Nguyễn Sỹ Huynh

Nguồn: fb Nguyễn Man Nhiên

 

Bên cạnh hát bộ – loại hình nghệ thuật quan trọng không thể thiếu trong các dịp cúng đình cúng lăng, nét đặc sắc khác trong lễ hội cầu ngư ở các làng xã đồng bằng ven biển miền Trung là trò diễn hát bả trạo (có nơi còn gọi là chèo bá trạo hoặc hò bá trạo), một hình thức diễn xướng dân gian mang tính nghi lễ, gồm những hoạt cảnh múa hát thể hiện lao động, sinh hoạt của ngư dân trên biển cả. Chúng tôi xin giới thiệu dưới đây bài Hát Bả Trạo do đội Bả Trạo đình Trường Tây thuộc khóm Tây Hải, phường Vĩnh Nguyên, TP. Nha Trang biểu diễn trong lễ cầu ngư. Văn bản này do ông Nguyễn Sỹ Huynh, nguyên Chủ tịch UBND phường Vĩnh Nguyên, người sáng lập ra đội Bả Trạo của đình Trường Tây, cung cấp.

 

Hát bả trạo trong lễ hội cầu ngư – Ảnh: Văn Thành Châu

TỔNG MŨI GIÁO ĐẦU XƯNG TÊN :
BẠCH: Kỹ tại tranh phong thị anh hùng, điểm đầu kình nguyệt thủ thuyền trung, tứ hải nhĩ văn kình ngã lịnh, vạn nhơn vô địch võ phong ba.
XƯNG TÊN: Như ta là: lực hoàn toàn đấu hổ, tài củ củ tranh long, quản thuyền trung xông lướt giữa dòng, ngôi bửu tự thuyền đầu tổng mũi.
NAM XUÂN: Tổng mũi thuyền đầu quản thủ, bốn phương trời coi thú nước non. Kẻ: Cha chả là vui trời thanh biển lặng nam non, sóng êm gió mát vuông tròn say mê.
TRÀNG: Kim thu đương tiết giới, đầm vạn đáo lệ kỳ, tràng bá trạo đăng chúc tinh quy, tựu án sở lễ hầu tôn vị.
TRÀNG: Trước án trong quan miếu mạo hoài án tiền đăng chúc huy hoàng, tràng bá trạo nghiêm trang, xếp chèo vào bái yết .
TRÀNG: Thu thiên chí lệ, dân lạch cầu an, tràng bá trạo nghiêm trang dâng bốn chữ.
TRÀNG: Trên quốc gia thạnh trị, dưới dân sự bình an, tràng bá trạo nghiêm trang dâng bốn chữ.
TỔNG MŨI THUYỀN HÒ LẤY NEO:
Ớ bá trạo! Trời nam mây thuận, đất Việt người hòa, trên muôn năm thạnh trị Đảng ta, dưới trăm họ hưởng đời lợi lạc. Giờ tế lễ bắt đầu khai mạc, sử ngư châu thích bí lạc giao, giữa tổng thương quan sát mọi điều, sau tổng lái quy trì bổn bạn.
TỔNG LÁI XƯNG TÊN: Quan thiên văn đạc lộ, vọng tú thủy bôn hành. Như ta: Quản thủy trình nam bắc tung hoành. Ngôi bửu tự đà công tổng lái.
NAM: Tổng lái giữ gìn sau trước, thẳng một lèo xông lướt phong ba
NÓI: Hảo thanh sơn tú thủy tốt sinh hà
NAM: Núi xanh cây cỏ rườm rà
NÓI: Ấy vậy là thanh sang con như tú thủy thời
NAM: Nước trong sóng dợn gió hoà bốn phương .
TỔNG LÁI TRUYỀN HÒ LẤY NEO:
LỐI: Sao hôm đà dọn lặn (Canh cải) Tràng bá trạo gay chèo, trước tổng mũi lấy neo, sau mặc ta khiển lái.
NAM: Khiển lái giữa dòng biển thẳm gió thuận buồm mấy dặm xa xa. Mênh mông một dải ngân hà, thuyền lang tách dặm quê nhà càng trông.
NÓI: Ngàn ngày nhờ phước cả, một bữa phải gắng công, dầu nước ngược cũng xông, gặp gió ngang cũng lướt.
NAM: Cũng lướt phong ba bão tố, đứng anh hùng hổ bộ long phi.
TỔNG MŨI HÒ LẤY NEO:
HÒ: Sao hôm rày đã lặn rồi, anh em bước tới mở mồi lấy neo (hò khoan hò) Cồn dăng sóng bổ lố dây, bến Chụt Hòn Lớn biển này anh linh (hò khoan hò) Hạc nằm bàn án hạc trông, tai nghe tiếng hạc hoá rồng lên mây (hò khoan hò ) Ngó lên cờ phất thuyền xao, anh em lớn nhỏ đều vào nghe sanh (hò khoan hò) (Lỏng neo rồi )
TỔNG LÁI TRUYỀN:
LỐI: Hai bên kiếp khá gay chèo quế, một giờ qua mau dựng buồm lang, trước gìn giữ nghiêm trang, sau mặc ta giữ lái.
NAM XUÂN: Giữ lái duy trì bổn bạn sẽ tùy cơ phá lãng thừa phong, cùng nhau hiệp lực tâm đồng, theo dòng khuất khúc, đến vùng xa khơi.
NAM: Dọc ngang dưới nước trên trời, sóng ghê dạ sắt gió ngời lòng son.
NAM: Trăm năm tính cuộc vuông tròn, phải dò cho thấu ngọn nguồn lạch sông.
NAM: Bạn ta con cháu tiên rồng, phấn son tô điểm non sông mới là.
NAM: Lỗi lầm thì việc bỏ qua, vững chèo vững lái mới ra vững thuyền .
TRẠO BẮT BÀI BAN:
BẮT BÀI: Phiêu phiêu kỹ trạo ba, khinh khinh trục lượng ban
Lưỡng ban tề chỉnh túc, hươi trạo nhập láng xa.
LÁI NAM XUÂN: Láng xa qua miền lăng võ, nguyện thánh thần phò hộ bình sinh.
Trạo bài 2: Càn khôn lưu tú khí, hà hải xuất tôn linh, an phi đồ láng tịnh (á) Ớ ba độ giáng sinh.
LÁI NAM: Giáng sinh nước lành mến đức, điệu vui vầy thọ vực đài xuân.
Trạo bài 3: Khảm trung hành trung mạng, hành thuỷ thế lưu thôn, đảng địch nghi huyền hạ, uôn vuôn thế thanh long.
LÁI NAM: Thanh long thích dồi vẻ ngọc, ngàn năm trường long thi chúa trương.
NAM: Lòng thành dám tạc lửa hương, tả chinh hữu cổ một đường hầu linh.
Trạo bài 4: Đường đường thế nguy nga, phong kiểng đối sơn hà, hương đăng huy chiến diệu, nhật nguyệt đổ can qua.
LÁI NAM: Can qua hải hà bố đức, tứ tuế dinh hưu trước bồng di.
Trạo bài 5: Long đình võ thanh ca, hoà lạc cọng dá da. Anh linh thiên cổ đại, đại tiểu phước tam đa.
LÁI NAM: Tam đa nhà nhà phú quí, độ ngư thuyền”Túc thực túc y”. Túc trí đa mưu.
Trạo bài 6: Nghi vệ bớ nghi hào, nhơn nhơn hảo vô mau. Ngệ dân tim ân đức, ngư phủ phái ca diêu.
LÁI NAM: Ca diêu lễ hầu an tạ, nguyện thánh thần giáng hạ chiếu lâm.
NAM: Tỏ soi bổn vạn thành tâm, cúc cung tứ bái tửu châm Tam thần.
TỔNG LÁI TRUYỀN:
NÓI: Mái ba liền tiếp, mái nhì ta sẽ lần sang, nghe tiếng tổng tràng hò qua bài nhại.
TỔNG MŨI HÒ BÀI NHẠI:
Cung di từ tế tôn linh, cảm cung cầu chúc khí đơn đình xuất thân ( Trạo bắt lại )
Thuỷ tinh dồi dễ ngọc lân, Hải nam cự tộc thánh thần bồng di ( nt ).
Cứu dân độ thế ân thi, hải hà bố đức tầm thi ra tài ( nt).
Anh linh cổ giảng kim lai, tước cao đô đốc bia bài tướng quân ( nt ).
Miếu lăng chí lệ cầu ngư, lễ hầu an tạ vãng dưng trạo hầu ( nt ).
Tín thành trên dưới khẩn cầu, tinh minh đồng chúc phụng lầu cảm lâm ( nt ).
Dễ tường tạo hoá cơ thâm, những khi thác tục nước dầm sóng xao. ( nt )
Siêu phàm nhập thánh nhường bao, phò nguy tế hiểm đức cao ân thành. ( nt )
Trời thanh biển lặng ai ngăn, lòng hằng đã sẵn hiệp hằng càng vui. ( nt )
Thuyền lang đã tới lại lui, dưới trên mặt nước ngược xuôi theo nghề. ( nt )
Lên cồn xuống cửa tư bề, giã câu mành lưới ra về lao xao. ( nt )
Được mùa mành lưới ra vào, cá về đầm vạn lao xao vui vầy. ( nt )
Xưa kia khéo đặt biển (canh cải) này, may êm bất phức ghé đây cũng nhàn. ( nt )
Thuyền hộ cắt lái chạy ngang, ghé vào nước cuổi thành nhàn nghỉ ngơi. ( nt )
TỔNG LÁI TRUYỀN: Ngươn quan tranh đẩu, phúc dĩ huỳnh thiên, tràng bá trạo đình thuyền cho anh em tạm nghỉ.
TỔNG THƯƠNG XƯNG TÊN CANH THUYỀN:
BẠCH: Bạc sang siêu hải đối ngô tình, thủy bộ phong ba trí thái bình, oanh oanh liệt liệt hoành nam bắc, khẳng khái thuyền trung hữu duyệt thinh.
NÓI LỐI:Quan thiên thần khẳng khái, nỗ lực hoành hành.
Như ta là: Tổng Thương thị ngã danh quản thuyền trung canh thủ, đêm nằm chẳng ngủ, ngày đứng không an, mắt xem thời gìn giữ thuyền lang, tay đỡ nước coi đường giông gió.
NAM XUÂN: Giông gió đã từng xem xét, dọc ngang rành nam bắc, biển trần khi cạn lúc đầy, người đời khi thạnh lúc suy lẽ thường.
LỐI: Bá trạo nghe ta dặn,neo hai tua bện chặt, buồm ba cánh lăn tròn, chốn này rực rỡ lầu son, đặng ta sẽ nhàn du thích lịch.
LỐI: Bá trạo nghe ta dặn, hai bên thuyền đà cẩn thận,sau trước khá canh phòng, anh em ta khá hết lòng coi giữ canh giờ cho nghiêm ngặt. Thứ nhứt bỏ đi, thứ nhì do hà, thứ ba thổ khống .
CANH THUYỀN: Các chú không nhớ trong sách có câu “Hữu công dã thưởng, hữu tội tắc trừng” các chú đừng xao xuyến tôi đánh dập mật chẳng chơi .
LỐI: Bây giờ đà an việc nước một mình lão ngồi mát giữa trời, âu là ta mới khá thảnh thơi, hảo ngâm thơ nhất lực hà.
NGÂM: Hảo a: trời ngang nước nước ngang trời, rừng biển mênh mông lộng lộng khơi.
KẺ: Cảnh vật này đẹp thật trên thì núi, dưới thì nước chim bay cá lội vui đó mà.
NGÂM: Sơn thủy hữu tình sơn thủy họa, điểu ngư tương hiệp điểu ngư hoà.
KẺ LỐI: Họa lạ này: Chớ con chim chi chi đây, con chim cú như vậy phải đây mà.
NGÂM: Cú đỗ nhành mai xem rất lạ.
KẺ: Còn con chim chi nữa đây, À ! Con chim hạc.
NGÂM: Hạc đỗ mũi thuyền sủng áo tơi .
KẺ: Tôi còn nhớ trong sách có chữ dương ba thạnh trị chi thời vô vô thiết tả. À! Năng vô thiết tả nan lưu khách. Hải bất ba đào dĩ địch nhơn .
NGÂM: Thinh thinh tạo quế vòng tỵ thủy, phất phất buồm lang giữa biển đông.
NÓI LỐI: Bây giờ tôi xách cần đi câu kiếm một đôi con ca về nhậu chơi cho thoả dạ chớ như vậy thì tôi phải đi. Rượu một bầu lỏng lẻo vai mang, cần câu trúc cầm vào tay nọ.
NAM: Tay nọ nhợ go mồi bạt, chân giò lần gành hạt trỗi sang.
NAM: Lao xao sóng vỗ lố bàn, vui nghề vị thủy thanh nhàn tấm thân.
NÓI LỐI: Nhưng tôi nghĩ lại tôi buồn đường thủy trình sương sa lác đác, ở quê nhà ban tác khinh khi. Bổn phận mình việc phải ra đi, còn nghĩ lại thương con nhớ vợ.
Thôi để tôi uống một đôi chung rượu cho vui. Vì sách có câu rằng: “Bán dạ tam bôi tửu, bình minh nhất trản trà”. Dụng tửu phá sầu.
NGÂM: Hảo tửu hà. Thú vui chiều bãi lại mai gành.
NÓI LỐI: Tôi còn nhớ ông chi chi ngồi câu trên bàn khê đặng mà đãi thanh, ờ, ờ, hay là ông Thái Công chăng? như vậy tôi cũng bắt chước đây .
NGÂM: Sông vị ngao du hứng gió thanh .
KỂ: Thiên hạ người ta thấy những người như tôi mần ri, họ cười rằng không tài cán chi, ai tê mà rằng chớ như tôi đây là :
NGÂM: Sợi chỉ kinh luân gia đế đức.
KỂ: Hoạ là này con cá chi nó cứ rỉa miếng mồi hoài, mà giật không đặng, ăn đi con, ăn cho ông một đôi miếng chơi cho vui.
NGÂM: Miếng mồi danh lợi thả dòng xanh .
KỂ: Tôi còn nhớ thánh nhơn ngài có dặn: “Phú giữ quý thị nhơn chi sở dục, bất giữ kì đạo đắc chi bất sứ giả.” Ấy vậy là phải.
NGÂM: Chòm mây phú quý khi tam hiệp, ngọn sóng văn minh lúc bợt bồng.
KỂ: Tôi còn nhớ tục ngữ có câu: “Lòng sông lòng suối dễ dò, đố ai lấy thước mà đo lòng người”.
NGÂM: Ai biết ngọn nguồn sông mấy lạch , đào viên muốn hỏi có ngư ông.
NÓI LỐI: Thôi tôi không câu nữa để sửa cái chài đặng mà chài kiếm thêm chớ câu hôm giờ ít quá.
BẮT BÀI: Cầm chài mà vãi bụi tre, con gái mười bảy mười tám phải nghe ông già, ông già trên bảy mươi ba, làu thông kinh sử nên mà phải nghe.
BÀI: Cầm chài mà vãi cá quăng, cá quăng đã mất, tôi quăng cái chài.
NAM: Cái chài nuôi sống lâu dài, nay còn mai mất cậy ai giúp mình.
LÁI NÓI: Ớ tổng thương! bây giờ đêm đã khuya rồi, chẳng lo việc nước non cứ ngồi câu hoài hay sao?
THƯƠNG NÓI: Dạ dạ, lời chú lái dặn dò sau trước, bảo ta rằng tát nước thuyền lang, âu là oan mang chân lần bước xuống khoang, khẳng khái tay cầm gàu tát nước.
NAM XUÂN: Tát nước giữ gìn sau trước, tứ phương trời thao lược phong thanh.
NAM: Gắng ghi tấc dạ trung thành, bốn mùa xuân hạ lại rành thu đông.
THƯƠNG NÓI: Truyền Bá Trạo bôn ba, nghinh chư vị phong dinh tốc đáo.
HÁT KHÁCH: Hươi trạo tung liêu bích thủy hành, xông pha trục lãng đặng tường trình, hoành long thanh dạ lai hà thủy, tiếp nghinh chư vị đáo phong dinh.
NÓI: Mãnh hổ chơi mãnh hổ, độc trùng thị độc trùng
TẨU: An khả báo ân vạn khổ thiện tâm lao hà nại, ngãi tua đáp ngãi thạc lãng phú diêu thiên.
LÁI TRÀNG: Ớ tổng thương, có ta đây gạo thuyền dự bị tu chỉ hành trang, kiếp kiếp dựng buồm lang gay chèo quế bến giang trực đáo.
NAM: Trực đáo dòng biên chỉ dặm, thẳng một lèo biển thắm mênh mông, ớ anh em hàng thuyền ơi. Anh em đồng sức đồng lòng, gió ngang chẳng nệ, sóng cồn chớ nao.
THƯƠNG NAM: Bãi cồn biết mấy từng cao, đã dồi thẻ bạc lại trao khúc vàng. Như ta đây là, dốc lòng gìn giữ thuyền lang, cầu cho bạn lái muôn ngàn lợi thông.
NÓI: Khẳng khái xu tử vị,thung dung tựu nghĩa nan.
NAM: Non cao biển rộng ngày dài,ơn sâu nghĩa biển (ai ai đều nhờ) là trai anh hùng.
TỔNG MŨI HÒ BÀI NHẠI:
Trước làng sau vạn nguyện cầu, tế Ông lễ vật Trạo hầu nghiêm trang.
Phò trì bổn vạn bình an, lộng khơi mành lưới chở tràn khẳm ghe.
Hết Xuân rồi lại qua Hè, Thu Đông bốn tiết cá về vui say.
Miếu Lăng nay đã đến ngày, Cầu Ngư Thu tế lễ bày nghiêm trang.
Ngàn năm nổi tiếng Nam minh, Sấu Xà cũng phục, Ngạc Kình lánh xa.
Đại Nam trên mở sơn hà, nước giàu binh mạnh nhà nhà ấm no.
TỔNG THƯƠNG XEM GIÔNG:
LÁI NÓI: Nầy ta phú cho tổng Thương canh thủ nội thuyền,coi giông gió bốn phương nghiêm ngặt. Dông bớ tổng Thương giông (kêu ba lần) cha chả mới đó mà đã ngủ quên rồi sao, giông bớ tổng Thương giông.
THƯƠNG NÓI: Chi hử, để chùi cục ghèn cái đã.
LÁI NÓI: Giông giông ta đà thiu thỉu, sao chú lái không nhắc biểu đôi lời, để giông kia ứng đã mịt trời, âu ta biết làm sao cho kịp.
NAM: Kịp không kịp cũng nhờ sau trước.
KỂ: Ớ anh em hàng thuyền ơi, ráng mà chèo cho lướt gió giông.
LÁI KÊU GIÔNG: Giông phương nào ?
LÁI NÓI: Giông Bắc Chà Là bò qua còn giông Nam Đầm Già bò lại.
THƯƠNG NÓI: Đoái ngó thấy trời kia đà mịt mịt, trực nhìn thuyền nọ chơi vơi, chơi vơi rồi, ớ anh em hàng thuyền ơi, ráng sức đua bơi, mau tới chốn nghỉ ngơi kẻo mệt.
NAM AI: Kẻo mệt lại còn nguy khốn, sóng ba đào biết trốn nơi đâu, anh em hết sức nguyện cầu, Ngư Ông cứu độ mới hầu tồn sanh.
LÁI KÊU GIÔNG: Giông phương nào ?
LÁI NÓI: Ngó ra ngoài chướng.
THƯƠNG NÓI: Hằng nào mòi lượng trắng lăng, ớ anh em hàng thuyền ơi, lăn buồm cho nhặm kẻo giông mịt mù. Mịt mù dữ lắm không vừa, mòi đưa gió thổi dạ sầu nhiều nỗi gian nan. Gian nan mấy đoạn thiên trùng, mưa mai chưa dứt, bão bùng lại thêm.
KẺ: Thuyền chèo ngang qua biển, sóng dợn lớn tày non, âu là nó phủ quần áo ướt hết chẳng còn, anh em xê ra cho ta tát nước.
NAM: Tát nước coi đường giông gió, người ở đời có khó mới khôn, khó mới khôn,khôn rồi hết khó, ít ai từng miệng ngậm than.
KẺ: Thậm hảo chơn thậm hảo, chí oan nỗi chí oan.
NAM: Người đời ai khỏi gian nan, gian nan có lúc thanh nhàn có khi.
MŨI NÓI: Bác lái, bớ chú bác lái.
NAM: Bác ra cho khỏi gành Nghê, kẻo vào Cồn Cạn tứ bề lố giây. Trực nhìn lố thấy gần đây, bến giang thuyền đậu sum vầy thất gia.
NÓI: Hầu Thần rồi an tạ án tiền, Tràng Bá Trạo lui thuyền xếp mái.
ĐỒNG CHÚC: Chúng tôi xin kính chúc: Chúc thôn hương thọ tỷ nam san, Cầu Vạn Lạch phước như Đông Hải.