thể dành mang theo hành trình du xuân hoặc để cạnh tay mình trong lúc đón xuân với thú “nhâm nhi” những trang viết thú vị...

Bìa cuốn sách Tám ngàn rưỡi dặm - Ảnh: L.Điền

Tám ngàn rưỡi dặm - 
tinh tế và kỳ thú

Mùa xuân, thời khắc khởi đầu cho những ý tưởng mới, và chắc chắn có nhiều cuộc hành trình đang ấp ủ từ trong những ngày đầu năm. Cảm hứng về những chuyến đi để đến, nghe, thấy và cảm nhận ấy sẽ được chia sẻ ở phong cách khoáng đạt cùng không ít suy tư tích cực khi đến với tập bút ký của nhà báo Tuấn Việt Tám ngàn rưỡi dặm (NXB Trẻ).

Dùng cách kể tối giản để biến câu chuyện của cá nhân mình thành ra đặc biệt với nhiều người, tác giả, thật may, là một người am hiểu tường tận nhiều vấn đề quốc tế nên mặc dù anh cố tình để cho mọi người thấy rằng “tôi chỉ nói ít thôi”, nhưng người đọc lập tức nhận ra rằng cái phần anh nói ấy chỉ là một hai mảnh nhỏ trong cả khối kiến thức anh đã gặp, 
đã biết.

Nhưng đó lại là một hai mảnh tinh tế nhất, kỳ thú nhất. Cho nên càng đọc người ta càng thấy hình như mình đi không được như vậy, mình chưa đi, chưa biết đến chỗ nọ chỗ kia.

Cái kiểu tác giả kể ra hàng loạt chuyện bất toàn của Paris để cuối cùng thuyết phục mọi người rằng Paris rất đáng yêu và phải làm sao để được Paris yêu, thì không phải ai đi du lịch (cho dù nhiều lần) cũng có thể làm được.

Đó là chưa kể ở tập du ký này còn hàng loạt câu chuyện hấp dẫn mà sau khi theo dõi những gì tác giả nắm bắt, người đọc còn có thể nhận ra đằng sau những chuyến đi hiền lành kia, đằng sau những trang sách chừng như chỉ kể chuyện cá nhân thôi, là cả một bầu tâm sự khác.

Điều gì làm nên giấc mơ Mỹ và giá trị của xứ sở tự do ấy rốt lại là như thế nào? Người Lào và “cảnh giới” của họ đang yên bình hay va đập với những láng giềng có bản tính trái ngược? Trung Quốc khổng lồ thật ra có gì và không có những gì cho khách du lịch tìm đến?...

Đằng sau những bước chân xuyên quốc gia là câu chuyện về một thế giới đang “phẳng” đến độ kéo gần các nền văn hóa lại với nhau và ẩn chứa biết bao tâm trạng về một chiều kích khác của thế giới, đó là sự khó lường của lòng người.

Bìa cuốn sách Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội - Ảnh: L.Điền

Khi Nguyễn Bính viết tiểu thuyết

Và, mùa xuân này sẽ có thêm một chút thú vị khi bạn đọc gặp lại một tiểu thuyết từng ra đời cách đây tròn 75 năm. Như một trùng hợp ngẫu nhiên, trong tiểu thuyết ấy có đoạn văn mà hiện nay đọc lên hẳn ai cũng thấy dường như mới lắm:

“Một đêm mùa đông rét lạ lùng! Rét ghê gớm! Rét rũ rượi! Rét tưởng chừng đến chết sạch cá ở hồ Hoàn Kiếm, đến chết cứng cả con rùa thần dám láo xược cướp mất thanh gươm báu của vua Lê Thái Tổ ngày xưa...”.

Văn phong trau chuốt, khí khái mà hiện đại ấy chính là tiểu thuyết Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội, của một tác giả rất quen nhưng rất lạ: nhà thơ Nguyễn Bính.

Nguyễn Bính làm thơ thì không ai không biết, nhưng một Nguyễn Bính viết tiểu thuyết và làm báo, đến nay không phải bạn đọc nào cũng tỏ tường. Tiểu thuyết này vừa được Tao Đàn và NXB Văn Học tái bản, trước đó NXB Lăng Tuyết từng in vào năm 1940.

Tiểu thuyết của một nhà thơ nổi tiếng là một khoảng trời riêng để mỗi người tự thưởng thức, chiêm nghiệm. Chỉ có thể hình dung rằng “hai người điên” chính là hai chàng thi sĩ sống bằng nghề viết báo.

Vẫn một Hà Nội đó, bảy mươi năm qua nghề viết báo vẫn còn, người làm thơ cũng còn, nhưng cung cách đến với tình yêu đã khác, chỉ có những đớn đau và khờ dại trong tình yêu là không lạc hậu bao giờ...

Bìa cuốn sách Túi - Ảnh: L.Điền

Tìm cảm hứng xuân trong tản văn

Một chút nắng vàng trong tản văn phương Nam cũng có thể là một lựa chọn với nhiều bạn đọc. Có cái tên gọn lỏn, Túi (NXB Văn Hóa Văn Nghệ) của Trần Huy Minh Phương như một cuộc gói ghém những cung bậc đời sống của Sài Gòn và vùng đất phương Nam qua cái nhìn của một người trẻ.

Là cư dân lục tỉnh đến “nhập cư”, Trần Huy Minh Phương có cái nhìn về thành phố theo kiểu của anh: “Sài Gòn cứ như cái túi rỗng khổng lồ mặc nhiên dâng tặng hết lòng mình cho những cư dân, cho tất cả hỉ - nộ - ái - ố mà nó không hề mặc cả”.

Tác giả viết tản văn như để cho chính mình đọc lại, bộc bạch chuyện gần gũi, riêng tư và hơn cả là chân thật. Nhưng chính điều chân thật ấy làm nên hình ảnh một người viết trẻ đang tỉ mẩn khơi ra, nhặt lấy, giữ lại những mảng miếng cuộc sống xung quanh mà anh là người trong cuộc:

“Tuần lễ cuối của tháng chạp, bà chủ trọ lì xì cho tôi một bịch gạo thơm 5kg. Nhành mai sắc tết lấp lánh trên nền màu bọc trắng ấy, chợt giật mình, tết sắp tới rồi à?!”.

Rất nhiều cảm hứng xuân trong tản văn của Trần Huy Minh Phương. Có lẽ một trong những lúc chuyển mình mạnh nhất trong năm của Sài Gòn là mỗi độ xuân về, thành phố của dân tứ xứ chợt đổi khác.

Người xa xứ gá thân mình vào phố đến lúc hết năm cũng thấy lòng mình chùng theo một hướng quê xưa. Phương gọi tết là dịp để phố “ngủ đông”, còn tác giả và bao người trẻ khác thì bắt đầu hành trình “du ca qua những miệt yêu thương” để trở về bản quán...

Theo Lam Điền - Tuổi trẻ online

​Sự kiến tạo xã hội về thực tại

​Sự kiến tạo xã hội về thực tại

Sự kiến tạo xã hội về thực tại - Khảo luận về xã hội học nhận thức của hai nhà xã hội học Peter L. Berger và Thomas Luckmann đến với độc giả Việt Nam.

Sách do NXB Tri Thức ấn hành

Một trong mười công trình xã hội học quan trọng nhất của hai nhà xã hội học Peter L. Berger và Thomas Luckmann đến với độc giả trong nước qua bản dịch của nhóm dịch giả Việt Nam, PGS.TS xã hội học Trần Hữu Quang chủ biên và hiệu đính. Đây là một trong những công trình xã hội học được đọc và trích dẫn nhiều nhất trên thế giới.

Như tựa đề của công trình, đây là một khảo luận về xã hội học nhận thức và điểm độc đáo của công trình này là nghiên cứu về tất cả các kiến thức, trong đó chú ý trước hết đến những “kiến thức đời thường” mà trước kia giới xã hội học thường bỏ quên do chỉ cho rằng đối tượng nghiên cứu của xã hội học nhận thức là những kiến thức, ý tưởng hoặc tư duy mang tính lý thuyết của con người mà thôi.

Khi đánh giá về công trình này, nhà xã hội học Pháp Danilo Martuccelli cho rằng đây là một trong những cuốn sách hiếm hoi mà người ta có ấn tượng rằng nó đã ít nhiều làm thay đổi cách nhìn của mình bởi nó mở ra một lối tiếp cận mới, gợi ra nhiều ý tưởng và nhiều chủ đề nghiên cứu mới. Hi vọng rằng công trình này sẽ giúp cho giới học tập và nghiên cứu khoa học xã hội có thêm một cách nhìn mới và ứng dụng hiệu quả vào công việc học tập, nghiên cứu của mình.

- Lê Minh Tiến - TTO

Hà Nội lần đầu tiên có phố sách Xuân

Hà Nội lần đầu tiên có phố sách Xuân

Thủ đô Hà Nội vừa công bố tổ chức phố sách nhân dịp Tết Nguyên đán sắp tới với mô hình như đường sách Nguyễn Văn Bình tại TP HCM.

Chiều 27.1, Sở thông tin và Truyền thông thành phố Hà Nội đã tổ chức họp báo công bố sự kiện Phố sách Xuân Bính Thân, hưởng ứng tinh thần phát triển văn hóa thủ đô của Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung.

Hà Nội sẽ có phố sách lần đầu tiên

Theo đó, phố sách của Hà Nội sẽ nằm trên con phố Lê Thạch, cạnh tượng đài Lý Thái Tổ (Tràng Tiền, Hoàn Kiếm) và hoạt động từ ngày 10.2 đến 15.2 (tức mùng 3 đến mùng 8 tháng Giêng).

Bên cạnh gian hàng của các nhà xuất bản với những đầu sách phong phú, những người mê văn hóa đọc còn được tham gia nhiều chương trình ý nghĩa ngày đầu năm. Như hoạt động Lì xì sách trả ơn đời nhằm khơi gợi thói quen tết sách như một nét đẹp văn hóa, bày tỏ sự biết ơn đối với sách và tri thức, với văn hóa đọc và trí tuệ của Thái Hà Books, lì xì Tâm thư pháp,...

Với những tín hiệu khả quan về văn hóa đọc của người Việt thời gian gần đây, ban tổ chức dự kiến phố sách sẽ thu hút hàng triệu lượt khách.

Theo H.G - Zing news

Jacques Dounes dắt chúng ta đi qua miền mơ tưởng Gia Rai

Jacques Dounes dắt chúng ta đi qua miền mơ tưởng Gia Rai

 

Những người ít nhiều có nghiên cứu về Tây Nguyên chắc chắn đều biết đến tên tuổi của Jacques Dournes. Ông là một nhà dân tộc học người Pháp, đã sống ở Tây Nguyên nhiều chục năm, gắn bó và hiểu biết sâu sắc về các tộc người Tây Nguyên, và đã viết nhiều công trình đặc sắc về họ.

Số người nước ngoài từng viết về Tây Nguyên trong ngót một trăm năm nay không ít, trong đó có lẽ nhiều nhất là người Pháp. Trong tất cả nhưng tác giả đó, J. Dournes chiếm một vị trí rất riêng biệt. Ông thường thích đi sâu vào thế giới bên trong của con người ở đây, cố gắng khai phá cái thế giới dường như không thực ấy, để từ đó soi rọi lại cái tồn tại nhìn thấy được của họ, hiểu nó một cách thấu đáo hơn. Cũng có thể lần tìm ra những liên hệ thầm kín bên trong, chúng cho phép ta hiểu rằng “những con người dường như chỉ hoạt động vì miếng ăn thường nhật này kỳ thực còn có những mối lo toan và những tư tưởng cao lớn hơn nhiều, khi ngọn lửa bùng lên trong bếp...”[1] Trong cái câu ngắn gọn này của J. Đournes viết cách đây đã hơn nửa thế kỷ, có thể nhận ra hai đặc điểm quan trọng trong lối làm việc của ông khi nghiên cứu về Tây Nguyên: ông nói rằng những con người ấy, mà ta ngỡ chỉ biết có việc tìm miếng ăn thường nhật, kỳ thực còn bị dằn vặt vì “những mối lo toan khác”, sâu xa và “cao lớn hơn nhiều”, tức là ông muốn nói đến những mối lo toan siêu thực của họ. Ông muốn đi vào, khám phá cái thế giới siêu thực ấy. Đi vào bằng con đường nào? Ông nói: cái thế giới tiềm ẩn đó “thức dậy khi ngọn lửa trong bếp bùng cháy”. Ông tìm nó bên bếp lửa nhà sàn. Khi bếp lửa nhà sàn bùng cháy, là khi người Tây Nguyên sống một đời sống khác: đời sống sinh động vô cùng của các truyện kể, các huyền thoại, tức đời sống ở thế giới tưởng tưởng, thế giới của mơ tưởng, thế giới ở “bên kia”, thế giới siêu thực, mà đối vói người Giarai thì, như J. Dournes nói, thế giới ấy “không phải ở trong tương lai, mà là ở trong hiện tại; là thế giới ở đây, đồng thời”. J. Dournes cũng chỉ ra rằng cái trải nghiệm (tức cuộc vật lộn thực của con người hàng ngày) và cái tưởng tượng thường ít nhiều tập trung vào cùng một chủ đề nhưng “lại không cùng một bản chất; chúng thường gắn với nhau, cũng có khi tách xa nhau, đến mức tạo nên một vết xé sâu. Khi đó huyền thoại không còn đi cạnh cuộc sống nữa; nó thay thế cuộc sống...”. Vậy thì, trong “du ngoạn qua miền mơ tưởng”, qua thế giới huyền thoại của những con người đó, không chỉ có thể lần ra một phương diện tiềm ẩn sâu xa trong con người họ, mà còn có thể nhận ra được “vết xé sâu” giữa cái thực tại xã hội và cái mơ tưởng của họ, khi vết xé ấy xuất hiện, tức là nhận ra những vấn đề của thực trạng xã hội này, thân phận xã hội đương tại của con người này: một khoa xã hội học thật thâm thúy!...

Suốt cuộc đời nghiên cứu tận tụy về Tây Nguyên của mình, J. Dournes đã chủ yếu đi theo con đường ấy. Nhưng chưa bao giờ hướng chú tâm và phương pháp nghiên cứu quán xuyến đó của ông lại tập trung như trong cuốn sách viết gần cuối đời này của ông, cuốn Rừng, Đàn bà, Điên loạn. Lần này ông dắt ta vào một hành trình thật tập trung: cuộc du ngoạn vào “miền mơ tưởng Giarai”, đi qua hàng trăm huyền thoại của họ; và ông nói rõ với ta rằng ở đây “không phải là những huyền thoại tầm nguyên”, tức những huyền thoại về nguồn gốc của con người, giống loài người, hay của dân tộc, mà là những huyền thoại về cái hiện tại, là những mộng mị của những con người đang sống hôm nay, đang hàng ngày sống một cuộc sống kép, vừa “trải nghiệm” lại vừa mộng mị “đồng thời”, đang hàng ngày “tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại”. J. Dournes viết: “Khi người ta kể một huyền thoại là người ta tự kể về chính mình theo một cách nào đó.”...

Rừng, Đàn bà, Điên loạn, nhìn qua có thể nhận thấy ngay tác giả đã chơi chữ khi đặt tên sách: cả ba từ này trong tiếng Pháp đều bắt đầu bằng chữ F, Rừng (Forêt), Đàn bà (Femme), Điên loạn (Folie). Một kiểu chơi chữ khá đắt. Tuy nhiên không chỉ là chơi chữ. Trong một chương gần cuối sách mang tên “Lại đi qua”, J. Dournes nói rằng có thể có nhiều lối đi qua (cái miền mơ tưởng ấy) bằng những tuyến liên kết các chủ đề khác nhau, nhưng ông đã quyết định chọn tuyến liên kết ba chủ đề này: Rừng, Đàn bà, và Điên loạn, mà ông cho là “quan trọng hàng đầu”.

Hãy thử nói về từng vế của tuyến đã được chọn đó.

Đàn bà - Xã hội Giarai là xã hội mẫu hệ, ba chữ m: [matrilinéaire] theo dòng mẹ, [matronymique] (con cái) mang họ mẹ, [matrilocal] (vợ chồng) cư trú phía nhà mẹ (vợ). Người đàn bà là rường cột của xã hội ấy. Bà là nền tảng sự ổn định của xã hội, Bà là “nội giới”. “Vương quốc” của bà là ở trong làng, ở đó bà là vị Nữ Vương (nên nhớ rằng ở Tây Nguyên, làng là cái phần tự nhiên đã được thuần hóa, đã thành của con người, đã mang tính người, ngược lại với rừng - như ta sẽ thấy sau đây). Còn hơn thế nữa, người đàn bà không chỉ là Nữ Vương của nội giới (tức là làng), bà còn là chính bản thân cái nội giới ấy, là cái phần tự nhiên đã được thuần hóa, đã mang tính người, đã ổn định, đã trở thành văn hóa. (Nên nhớ định nghĩa “Tất cả những gì không phải là tự nhiên, thì là văn hóa”, văn hóa là cái tự nhiên đã mang tính người). Cho nên, như J. Dournes nói, “khi người đàn bà ở bên ngoài, - tức ở ngoài chu vi của mình, ở trong rừng, thì cả xã hội bị uy hiếp”. Cái văn hóa bị lay chuyển. Bởi gì? Bởi cái tự nhiên hoang dã... Có hằng trăm huyền thoại Giarai nói về tình huống này. Khi đó người đàn bà sẽ “trượt” vào hai khả năng vừa tương đồng vừa trái ngược nhau: hoặc là người nữ bị lạc trong rừng, bị trở thành “dại”, bị rừng “chiếm” trở lại; hoặc ta sẽ gặp lại họ trong hình hài cô gái-rừng, người nữ-rừng (hoặc nữ-thú, nữ-thảo-mộc...), tức người nữ vốn sống một cách tự nhiên trong môi trường tự nhiên của mình là rừng. Con người đó sống ngoài mọi quy ước, chuẩn mực của xã hội, họ không hay biết gì, không cần hay biết gì về những chuẩn mực ấy.

Như vậy, người đàn bà vừa là tự nhiên vừa là văn hóa. Họ vừa là cái tự nhiên đã được thuần hóa, đã trở thành nội giới, trở thành làng, thành xã hội; đồng thời trong họ lại chứa đựng cái nguồn gốc tự nhiên của con người, và của cả xã hội. Cho nên ta sẽ không ngạc nhiên khi trả lời câu hỏi Drit, người anh hùng của hầu hết các huyền thoại Giarai, người đàn ông Giarai điển hình ấy, đi tìm gì trong các cuộc chinh phục không bao giờ dứt và thiên hình vạn trạng của mình, J. Dournes nói rằng chàng đi tìm con người nữ trong chính mình. Đi tìm cái cội nguồn tự nhiên của mình. Tự nhiên vốn mang tính nữ. (Và lạ thay, tự nhiên được thuần hóa cũng mang tính nữ. Ở một trang viết về cây lúa trong tộc người Srê, J. Dournes cho rằng có lẽ chính người đàn bà đã thuần hóa cây lúa vốn hoang).

(Có lẽ đến đây ta có thể hiểu thêm tại sao xã hội Giarai lại là xã hội mẫu hệ, tại sao các xã hội thường đều bắt đầu bằng mẫu hệ chăng? Ấy là bởi vì trong người đàn bà có ẩn chứa cả cái cội nguồn tự nhiên nguyên thủy của con người lẫn cái quá trình và cái kết quả con người thuần hóa tự nhiên cho mình)...

Vế thứ hai: Rừng.

Đối với người Giarai (và người Tây Nguyên), rừng là một thực tại kép, nước đôi, lưỡng nghĩa. Con người ở đây sống trong rừng, cùng rừng, gắn với rừng, hòa (tan) với rừng. “Nền văn minh Giarai là một nền văn minh thảo mộc”. Rẫy và làng là một phần cắt ra từ rừng, lấy đi của rừng bằng rìu và lửa (J. Dournes nói rõ: “không hề lãng phí cũng chẳng tàn phá, đúng vừa đủ để sinh tồn, bên cạnh và cùng các giống loài khác, động vật và thực vật”). Mọi thứ trong làng, trong nhà, mọi thứ để sống, cả về vật chất lẫn tinh thần, đều “làm bằng” rừng, lấy từ rừng: cột nhà, sàn và vách nhà, mái nhà...; cây cột trâu để tế thần, hạt lúa và cây rau để ăn, cây đàn để tình tự... Tất cả đều là rừng. Rừng vây bọc lấy con người, đi vào tận trong xương thịt máu huyết con người, thậm chí là một phần “bản nguyên” của con người.... Và khi làng đã dời đi nơi khác thì mảnh đất ấy sẽ trở thành khu đất gọi là rongol, một thứ đất ở trạng thái trung gian giữa làng và rừng,... nhưng rồi rừng bao giờ cũng mạnh hơn, rừng sẽ chiếm lại, và làng lại trở thành rừng. Rẫy cũng vậy. Người Giarai (và người Tây Nguyên) luân canh. Lấy ra hạt lúa từ rẫy, vốn là rừng, rồi họ lại trả đất về cho rừng, hoàn nguyên rừng, “không lãng phí, không tàn phá”. Đối với cái chết, người Giarai cũng có một thái độ đặc biệt lên quan đến rừng: Sau một thời gian chôn cất người chết, họ “bỏ mả”, trả con người ấy về lại cho rừng. Không chỉ làng và rẫy, mà cả con người cũng trở lại thành rừng.

Con người ấy bị vây bọc bởi rừng, từ khi chưa là con người... cho đến khi không còn là con người nữa. Như vậy, rừng không chỉ là không gian, rừng còn là thời gian. Rừng là sự vĩnh hằng, là cõi vô cùng, là sự không thủy không chung, nơi hun hút từ đó con người đi ra và nơi hun hút con người lại biến mất vào đó, biệt vô tăm tích. Là bản nguyên, là cội nguồn ở đầu bên này, nhưng cũng là cõi mịt mù thăm thẳm ở đầu bên kia...

Con người không bao giờ có thể thoát ra được khỏi rừng, cũng như không bao giờ có thể bức ra khỏi vòng tuần hoàn bí ẩn muôn thuở., bức ra khỏi cái hoang dã; luôn bị cái hoang dã ấy vây kín, cuốn hút...

Nhưng đồng thời, mặt khác, con người là người cũng chính bởi vì nó luôn có nhu cầu bứt ra khỏi cái hoang dã, bứt ra khỏi rừng, trở thành xã hội, trở thành văn hóa.

Đấy là một cuộc giằng co, sự níu kéo hai đầu vĩnh cửu, nó làm nên “nội dung” của cuộc sống con người.

Cuộc giằng co đó cũng diễn ra trên một “tuyến” khác: ở cái tính nữ hoang dã nguyên sơ - hiện hình nơi những cô gái-rừng - mà anh chàng Drit điển hình của huyền thoại Giarai luôn trằn trọc đi tìm trong chính mình, bị nó cuốn hút, như cái giếng sâu thăm thẳm của cội nguồn; đồng thời anh lại vừa không thể tách ra được con người nữ-nội giới văn hóa cũng là ở trong chính anh, cái làm cho là con người xã hội...

Từ đây, J. Dournes dẫn sang vế thứ ba: Điên loạn.

Ông viết: “... tôi muốn nói với những ai còn tin rằng con người có thể trở thành điên vì thiếu rừng thật cũng như vì quá dư thừa rừng bị ám”. Vậy đó, con người (con người Giarai ở dây) đứng trên một thế cân bằng kỳ lạ, và kỳ diệu: họ đứng “mấp mé” giữa làng và rừng, giữa văn hóa và hoang dã, giữa “cô gái-làng” và “cô gái-rừng”. Một thế bền vững được xây dựng trên thế nước đôi bấp bênh, một thế bấp bênh bền vững - hay như chúng ta thường gọi ngày nay, một thế bền vững “biện chứng”. Họ sẽ trở thành điên nếu thiếu “rừng thực”, một thứ điên khô khốc, tàn rụi, vì bị cắt đứt mất cội nguồn, không còn nghe được từ trong chiều sâu thăm thẳm của chính mình tiếng gọi cuốn hút ghê gớm của cô gái-rừng, của tự nhiên hoang dã nữa. Họ không còn huyền thoại nữa, không còn nghe, không còn kể, không còn tiếp tục sáng tạo ra huyền thoại. Họ cũng sẽ trở thành điên nếu để cho rừng tràn ngập và chiếm hết mình, cái hoang dã tràn lấn trở lại, không tự phân biệt được mình với rừng, thuần hóa cái phần rừng để làm người của mình, “bằng rìu và lửa”. Ngọn lửa của trí tuệ và văn minh...

Tuy nhiên, về chỗ này, cũng còn một điều cần chú ý. J. Dournes rất cẩn trọng, ông nói: “Nếu tôi dùng từ “điên”, ấy là tôi chỉ muốn dịch từ hüt, trong cái nghĩa mà người Giarai hiểu từ đó và trong những trường hợp họ ghi nhận tình trạng đó”. Và ngôn từ Giarai thì thật phong phú về mục này, có đến hàng chục từ khác nhau để chỉ những sắc thái khác nhau của tình trạng bất bình thường, ra ngoài chuẩn mực xã hội về tâm thần: từ ram (hâm), hling (kỳ cục), töpai rwa (xỉn), hwing (ngây), Mih müh(đần)... đến Swin (ngốc), yang nga' (bị ám), möhlun (dại)... cuối cùng mới là hüt (điên). Rồi hüt thì lại được chia thành hong(điên điên dại dại), hong hüt (người đã bị rối loạn tâm thần nhưng vẫn dịu dàng vô hại), và hüthüt được mô tả như sau: anh ta không sống trong xã hội, mà sống ở “nơi kia”; lang thang, không định lại được ở bất cứ đâu, anh đi hết nhà này đến nhà khác, giúp người ta việc này việc nọ; anh không biết sợ, cũng không biết xấu hổ, thường trần truồng; chẳng phải chịu trách nhiệm gì về hành vi của mình. Anh đã vượt qua một cái ranh giới nào đó không còn quay trở lại được nữa (ranh giới xã hội), tuy nhiên xã hội vẫn công nhận anh ta. Và J. Dournes giải thích vì sao: “... hẳn cũng cùng một lý do như khi xã hội yêu những lâm-nhân trong huyền thoại của mình, để tìm lại ở họ một sự thật mà nó vẫn tự che giấu (mọi con người đều phức tạp, nghĩa là đều tự phức tạp hóa cuộc sống của mình)”. hẳn hoi. Người.

Có một huyền thoại Giarai rất nổi tiếng tên là Giung hüt (chàng Giung điên). Giung là một lâm nhân thật sự, thật sự của rừng sâu, chứ không phải của vùng bìa rừng như Drit. Là một con quái vật chỉ có khuôn mặt hơi chút ít giống người, song anh ta lại có thể lột đi cái vỏ ngoài hì hợm của mình, nó khiến anh có thể sống yên ổn trong rừng, anh lột nó đi như người ta cởi quần áo và tự phô bày trần truồng và đẹp đẽ khiến một cô gái say mê; khi người ta “khám phá” ra anh ta như vậy, anh chẳng còn “điên” nữa, nhưng anh vẫn khiến dân làng kinh ngạc. Anh là một diễn viên tài ba, luôn làm chủ các trò diễn của mình; song còn hơn thế nữa, anh là biểu hiện ước muốn của con người được là chính mình, bất chấp các chuẩn mực và cấm kỵ...

Đến đây thì đã khá rõ: rừng có thể “ám” con người, làm cho con người thành điên, thành hüt... để cho con người có thể tìm lại được chính mình, cái sự thật mình vẫn tự che giấu, lột đi mọi lớp vỏ “phức tạp” mà xã hội mặc lên con người.

Và J. Dournes nói: “Sẽ không thể có bất cứ sự mô tả nào đúng về rừng nếu không tính đến cái chiều kích đó của nó, mà mọi người từng đi qua rừng đều thấy dậy lên trong mình, kể cả các nhà bác học nghiên cứu thảo mộc.”

Cuốn sách của J. Dournes, bằng một lối đi độc đáo, đưa ta vào một chiều sâu thật thú vị và cũng thật cơ bản của con người và xã hội Giarai - (và Tây Nguyên). Cuộc du hành ông dắt ta đi vào giúp ta nhận ra cái xã hội này, mà ta thường ngỡ là thô mộc và đơn giản, kỳ thực phong phú và sâu thẳm biết bao. Hẳn còn có thể nghiệm ra bao nhiêu điều lý thú và thiết yếu khác nữa trong cuộc “đi qua” này. Song có lẽ có một điều chung nhất có thể và thật cần nhận rõ: xã hội này, cũng như mọi xã hội có một chiều sâu văn hóa tiềm ẩn, luôn được xây dựng và tồn tại trên một thế cân bằng rất tinh tế, sự cân bằng của những yếu tố vừa đồng nhất vừa ngược nhau bên trong, mà xã hội ấy biết duy trì bằng một cơ chế tinh thần tinh vi. Những sự cân bằng đó là rất cơ bản, nhưng cũng rất nhạy cảm. Cần một sự hiểu biết và thận trọng tối đa đối với những xã hội như vậy, nhất là trong những tác động phát triển mạnh mẽ ngày nay.

Trong ý nghĩa đó, cuốn sách viết về một “miền mơ tưởng” chừng như phiêu diêu này, lại có thể có ý nghĩa rất thời sự.

 

Chú thích:


[1] Tạp chí Pháp Á - Năm thứ 5 - Mùa Xuân 1950 - Số tạp chí này được giành trọn để đăng một công trình nghiên cứu của J. Dournes về “Các dân tộc Miền Núi Nam Đông Dương”. Ở công trình này J. Dournes ký bút danh là Đam Bo. Trong một số Ngok Linh sau, chúng tôi sẽ xin giới thiệu tiếp với bạn đọc công trình này của DamBo.

 

Nhà văn Nguyên Ngọc


Việt Nam tham dự Hội chợ sách quốc tế Kolkata lần thứ 40

Việt Nam tham dự Hội chợ sách quốc tế Kolkata lần thứ 40
Đại sứ Tôn Sinh Thành và các quan khách tại quầy sách Việt Nam tại hội chợ sách quốc tế Kolkata. (Ảnh: Huy Bình/Vietnam+)

Lễ khai mạc Hội chợ sách quốc tế Kolkata lần thứ 40 đã diễn ra vào chiều 25/1 tại thành phố Kolkata, bang Tây Bengal của Ấn Độ, với sự tham gia của nhiều nhà xuất bản, trung tâm phát hành sách, nhiều tác giả đến từ hơn nhiều nước trên thế giới và đông đảo những người yêu sách.

Điểm đáng chú ý nhất là năm nay, Việt Nam tham dự Hội chợ sách nói trên với tư cách là khách mời danh dự.

Trong bài phát biểu tại lễ khai mạc, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Tôn Sinh Thành cho biết đây là lần đầu tiên Việt Nam tham dự hội chợ với tư cách là nước khách mời danh dự và thành phố Kolkata có các mối quan hệ lịch sự và văn hóa rất đặc biệt với Việt Nam.

Đại sứ bày tỏ hy vọng sự tham gia của Việt Nam sẽ đóng góp cho thành công của hội chợ, qua đó tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ. Nhân dịp này, Đại sứ gửi lời chúc thành công tốt đẹp tới Hội chợ.

Tham gia Hội chợ lần này, Đại sứ quán Việt Nam phối hợp với Cục xuất bản và Ủy ban đoàn kết Ấn Độ-Việt Nam bang Tây Bengal tổ chức quầy sách Việt Nam, trưng bày hơn 400 đầu sách cả tiếng Việt và tiếng Anh về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, về đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, các tác phẩm của của nhà văn Hồ Anh Thái. Quầy sách cũng là nơi trưng bày, giới thiệu đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam.

Hội chợ lần này còn có sự tham dự của các họa sỹ đến từ Việt Nam với các tác phẩm đặc sắc cùng đoàn nghệ sỹ của Đoàn ca múa nhạc Công an Nhân dân.

Đại sứ Tôn Sinh Thành, đại diện chính quyền bang Tây Bengal, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Ấn-Việt bang Tây Bengal G. Sharma cùng đại diện Ban tổ chức Hội chợ sách Kolkata và đông đảo hội viên Ủy ban đoàn kết, các độc giả yêu mến Việt Nam đã tham dự lễ cắt băng khai trương quầy sách Việt Nam.

Theo chương trình của Ban tổ chức hội chợ, ngày 28/1 sẽ là ngày Việt Nam. Trong ngày này, các nghệ sỹ Việt Nam sẽ tham gia biểu diễn nghệ thuật, giới thiệu về những tác phẩm đặc sắc ca ngợi đất nước và con người Việt Nam tại hội chợ. Trước đó ngày 27/1, sẽ diễn ra cuộc giao lưu giữa nhà văn Hồ Anh Thái với các nhà văn, độc giả Ấn Độ tại khu vực báo chí của Hội chợ.

Hội chợ sách Kolkata là một trong ba hội chợ sách hàng năm lớn nhất thế giới. Hội chợ năm nay sẽ kéo dài tới ngày 7/2/2015, dự kiến thu hút hàng triệu lượt khách tham quan và mua sách. Kolkata hiện cũng là trung tâm văn hóa lớn của Ấn Độ.

Trong sáng 25/1, Đại sứ Tôn Sinh Thành đã có chuyến thăm và làm việc tại thư viện Kolkata. Tại buổi làm việc, Đại sứ Tôn Sinh Thành đã đề nghị với ban lãnh đạo thư viện cho chuyển tất cả các đầu sách trưng bày tại Hội chợ trên chuyển về trưng bày tại Góc Việt Nam - khu trưng bày sách có vị trí trang trọng tại sảnh lớn của thư viện này. Ban lãnh đạo Thư viện Kolkata đã vui vẻ nhận lời.

Thư viện Kolkata là thư viện lớn nhất của Ấn Độ xét về lượng đầu sách khi có tới 2,2 triệu cuốn sách và là thư viện có lịch sử lâu đời khi được thành lập năm 1836. Hiện thư viện có hơn 300.000 đầu sách nghiên cứu điện tử./.
Theo Huy Bình - Vietnam+

Những cuốn sách bàn luận về sự siêu việt

Những cuốn sách bàn luận về sự siêu việt


Book Hunter: Chúng ta đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tâm linh, không phải của tôn giáo; của những hành trình cá nhân, không phải sự dẫn dắt. Nhưng trong thời buổi chuyển giao, nhiều cuốn sách về tâm linh và tôn giáo đang chỉ dẫn chúng ta sai đường hoặc đang dụ dỗ để ta rơi vào tù ngục tâm trí. Chúng tôi xin giới thiệu những cuốn sách, không phải để chỉ dẫn, mà là những cuốn sách đập phá mọi ảo tưởng, đó là những cuốn sách bàn về sự siêu việt. Sự siêu việt, ở đây, chỉ đơn giản là bay lên cao và rũ bỏ mọi nhơ bẩn của ảo tưởng mà thôi.

  1. “Nam Hoa Kinh” – Trang Tử

Để tóm lược đại ý về “Nam Hoa Kinh” không phải chuyện dễ, cũng như Thu Giang Nguyễn Duy Cần thừa nhận việc dịch cuốn sách này cũng không phải dễ. “Nam Hoa Kinh” là một luận thuyết bàn về những thực tại và sự lựa chọn thực tại. Thực tại chim bằng hay chim sẻ, thực tại của biển Bắc hay thực tại của sông Hoàng Hà, thực tại của sự vô biên hay sự hữu hạn… Tất cả những thực tại đó được mô tả bằng lối nói tượng trưng, bay bổng và dụ ngôn.

Những ai bám và chữ để bắt bẻ sẽ không hiểu được Trang Tử, thậm chí hiểu sai điều ông muốn nói. Với mỗi dụ ngôn của Trang Tử, ta phải nhìn thấy những thực tại đằng sau điều ông muốn nói. Tuy nhiên, điều này không thể khiên cưỡng, bạn không thể chọn thực tại của ngôn từ hay thực tại ẩn đằng sau ngôn từ ấy, bởi đó là cuốn kinh dành cho những tinh thần tiếp nhận thực tại của chim bằng, của biển lớn, không phải tâm thức của chim sẻ.

Rốt cuộc là bạn chọn thực tại hay thực tại chọn bạn, cũng là vấn đề được đặt ra trong “Nam Hoa Kinh”. Nhưng có hề gì, Trang Tử nói, loài nào cũng có sự tự tại của riêng mình.

Trích đoạn:

Kìa như gió thổi khiến muôn tiếng đồng nhau vang lên, nhưng mà lại khiến cho nó tự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là gì đấy? Biết một cách bao trùm rộng rãi, đó là hạng đại trí; biết một cách chia lìa vụn vặt, đó là hạng tiểu trí. Lời nói tổng hợp thị phi,  đó là đại ngôn, lời nói chi ly biện biệt, đó là tiểu ngôn.

(Bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần)

  1. “Bát Nhã tâm kinh” của Phật giáo

Đây là cuốn kinh ngắn nhất (chỉ có 260 chữ) nhưng tinh yếu nhất của đạo Phật. “Bát Nhã tâm kinh” là một phần của “Đại Bát Nhã” và bộ kinh này đã bị quân của Hồi giáo thiêu rụi. Bản “Bát Nhã tâm kinh” đã truyền tải được cốt yếu tính không của đạo Phật.

Bản dịch:

Như vầy một lần tôi nghe:

Thế Tôn ở thành Vương Xá trên đỉnh Linh Thứu sơn cùng với đại Tăng đoàn và nhiều chư Bồ-tát, vào thời điểm đó, Thế Tôn đã đang nhập chánh định về các Pháp giới phân biệt gọi là Cảnh giới trình hiện thậm thâm. Cũng chính tại thời điểm đó, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát, một đại thiện tri thức, thực hành thâm diệu Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa, ngài thấy được ngay cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng tự tính. Sau đó, thông qua năng lực gia trì của đức Phật, tôn giả Xá-lợi-phất thông bạch với thánh giả Bồ-tát Quán Tự Tại rằng: “Thiện nam tử nên phát tâm rèn luyện thực hành thâm sâu pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa như thế nào?”.

Khi điều này được hỏi, Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát đáp lời tôn giả Xá-lợi-phất rằng: “Này Xá-lợi-phất! Các thiện Nam tử, thiện nữ nhân phát tâm thực hành pháp Bát-nhã Ba-la-mật-đa thâm diệu nên thấy như sau. Họ nên soi thấy đúng đắn, xuyên suốt và tái lặp là đến cả năm uẩn cũng đều thiếu vắng về tự tính. Sắc tức là không, không tức là sắc. Không [hoạt hành] chẳng khác chi sắc, sắc [hoạt hành] cũng chẳng khác chi Không. Tương tự, thọ, tưởng, hành thức thảy đều là Không.

Xá-lợi-phất, bởi thế, mọi hiện tượng đều là Không – thiếu vắng các đặc tính xác định; chúng không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm.

Cho nên, Xá-lợi-phất, trong Không, không có sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức; không có nhãn, không nhĩ, không tỷ, không thiệt, không thân, không ý; không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp. Không có nhãn giới và vân vân cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh cũng không có diệt hết vô minh, và vân vân cho đến không có già, chết cũng không có diệt hết già chết. Không có khổ, tập, diệt đạo. Không có trí huệ, không có chứng đắc, cũng không có không chứng đắc.

Xá-lợi-phất, vì không có chứng đắc nên do đó Bồ-tát an trụ theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa. Vì tâm không uế chướng nên không sợ hãi, vượt khỏi sai lầm, đạt cứu cánh niết-bàn.

Tất cả chư Phật, an trụ trong tam thế tỉnh thức viên mãn và thấu suốt, cũng y theo Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa mà được vô thượng, chánh đẳng, chánh giác.

Do vậy, phải biết được rằng chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa – vốn là đại tri chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là ngang bằng với vô đẳng chú, diệt trừ được mọi khổ não – là chân thật vì nó không sai sót. Chú Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa được tuyên thuyết như sau:

tadyatha – gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!
(Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn vượt qua, tìm thấy giác ngộ)

Này Xá-lợi-phất, bằng cách này, các vị đại Bồ-tát nên hành trì trong Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu.”

Sau đó, Thế Tôn xuất khỏi chánh định và tán dương Thánh giả Quán Tự Tại Bồ-tát rằng: “Lành Thay!”

Ngài nói: “Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử, Đúng là vậy. Phải nên hành trì Trí huệ Bát-nhã-ba-la-mật-đa thâm diệu như cách ông nói. Ngay cả các Như Lai cũng đều hoan hỷ!”

Thế tôn nói xong, tôn giả Xá-lợi-phất, Quán Tự Tại Bồ-tát, toàn thể đoàn tùy tùng chung quanh, và giới chúng sinh bao gồm trời, người, a-tu-la, và càn-thát-bà đều hoan hỷ và tán thán điều Thế Tôn dạy.”.

  1. “Zarathustra đã nói như thế” – Friedrich Nietzsche

Zarathustra là đấng tiên tri đã sáng lập Hỏa giáo của Ba Tư, tôn giáo nhất thần cổ xưa nhất. Nhưng chúng ta hãy quên điều ấy đi, để đọc về một Zarathustra khác, một Zarathustra – đấng siêu nhân loại của Nietzsche. Zarathustra siêu việt trên thiện ác, trên mọi ràng buộc của vật chất hay tinh thần, Zarathustra không đại diện cho tiêu chuẩn của một đấng tiên tri, tự thân Zarathustra là sự siêu việt.

Trích dẫn:

“Ta rao giảng với các ngươi về Siêu nhân. Con người là cái gì cần phải được vượt qua. Các ngươi đã làm gì để vượt qua con người?

Cho đến nay, tất cả những sinh vật đều đã sáng tạo nên một cái gì vượt quá chúng, các ngươi lại muốn mình là nghịch triều trong cơn sóng lớn ấy, muốn quay trở lại với con thú hơn là vượt qua con người sao?

Con khỉ đối với con người là gì? Một đối tượng cười nhạo hay một sự hổ thẹn đầy đớn đau. Và con người cũng phải như thế đối với Siêu nhân: một đối tượng để cười nhạo hay một hổ thẹn đớn đau.

Các ngươi đã vượt qua con đường dẫn từ loài sâu bọ đến loài người, nhưng về nhiều phương diện, các ngươi vẫn còn là loài sâu bọ. Xưa kia các ngươi đã là loài khỉ và cả bây giờ nữa, con người còn khỉ hơn bất luận con khỉ nào.

Ngay kẻ hiền triết nhất trong các ngươi cũng chỉ là một cái gì phân tán và hỗn tạp: nửa cây nửa ma. Thế mà, ta có mời gọi các ngươi trở thành cây cối hay ma quỷ không?

Dịch giả Trần Xuân Kiêm

  1. “Câu chuyện vô hình” – Hamvas Béla

“Câu chuyện vô hình” đặt ra vấn đề của con người mới trong kỷ nguyên mới, con người của sự siêu việt khỏi con người, không phải là những mảnh vụn của đám đông. Kỷ nguyên mới là kỷ nguyên của những linh hồn toàn vẹn và hướng tới vô biên, của linh hồn Titan đạt tới linh thiêng. Bằng việc giải mã các biểu tượng cổ, Béla đã đặt ra các triết luận về con đường của linh hồn hướng tới sự siêu việt:

Trích đoạn:

Còn có một cái gì nhìn ra được của cái khác, sâu sắc hơn, bản chất hơn, bí ẩn hơn, một trải nghiệm, một cảm nhận, một sự thể hiện ra ngoài. Tâm linh từ một mặt khác nhận ra, trải qua và thấu hiểu được cái không nhìn thấy. Mặt không nhìn thấy, mặt vô hình này người ta gọi là tri thức. Bởi tri thức nằm bên trong, dấu kín trong sự vật, ẩn sâu trong hiện tượng. Con mắt tâm linh nhìn thấy tri thức của hiện thực, nhìn thấy ý nghĩa của hiện tượng, nhìn thấy, đằng sau vật chất là tinh thần, đằng sau thể xác là linh hồn. Nhưng cái nhìn tâm linh có thể nhận ra từ cái khác nữa. Bởi tâm linh không chỉ là nhận ra mà còn là tri thức… Con mắt có khả năng tâm linh nhìn thấy một lúc toàn thể thế giới, thống nhất và trong MỘT, ở nơi tất cả là MỘT. Như vậy nếu ai hỏi tâm linh( misztika) là gì, cần phải trả lời: là khả năng nhìn thấy, trải qua và hiểu được vào sâu thẳm, ẩn dấu đằng sau sự đa dạng vô tận của thế giới, đấy là cái DUY NHẤT MỘT của số nhiều.

Dịch giả Nguyễn Hồng Nhung

  1. “Kinh nghiệm Mật Tông” – Osho

Osho là bậc đạo sư của kỷ nguyên mới, cùng với Krishnamurti, ông đã mở đường cho những người hiện đại nhận ra con đường tâm linh đích thực đến từ chính họ. “Kinh nghiệm Mật Tông” là cuốn sách ghi chép lại bài nói chuyện của Osho về quá trình biến chuyển nội tại bên trong tinh thần của những ai bước đi trên con đường tinh thần. Đó không phải cuốn sách dậy về quá trình tu hành hay các triết luận, đó là trải nghiệm về sự biến đổi. Không phải biến đổi từ A sang B, từ có thành không, mà biến đổi từ một hạt giống thành bông hoa. Cuốn sách là một sự phù phép, khiến cho mọi điều bình thường và giản đơn đều nở bung tính chất siêu việt thần thánh của chúng.

Trích đoạn:

Bầu trời bao giờ cũng có đó. Cách tiếp cận của phương Đông là trở nên lưu tâm tới bầu trời. Cách tiếp cận phương Tây làm cho bạn ngày một tỉnh táo với mây hơn và giúp cho bạn chút ít, nhưng nó không làm cho bạn nhận biết về cốt lõi bên trong nhất của mình. Chu vi – vâng, bạn trở nên chút ít nhận biết hơn về chu vi, nhưng không nhận biết về trung tâm. Và chu vi là xoáy lốc; bạn phải tìm rat rung tâm của cơn xoáy lốc, và điều đó xảy ra chỉ qua chứng kiến.

Chứng kiến sẽ không thay đổi huấn luyện của bạn, chứng kiến sẽ không thay đổi cơ bắp thân thể của bạn. Nhưng chứng kiến sẽ đơn giản cho bạn kinh nghiệm rằng bạn vượt ra ngoài mọi cơ bắp, trong khoảnh khắc siêu việt đó, không vấn đề nào tồn tại, không vấn đề nào cho bạn cả.”

- Hà Thủy Nguyên - Book Hunter -

Trang 8 trong tổng số 16 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1868
mod_vvisit_counterHôm qua4973
mod_vvisit_counterTất cả4524879

20 190
,
Hôm nay:27 - 3 - 2017
Hiện có 262 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: