Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Văn học Trẻ

Lỗ Hút - truyện ngắn của Vũ Thị Huyền Trang

Lỗ Hút - truyện ngắn của Vũ Thị Huyền Trang

Cái rét nàng bân ngấm sâu vào mắt, tôi cứ tưởng rằng trong đôi mắt của mình là một hố sâu hút gió. Tôi lại nhớ về cái vực thẳm có sức hút của cõi âm có chấm xanh chấm đỏ bay mập mờ đầy ám ảnh. Tôi vẫn lao xuống chiếc vực ấy đầy hốt hoảng mỗi đêm, rồi tỉnh dậy trong ướt át mồ hôi… Tôi vẫn coi đó là định mệnh về một điều gì đó mơ hồ đối với tương lai tắc lối và đầy đau khổ.

Mẹ tôi mới mất, tôi tưởng mình đang rơi xuống đáy vực sâu ấy, không rơi hẳn xuống đất, cũng không thoát được, vẫn lơ lửng và ám ảnh. Mẹ tôi vẫn sống như một chiếc bóng trong nhà, bà hay đóng chặt những ô cửa sổ nhưng lúc nào cũng ngồi hướng về phía chúng. Mẹ sống bằng hồi tưởng nhiều hơn dù không bao giờ nói ra nhưng nhìn vào mắt bà tôi hiểu thế. Bà chẳng bao giờ ngồi nói chuyện với tôi như những người mẹ khác, cái cách mà bà chăm sóc cho gia đình mình như phục dịch. Bữa cơm nhiều khi chỉ có cha con tôi lầm lũi ngồi ăn còn bà thì cóp biết bao việc để làm, những việc mà tôi không thể nào lý giải.

Những suy nghĩ quẩn quanh về mẹ dẫn lối tôi đến bên bờ hồ Thành công. Gió rít từng hồi như gặm nhấm, ăn sâu vào da thịt càng làm tôi nhớ mẹ. Nó giống như cái cảm giác ngoài trời giá lạnh ai cấu khẽ vào tay đau đến tái mặt, Tôi vẫn có thói quen khi đứng trước cái mông lung khó hiểu của mặt nước, đôi khi gợn lên rồi lại phẳng lặng, bí hiểm, vừa khơi gợi vừa lạnh nhạt đến đố kị, bởi vậy tôi vẫn thường nhặt bất cứ hòn sỏi nào xung quanh mà tôi có thể với tới để ném xuống hòng khuấy nhiễu sự im lặng ấy. Những vòng nước loang ra xa xa dần rồi hoà lẫn. Tôi thích thú rồi lại im lặng, cứ thế, cứ thế…

- Phắn ra chỗ khác, làm gì có mà chờ mãi, không làm lấy gì mà ăn, há miệng chờ sung…

Tôi quay lại theo sự phản xạ tự nhiên sau một cái giật nẩy vì mình bẩm sinh tôi vốn hay bị giật mình như thế. Trước mắt tôi lúc ấy là một cụ già rách rưới và tiều tuỵ lắm. Rồi tôi quay đi ngay khi chưa kịp nhận rõ khuôn mặt ấy, có lẽ vì nỗi đau quá lớn tôi phải gánh chịu. Tôi bỗng thấy mình trở nên vô cảm, lãnh đạm trước mọi thứ trong cuộc sống.

- Đi đi! Thế đã đi chưa đấy hả, mẹ kiếp mất hết cả lãng mạn. Thôi quay lại đây đi em, nào… nào… ấy…

- Vâng! Đời tôi có lúc này lúc khác - cụ già tiều tuỵ ấy trả lời. Tôi lại giật thót mình, khắp người tôi những đường máu lạnh dọc theo cơ thể. Câu nói ấy vừa trỗi dậy, lục tung trí nhớ trong tôi. Câu nói ấy, giọng nói ấy hình như… Hình như là… Tôi quay ngoắt lại như bẳn năng vốn có.

Tôi gọi ra trong hơi thở không đủ mạnh để phát lên thành tiếng, đờ đẫn, hạnh phúc và đau khổ. Tôi cố hất cánh tay để cố xê dịch về phía trước mà sao nó nặng thế, đôi chân thì díu lại. Bố đi mất rồi. Kìa! Bố đi xa rồi kìa. Bố! Bố ơi.

Tôi nhớ mình đã ngồi tại chính bờ hồ ấy, chiếc ghế đá ấy để hồi tưởng lại một quãng đời nhỏ của mình về bố Tánh. Ngày ấy tôi mới học lớp 5, mụ mẫm và trắng trẻo. Cha mẹ tôi kinh doanh, buôn bán, suốt ngày tôi bị nhốt kín trong căn nhà năm tầng cao vợi so với tất cả những ngôi nhà xung quanh. Cổng khoá suốt ngày nên cả ngày tôi chỉ thèm nghe tiếng khoá mở và tiếng con cún Ki rên i ỉ khi biết chủ nhân về. Tầng 5 nơi tôi hay đứng là nơi ánh sáng tự do tràn về nhiều nhất. Nơi ấy bố mẹ cũng cho xây kín bằng những cây sắt cao hơn cả đầu tôi như lúc nào cũng định chọc thủng làn da bọc của trời và vươn lên mãi, nhưng lại bị sa lưới đứng đó mãi không thôi. Tôi vẫn có cái tham vọng lao xuống phía dưới nơi những nóc nhà lùn tịt, len lỏi… chiếc công tắc điện thì cao quá, bố mẹ chẳng bao giờ bật cho tôi cả, họ cứ tắt "cạch" trước khi bước chân ra cửa. Tối về tất cả các phòng đều sáng trừ phòng của con bé tôi nằm đầy trầm cảm.

Hồi ấy tôi không gấp hạc giấy, hay thuyền giấy như những đứa trẻ con khác, hay cả những người lớn cô đơn vẫn làm, vì tôi không thấy sông, còn những con chim giấy thì cũng không thể thoát ra khỏi bờ rào sắt mà bay xa được. Chúng sẽ ngã xuống như con chim non gặp bão, gãy cánh chới với rồi rơi xuống… dù chúng là những con chim giấy thì tôi vẫn cứ thấy mình độc ác. Nhưng sao tôi lại thấy thương chúng khi chính mình vẫn có cái khao khát khi được lao mình xuống như chúng chứ. Tôi không thể lý giải chính những mâu thuẫn tồn tại trong con người tôi, một con bé học lớp 5 ngày ấy nữa. bây giờ dù lý giải được nhưng tôi vẫn muốn huyễn hoặc mình rằng đó là một ẩn số và mãi mãi chỉ là một ẩn số mà thôi.

Việc làm hàng ngày và thường xuyên nhất của tôi là chăm lo cho mấy chậu cảnh mà ba tôi mua về vứt cong queo trên sân thượng tầng năm. Tôi không hề biết chúng tên gì và cũng không bao giờ thắc mắc hay hỏi ba, cái tính tôi nó thế. Thay vì điều đó tôi dành cả thời gian cho việc ngồi ngắm chúng, những tưởng tôi có thể nhìn chúng lớn lên từng giờ, từng ngày được. Tôi vẫn tự lẩm bẩm nói chuyện với loài cây cỏ gầy gò rằng: "Chị chẳng cần tất cả những thứ ấy mà chị vẫn sống, nhưng nếu không có chị chúng mày có sống nổi không? Có nhỉ? Ánh nắng mặt trời thì đã sao nào, nó có len lỏi vào đây được mà chọc ghẹo các em hay không? Không nhỉ? Nó còn chẳng làm cáu bẳn bất cứ sợi tóc nào của chị nữa là… Nhìn chúng chầu chực kìa, chắc là thèm được mon men mơn trớn đôi gót chân của chị lắm nhỉ? Cưng nhỉ?..."

Ba tôi chẳng hiểu vì sao không bao giờ nhìn thẳng vào mắt tôi cả. Phải chăng ông sợ tôi nhìn rõ những gì sâu thẳm trong mắt ông thì phải. Tôi sợ ông nhưng không hiểu tôi lại có cảm giác ông sợ tôi nhiều hơn.

Rồi một ngày… Ngày ấy nắng vẫn không vào mơn trớn được mắt tôi. Tiếng bát đũa, cốc pha lê, những bức tranh thi nhau đập vào tường, phát ra những tiếng kêu quái dị vì đó là âm thanh lần đầu tác động vào tâm trí đầy hốt hoảng. Bố đánh mẹ, thật sự tôi đã không thể chịu đựng nổi bất cứ một áp lực nào hơn nữa và hàng ngày những suy nghĩ nổi loạn đã xui khiến tôi nhìn về chiếc cổng sắt. lần đầu tiên thấy nó không khoá lại. Hình như nó muốn làm nhiệm vụ giải thoát cho ai đó…

Tôi không còn nhớ mình đã lao ra ngoài như thế nào nhưng bây giờ vẫn còn gợi lại cảm giác đói nôn nao, đời thật trớ trêu khi ấy tôi quá dư thừa ánh sáng mà lại thiếu đi nhiều thứ khác… Tôi lang thang như con thú theo bản năng hướng tới luồng ánh sáng phía sâu trong tầng hầm. Một lũ đánh giầy nhìn chằm chằm và lao vào tôi cấu xé. Chính lúc ấy Hương xuất hiện, trên tay cô bé chỉ có chiếc thìa ăn cơm và chiếc chong chóng tre mềm yếu.

- Rừng lại ngay! Ai cho chúng mày bắt nạt cậu ấy.

- A! lại con ranh nhà bán hàng cơm kia. Mày muốn chết à mà cứ chõ mũi vào chuyện người khác.

- Buông ra tao không muốn nói nhiều - cô bé nói cương quyết.

Tôi còn nhớ chúng thi nhau phản ứng quyết liệt. Rồi Hương đưa tôi về trước quán cơm nhỏ, nơi có một người đàn ông đang hì hụi đảo nồi cơm to như chiếc thùng phi đựng nước. Ông hốt hoảng ôm chúng tôi vào lòng, rửa mặt mũi, bôi vết thương và trộn cho hai đứa bát cơm rang đầy ú ụ, có lẽ đó là bữa cơm ngon nhất đời tôi. Sau một vài bận ông thôi không còn hỏi tôi về thân phận, tôi cũng không bao giờ nói nhưng ông vẫn thường nhìn tôi rất lâu, lúc tôi ăn và cả khi tôi ngủ. Cô bé bằng tuổi tôi vẫn đi hái những quả trứng cá chín đỏ mịn, thơm lừng dù nó mọc bên cạnh đống rác thải hôi rình. Rồi một hôm ông tổ trưởng tổ dân phố đến gặp người đàn ông cho tôi ở nhờ, lớn tiếng nới rằng:

- Chú nuôi thêm một đứa trong nhà mà không báo là sao? Chẳng nhẽ nó là cháu nội, cháu ngoại nhà chú sao?

- Vâng ạ! Cháu nó ở quê mới lên chơi ít bữa ấy mà anh.

Sao bảo chú mồ côi lưu lạc từ nhỏ, quê quán, anh em làm gì có, lại nhặt ở nó ở đâu về chứ gì? Ăn chả còn đủ rước vào thân làm gì cho khổ. Mà không rõ nguồn gốc chứ cứ lôi về rồi có gì nó "quốc lủi" hết đi cho.

- Ấy! Sao bác lại nói thế, nó trẻ con có biết gì đâu.

- Trẻ con à, làm loạn bây giờ toàn trẻ con cả đấy. Chú chẳng lo cho nhà chú thì thôi nhưng còn an ninh của cả tổ dân phố này? Chú phải đuổi nó đi ngay cho tôi nghe chưa, có chuyện gì xảy ra chú không chịu trách nhiệm được đâu.

Lúc ấy tôi đã khóc ướt nhoè khuôn mặt từ bao giờ mà không biết. Bỗng tôi nhớ mấy chiếc cây nhỏ trên sân thượng, không có tôi liệu nó có sống nổi không? Nhưng bên tai tôi tiếng người đàn ông lại cang lên.

- Đời tôi còn có lúc này lúc khác - Đây là câu nói của người đàn ông sau này tôi gọi là "bố", câu nói làm an lòng cô bé "tôi" ngày ấy và tôi của bây giờ. Đã lâu rồi tôi không quay trở lại quán cơm xưa vì ba tôi không thích. Ông bảo nơi đó không tốt cho tôi, dĩ nhiên là tôi không nghĩ thế nhưng lại không muốn làm ba buồn, mà thực ra tôi chẳng bao giờ quan tân đến cảm giác của ba tôi, chỉ là tôi không muốn đảo lộn cuộc sống thêm một lần nào nữa.

Tôi lang thang trên con đường về nhà, sao tôi lại sợ phải bước vào cánh cửa nhà đến thế, nơi ấy mẹ đã đi rồi dù chẳng bao giờ mẹ quan tâm, chăm sóc. Ba ư! Những suy nghĩ lại chất chồng lên đống giấy tờ, từ khi làm trưởng phòng kế hoạch bà chẳng mấy khi về nhà, có về cũng không đi đâu ra khỏi căn phòng có quả đấm cánh của to bằng cổ tay tôi. Nơi căn nhà ba chẳng bao giờ ăn chung một bữa cơm. Tôi bước vào trong nhà, lạnh lẽo đến khó tả. Việc đầu tiên tôi muốn làm là lên gác ba thắp hương cho mẹ, chẳng hiểu vì sao mẹ mất, bác sỹ bảo mẹ tai biến mạch máu não. Tôi thật sự bất ngờ.

Tôi nấu cơm và gọi ba ra ăn cùng, ông miễn cưỡng và ừ một cách nặng nề. Trong bữa cơm tôi cố tình gợi lại chuyện bố Tánh ngày xưa, ông dằn bát cơm xuống mâm rồi đứng dậy không nói một câu gì. Ánh mắt ông như loài báo đầy dữ tợn.

Tôi trở lại phố quán cơm xưa, không thấy hàng cơm của bố Tánh ngày ấy nữa, ở đó đã mọc lên một ngôi nhà đang xây dở đến tầng thứ năm, tôi chuếnh choáng.

- Bác ơi! Ở đây trước là quán cơm bây giờ chuyển đi đâu rồi ạ? - Dù hỏi nhưng tôi biết sẽ chẳng có địa chỉ nào cho cái quán cơm ngày xưa nữa.

- Quán cơm nào cơ?

Ông lão cười khẩy bắt tay ra sau lưng đi chậm như đếm vào mãi trong chồng xi măng cốt thép. Ngoảnh lại mà rằng:

- Bây giờ vẫn có người hỏi đến quán cơm? Hựt…Hựt… Muốn tìm ông ta thì ra bờ hồ mà nhìn, cái lão ăn xin ấy… Hựt… hựt…

Tôi quay đi trước khi nghe thêm bất cứ một lời nào nữa. Hà Nội có biết bao nhiêu bờ hồ, biết tìm bố ở đâu, ở đâu bây giờ. Tôi lại tìm đến bờ hồ Giảng võ, người ta chuẩn bị lưới để sáng mai quây cá. Tôi lại nhớ đến anh… Anh vẫn thường đợi tôi vào mỗi buổi sáng để cùng nhau đi bộ, khi ấy mùa xuân những loài hoa ở hai bên đường thức giấc, anh vẫn bảo tôi rằng: "Em đẹp như hoa", tôi bướng bỉnh giả vờ giận dỗi "Hoa đẹp như em chứ". Anh cười "Ừ nhỉ! Anh ngốc quá!". Mùa hạ, buổi sáng trong và mát hơn, anh nói về công việc, những thành công và cả những điều anh chưa làm đựơc. Mùa thu chúng tôi cùng nói về "ngôi nhà và những đứa trẻ". Rồi mùa đông đến anh nắm chặt tay tôi hơn, trên mặt hồ vài con cá chép đỏ như muốn lấy bộ da của mình làm mặt trời sưởi ấm cho hồ nước. Anh nói: "Anh sẽ chẳng bao giờ để đôi bàn tay em lạnh". Rồi bốn mùa này lại nối bốn mùa kia, anh xa tôi từ lúc nào tôi không kịp nhận ra. Chỉ sau một buổi chiều nói chuyện với bà tôi tại chiếc bàn tiếp khách trước sân nhà, khi nhận ra điều đó tôi có hỏi nhưng chẳng bao giờ anh nói.

Tôi đã đi dọc vài ba bờ hồ mới thấy bố Tánh, khi trời đã gần khuya, mọi người đã về hết chỉ con vài ba đôi trai gái. Bố đã nhận ra tôi trước khi tôi nhận ra ông, đúng vào cái lúc tôi đang ngó nghiêng xung quanh thì có một bàn tay chìa ra và rụt vào rất vội, tôi quay lại vừa kịp lúc bố định quay đi.

- Bố! Bố Tánh ơi, con đây mà bố.

- Không! Tôi không quen cô.

- Con, Lan đây mà bố, Lan vẫn thích ăn cơm bố trộn và quả trứng cá do Hương hái. Con đây mà!

- Tôi không có con, con tôi chết rồi. Tôi không quen ai tên là Lan hết. Cô đi đi, để phận hèn tôi yên.

- Bố đừng như thế nữa mà, nếu con có lỗi gì xin bố hãy tha thứ cho con. Xin đừng hắt hủi con như thế. Mẹ con mới mất rồi bố ạ.

Ông quay lại nhìn chằm chằm như muốn nuốt chửng tôi.

- Cô nói sao cơ? Lành làm sao cơ?

- Mẹ con chết rồi!

- Trời! Lành ơi sao em bỏ tôi mà cam lòng, tại sao em lại từ bỏ cuộc đời còn tươi đẹp thế này. Sao mọi người thân thiết nhất cứ bỏ tôi mà đi hết thế này. Em ơi, Lành ơi! Tôi không tin…

Bố Tánh hét lên tưởng có thể làm giật nảy cả bóng đêm. Tôi bàng hoàng không hiểu tại sao bố nuôi lại đau đớn trước cái chết của mẹ tôi đến vậy. Trong khi ông gặp mẹ có một lần, ngày ấy bà đến đón tôi về. tôi không kịp suy nghĩ gì cho mọi chuyện thì bố đã ngã quỵ trước mặt tôi.

Đêm ấy trong bệnh viện đã là đêm đảo lộn nhất của cuộc đời tôi khi màn dối che đậy bao nhiêu năm cuối cùng cũng được phơi bày. Bố nuôi tôi được người ta đưa vào phòng cấp cứu, ông phải thở ô xy. Bác sỹ nói bố bị suy nhược một cách trầm trọng huyết áp tăng và có thể…

- Bố chẳng còn sống được bao lâu nữa con gái ạ. Bố sắp theo Hương đấy, mấy hôm trước ngủ gật ở ghế đá lạnh và đói, bố thấy nó rón rén đắp chăn và mang cơm trộn cho bố ăn. Nó bảo nó nhớ bố và muốn được đón bố về cùng.

Tôi không nhớ mình đã khóc bao lâu nữa, khóc nấc lên suốt những lời bộc bạch thú tội đầy yếu ớt của cha nuôi. Hương chết lúc chạy theo ông sang đường khi ông bị một toán người lạ mặt kéo đến một nơi ông không hề biết đến. Khi làm ma Hương ông không có mặt, nghe người dân quán cơm kể khi chết Hương vẫn cầm trên tay chùm trứng cá chỉ có một vài quả chín. Bố Tánh ho lên vài tiếng rồi nặng nhọc thở, giữa hai con mắt trũng sâu tiều tuỵ nghèn ra hai giọt nước mắt đục ngầu như nước vo gạo.

- Bố đã nói dối con, con còn nhớ ngày mẹ con đến đón con, không hiểu sao trước vẻ đẹp đầy bí ẩn của mẹ con đã khiến những xúc cảm dục tính đã chết từ hồi mẹ Hương qua đời trỗi dậy một cách mạnh mẽ, và có lẽ bố cũng đã gợi lên cho mẹ con một điều gì tương tự, mấy ngày sau cô ấy tìm đến bảo là để hậu những gì bố đã nuôi con. Cả những lần sau cùng với biết bao nhiêu lý do khác. Bố… Bố… Bố…

Tôi vụt chạy ra khỏi phòng cấp cứu, ra đến cửa tôi không biết sẽ phải chạy lối nào. Mọi thứ trước mắt tôi như xụp đổ. Mẹ tôi chưa một lần âu yếm, ôm ấp tôi, chưa một lần gọi từ "con" xưng mẹ ngọt ngào như người ta. Chẳng bao giờ bà nấu bữa cơm để đợi cha về cùng ăn, cũng như mẹ chẳng bao giờ nói dịu dàng với ba một tiếng. Vậy mà… Còn bố Tánh, còn Hương, còn tôi nữa, sao con người cứ phải dính vào nhau như một mớ bòng bong để rồi đứt một dây là rối tung cả mớ.

Ngay trong đêm hôm ấy bố Tánh mất, khi các bác sỹ tìm tôi về bố chỉ kịp nói một câu…

- Bố biết đời bố cuối cùng là một lão ăn mày. Nhưng bố vẫn có một mong muốn sau cùng là mong con tha thứ, là khi bố chết đi hãy để bố được gần mẹ con, thật gần con nhé. Tha lỗi cho bố nghe Lan.

Tha lỗi ư? Tôi không muốn tha lỗi một chút nào, tôi cũng muốn mình đem lòng hận thù vì tôi đã đặt niềm tin đầu tiên không đúng chỗ. Chỉ mình tôi đứng ra lo đám tang cho ông, đặt ông nằm cạnh mẹ, tôi thấy thương cho người cha còn đang sống sờ sờ.

Làm tang cho bố Tánh xong xuôi, tôi lại trở về nhà trong bóng đêm. Và bóng đêm bao giờ cũng ác. Chờ tôi về nơi chiếc cổng sắt lạnh lùng hơn hai mươi năm nằm như nhân chứng cho sự cô độc trong tôi. Tôi mất hết thật ư? Không! Tôi còn ba, ít ra cũng còn một người ruột thịt. Tôi muốn nhìn thấy ba sau bao ngày lang thang không gặp. Chưa bao giờ tôi cần ba đến thế, tôi cần ba để níu giữ cõi dương này, lấn áp đi cái thế giới âm đầy nỗi buồn và tội lỗi. Tôi bước thật nhanh lên tầng hai nhưng đến bên phòng ba, tôi lại rụt rè không dám gõ cửa, mấy lần giơ tay ra rồi lại rụt lại. Ba ở rất gần tôi, lúc nào cũng rất gần tôi, chỉ sau cánh cửa kia thôi là tôi có thể ôm ba khóc thoả thuê suốt hơn hai mươi năm thiếu thốn tình thương. Tôi muốn… Tôi sẽ… Nhưng… Nhưng tôi không thể…

Ba ơi! Sao bao nhiêu năm trời ba không gần gũi yêu thương con. Con biết ba bận bịu để lo cho gia đình này, để xây cao nữa những ngôi nhà của chúng ta, nhưng cao nữa để làm gì khi tầng dưới vẫn cũ kĩ và rêu mốc. Mà tầng thượng nơi nuôi dưỡng tuổi thơ con cứ mỗi ngày lại chuyển dần lên cao, mỗi lúc di chuyển, lại một lần thiếu hụt. Cao làm gì khi lúc nhỏ trong căn phòng con chẳng bao giờ có ánh điện, có tiếng bước chân, ngay cả bước chân của chính con cũng ít. Có tiếng nói cười rủ rỉ và tiếng cười từ con búp bê biết nói. Ba đừng nói rằng ba không yêu con theo cách ấy… Vậy ba yêu con theo cách nào khi mà ngay cả ánh mắt, tiếng cười, bàn tay mẹ trong căn nhà này ba cũng không biết níu giữ hay vì ba không muốn… Để cho một người dưng, một người hàng cơm thậm chí còn là một người ăn xin chiếm đoạt. Ba giầu để làm gì? Người ta hơn ba là có một tấm lòng, một trái tim. Còn ba… Những thứ đó ba để ở đâu rồi… Tôi không thể bước vào phòng ba, vậy tôi phải đến gõ cửa căn phòng nào trong ngôi nhà có quá nhiều căn phòng trống. Tôi gõ cửa phòng tôi ư? Không! Tôi sợ lắm! Sợ căn phòng lạnh lẽo ấy vô cùng, nó lạnh lẽo hơn cả những bóng ma. Và phòng mẹ ư? Tôi cho đó là cõi âm mà mình không hề muốn bước chân vào. Liệu mẹ có ở nhà trong bát hương nghi ngút khói hay không? Mẹ toàn bận đi những mảnh đất nào xa lắm, làm sao còn biết mẹ ở đâu mà tìm thấy…

Điều đó hối thúc tôi nắm chắc quả đấm cánh cửa và khẽ khàng mở. Mùi nhang làm tôi ngạt thở, tôi vốn ghét mùi hương nhang từ nhỏ. Mẹ không hiện về đấy chứ? … Đừng! Đừng! Tôi rất sợ… Giữa căn phòng nghi ngút khói hương tôi nhận ra thấy bóng một người. Người hay ma nhỉ? - Tôi co rúm người và rồn rập trấn tĩnh. Không! Đó là một người đàn ông… Nhưng ai chứ? Đó không phải ba tôi, ba tôi to béo hơn cơ, mấy ngày trước tôi còn nhìn thấy ba mà. Ai? Ai? … Những câu hỏi rồn rập như nhịp tim tôi.

- Em hãy tha lỗi cho tôi, tôi không hề muốn đẩy em đến con đường cùng như vậy. Thật lòng tôi vẫn rất yêu em. Vì yêu em và lòng hiếu thắng nên tôi không thể để em ngã vào vòng tay một người đàn ông khác. Thằng cha ấy đáng phải thế, lần thứ nhất nó cướp đi tình cảm của con gái chúng ta. Cái Lan nó có bao giờ gọi tôi ngọt ngào là bố đâu, từ khi tập nói em có uốn thế nào cũng không bao giờ gọi thế. Em cứ trách: "ba" và "bố" có khác nhau gì đâu, nhưng dân bắc cứ gọi "Ba! Ba!" sao mà ghét thế. Vậy mà nó lại gọi một thằng hàng cơm là "bố" một cách ngon lành. Còn em nữa, tôi lo cho em thiếu thốn gì mà em lại… Trời ơi! Người ta có thể lý giải gì cho trái tim con người, em hãy nói giùm tôi với… Hỏi làm sao tôi không trở thành độc ác, Phải! Em cứ chửi tôi đi, cứ đay nghiến tôi đi. Đúng là tôi đã tống khứ hắn ra đường, đập tan cái quán cơm lụp sụp mà nơi ấy nó đã cướp hai người thân yêu nhất. Em ghét tôi ư? Em thù tôi ư?... Ba tôi gầm lên như con thú dữ, ông lồng lộn trong cái tối mờ mờ và mùi nhang khó, cùng chiếc đèn thờ đỏ nhợt, mắt tôi chừng như chưa hề cử động. Ba tôi đấy ư? Không! Đó không phải là con người… Tôi muốn xông vào xé nát cái bóng kia trước bàn thờ mẹ, tôi muốn cho ba tôi phải trả giá cho tất cả. Lòng căm hận trong tôi như một ly nước càng rót càng tràn. Nhưng tôi không đủ sức nữa rồi, hình như tôi vừa bước ra khỏi căn phòng ma quái ấy. Ở nơi ấy chỉ có cõi âm thôi mà sao cứ đeo đẳng mãi trên đôi mắt nặng trĩu của tôi… hình như tôi vừa bước từng bậc thang lên tầng thượng. Nơi có những loài cây bé xíu, bé như thân phận chúng. Những đốm xanh, đốm đỏ như giấc mơ thuở nhỏ kia kìa! Trông giống như những trái bóng muôn màu.

Kìa! Mẹ tôi kìa! Bà nhìn thấy tôi sao không cười nhỉ? Bà xa tôi lâu rồi mà không thấy nhớ sao? Kìa! Mẹ hãy ôm con đi. Ôm con vào lòng đi. Con xin mẹ. Hương ơi cậu lại rủ tớ đi hái những quả trứng cá đấy à? Đang mùa chín rộ phải không? Tớ yêu cậu lắm đấy! Mà vết xe đâm cậu đã đỡ chưa? Để tớ xoa cho cậu nhé. Bố Tánh ơi! Bố hãy dẫn mẹ con đi dạo trên những con đường đầy hoa Sữa, mẹ con chắc chưa bao giờ đủ thanh thản để đi dạo như thế đâu bố ạ. Anh ơi! Bốn mùa lại nối tiếp bốn mùa, bàn tay em vẫn lạnh và "hoa vẫn đẹp như em".

Ba ơi! Nếu con cầm được tay ba, con sẽ gọi ba bằng bố. sao chẳng bao giờ bố nói với con những điều bố nghĩ… Từ giờ con sẽ ở bên bố, nếu… nếu… con có thể cầm được tay bố bây giờ. Kìa cái lỗ hút của những giấc mơ cứ cuốn con vào rồi xoáy tít… Bố ơi! Hãy níu lấy tay con đi kẻo con không còn thấy bố như lúc trước… Kìa bố! Bố ơi…

Tôi đẩy tôi vào lòng tôi

Tạo thành lỗ hút

Lỗ hút xoáy tôi vào lỗ hút…

Tôi lạc lối

Quay cuồng.




Thủy thủ tàu biển đoạt giải nhất "Văn học tuổi 20"

Thủy thủ tàu biển đoạt giải nhất

Vượt qua gần 200 bản thảo tham dự cuộc vận động sáng tác dành cho người yêu viết lách, chàng kỹ sư điện 34 tuổi, làm việc trên tàu viễn dương, đoạt giải cao nhất với tiểu thuyết mang tên "Biển".

Lễ trao giải cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần thứ tư, diễn ra sáng 5/9 tại Tòa soạn báo Tuổi Trẻ, TP HCM. Sự kiện văn học này thu hút hàng trăm độc giả, cùng nhiều nhà văn tham dự.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (trái), giải nhất Văn học tuổi 20 lần 2 (năm 2000) chia sẻ niềm vui với tác giả Trương Anh Quốc.


Trước khi diễn ra lễ trao giải, Ban tổ chức cuộc thi chỉ công bố tên 9 tác giả và chưa thông báo thứ hạng. Vì thế, buổi lễ mang đến nhiều bất ngờ và thú vị với người dự. Khi Trương Anh Quốc được xướng tên là người đoạt giải cao nhất, nhiều tiếng vỗ tay từ hàng ghế khán giả vang lên chúc mừng anh.

Trương Anh Quốc là gương mặt vừa lạ vừa quen với giới viết lách. Lạ vì như tác giả này tự nhận, viết lách không phải là nghề chính của anh. Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kỹ thuật, ra trường với tấm bằng kỹ sự điện, Trương Anh Quốc bắt đầu công việc qua những chuyến lênh đênh trên tàu viễn dương. Nhưng anh lại là "người quen" vì chính từ công việc này, chàng trai xứ Quảng viết được tập truyện ngắn "Sóng biển rì rào", đoạt giải nhì Văn học tuổi lần 3 (2005). Sau đó, Trương Anh Quốc còn cho ra mắt tập truyện "Lũ đầu mùa" (2008), và có nhiều tác phẩm in trong các tuyển tập.

Trương Anh Quốc từng đoạt giải nhì cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần 3 vào năm 2005 với tập truyện ngắn "Sóng biển rì rào".

 

Chuyến hải trình đầu tiên của Trương Anh Quốc bắt đầu từ năm 2003. Anh chia sẻ, mình đã được đi gần như vòng quanh thế giới. Những chuyến dọc ngang châu Á, châu Phi, châu Mỹ... trên lộ trình hàng hải giúp tác giả 34 tuổi bày tỏ những trải nghiệm khác nhau của mình qua tiểu thuyết "Biển", tác phẩm đoạt giải cao nhất Văn học tuổi 20 năm nay.

Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên ban giám khảo cuộc thi cho rằng, tiểu thuyết "Biển" là cuốn sách hay và độc đáo. Theo ông, thoạt đầu người ta có thể ngỡ "Biển" là tập truyện ngắn hoặc bút ký. Tuy vậy, càng đọc, chất tiểu thuyết của cuốn sách càng lộ ra, cho thấy một vốn sống giàu có, mạnh mẽ và sâu sắc... "và điều đáng quý là dù giàu vốn sống và tích lũy được nhiều tư liệu thực tế, nhưng Trương Anh Quốc viết súc tích, nhẹ nhàng chứng tỏ bản lĩnh của một ngòi bút", nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét.

9 tác giả đoạt giải Văn học tuổi 20 lần 4, từ trái qua: Võ Diệu Thanh, Trương Anh Quốc, Nguyễn Thị Mạnh Hà, Hương Thị, Nguyễn Thiên Ngân, Mai Anh Tuấn, Thiên Di, Đỗ Duy và Hải Miên.


Chia sẻ niềm vui thắng giải với mọi người, Trương Anh Quốc cho biết, viết lách với anh là công việc của cảm xúc và anh không phải chịu bất cứ áp lực nào khi sáng tác.

"Do công việc suốt ngày lênh đênh trên biển. Tôi không có thời gian để tìm hiểu về cuộc sống và tâm tư của người trên bờ nên đành chọn biển và cuộc sống trên biển làm đề tài. Tôi chỉ dám viết về những gì mình am hiểu chứ không dám viết về những gì mình còn lơ mơ", thủ khoa cuộc thi văn học trả lời về việc chọn đề tài viết lách của mình.

Ngoài Trương Anh Quốc, Văn học tuổi 20 còn trao giải cho 8 tác giả khác là: Võ Diệu Thanh (giải nhì), Hải Miên và Mai Anh Tuấn (đồng giải ba), Hương Thị, Nguyễn Thị Mạnh Hà, Thiên Di, Nguyễn Thiên Ngân và Đỗ Duy (đồng giải tư)... Qua các tập truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của những tác giả này, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, đã có thể mường tượng được về diện mạo văn học của người trẻ, những người viết về chính cuộc sống hôm nay với nhiều tìm tòi, khám phá lẫn suy tư.

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ 4 do Hội nhà văn TP HCM, báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ phát động từ ngày 24/3/2009 đến 30/4/2010.

Qua hơn một năm phát động, cuộc thi nhận được 197 tác phẩm tham dự, đa phần là truyện ngắn. Các cây bút dự thi đến từ cả 3 miền đất nước. Trong đó, miền Bắc khoảng 20%, miền Trung 30%, miền Nam 50%, đa số ở lứa tuổi 8X. Người dự thi lớn tuổi nhất sinh năm 1937, trẻ nhất sinh năm 1993. Nghề nghiệp của các tác giả cũng rất đa dạng như: học sinh sinh viên, nhà báo, nhà giáo, công nhân, kỹ sư, bác sĩ, văn nghệ sĩ, doanh nhân…

Những năm qua, Văn học tuổi 20 là một sân chơi văn chương được nhiều độc giả đón đợi. Cuộc vận động sáng tác này đã mang đến cho văn đàn trong nước những tên tuổi như: Nguyên Hương (giải nhất lần 1 - 1996), Nguyễn Ngọc Tư (giải nhất lần 2 - 2000), Trần Thị Hồng Hạnh (giải nhất lần 3 - 2005), Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Dương Thụy, Phong Điệp...

Kết quả giải thưởng "Văn học tuổi 20" lần 4:


Giải nhất: Tiểu thuyết "Biển" của Trương Anh Quốc. Trị giá giải thưởng 50 triệu đồng.

Giải nhì: Tập truyện ngắn "Cô con gái ngỗ ngược" của Võ Diệu Thanh.

Giải ba: Tập truyện ngắn "Visa" của Hải Miên, tiểu thuyết "Giảng đường yêu dấu" của Mai Anh Tuấn.

Giải tư: Tập truyện ngắn "Tạm trú" của Đỗ Duy, truyện dài "Giấc mơ bên gốc vú sữa" của Nguyễn Thị Mạnh Hà, truyện vừa "Thuê bao quý khách..." của Hương Thị, tiểu thuyết "Những giao diện ẩn" của Thiên Di, tiểu thuyết "Những chuyển điệu" của Nguyễn Thiên Ngân.

Theo Evan.

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần 4: Gương mặt cuộc sống hôm nay

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần 4: Gương mặt cuộc sống hôm nay

Kết quả cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 gần như sẽ làm hài lòng những người yêu mến Văn học tuổi 20: 8/9 tác giả đoạt giải là những gương mặt hoàn toàn mới của giải. Và quan trọng hơn, tác phẩm của họ đủ để người đọc đặt cược niềm tin vào người trẻ.

+ 9 tác phẩm đoạt giải


Lễ trao giải cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ, Hội Nhà văn TP.HCM và báo Tuổi Trẻ tổ chức sẽ diễn ra lúc 9g ngày 5 - 9 - 2010 tại tòa soạn báo Tuổi Trẻ (60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

Chín tác phẩm - tác giả đoạt giải cuộc thi năm nay gồm: các tập truyện ngắn: "Tạm trú" (Đỗ Duy), "Visa" (Hải Miên), "Cô con gái ngỗ ngược" (Võ Diệu Thanh), tập truyện vừa: "Thuê bao quý khách..." (Hương Thị), truyện dài: "Giấc mơ bên gốc vú sữa" (Nguyễn Thị Mạnh Hà) và các tiểu thuyết: "Những giao diện ẩn" (Trịnh Thị Mỹ Ngọc - bút danh: Thiên Di), "Những chuyển điệu" (Nguyễn Thiên Ngân), "Biển" (Trương Anh Quốc), "Giảng đường yêu dấu" (Mai Anh Tuấn). Chín tác phẩm đoạt giải đã được in sách và sẽ phát hành từ ngày 5-9. Các tác phẩm khác vào vòng chung khảo sẽ được chọn lọc để in, trước mắt là ba tác phẩm: "Hố sâu, rắn, sẹo và tình yêu" - "Vì những trái dầu cũng có đôi" - "Những chiếc chìa khóa bị đánh mất". Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi là 170 triệu đồng (thay vì 150 triệu đồng như công bố trước đó).
Năm nay, ban tổ chức giữ kín kết quả giải thưởng đến tận lễ trao giải (5 - 9) để gây bất ngờ như lễ trao giải... Oscar. Ngay cả chín tác giả đoạt giải cũng chỉ biết mình được mời đến nhận giải nhưng không biết sẽ được trao giải nào. Ðiều đặc biệt, trừ ba tác giả thuộc thế hệ 7X, 6/9 tác giả đoạt giải năm nay đều thuộc thế hệ 8X, trẻ nhất là một gương mặt nữ sắp tròn 22 tuổi.
Ðó cũng là niềm vui lớn nhất của ban tổ chức ở giải lần này khi tuổi trung bình của các tác giả đoạt giải thấp nhất so với ba lần trước: 27,2 tuổi (lần 1 là 28,6; lần 2 là 30,7 và lần 3 là 32,8 tuổi). Không hẹn mà "đại diện" các vùng miền cũng tề tựu khá đông đủ tại giải lần này: từ vùng biển đến phố núi, từ Vĩnh Phúc đến Sài Gòn, từ Quảng Nam, Quảng Bình đến Khánh Hòa, Bình Thuận, Tây Ninh rồi An Giang, Cà Mau...

+ Những giọng điệu riêng

Phát động từ tháng 3 - 2009, cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 đã được khởi động trong sự hồi hộp của ban tổ chức khi đến giữa chặng đường, số bản thảo gửi đến tham dự vẫn còn khá ít ỏi.

Cứ ngỡ rằng giữa thời đại mọi thứ đều có thể xuất bản một cách dễ dàng, nhanh chóng, cuộc chơi "ém bản thảo" như cuộc thi viết này đã đến lúc cần thay đổi thể lệ. Nhưng không, con số 197 bản thảo tham dự (nhiều hơn lần 2 bốn tác phẩm và ít hơn lần 3 tám tác phẩm) cho thấy: vẫn còn rất nhiều cây bút âm thầm "dành tặng" những tác phẩm của mình cho một sân chơi văn chương luôn chờ đợi những tiếng nói mới này.

Chưa vội nói đến các tác phẩm gặt hái được giải thưởng ở cuộc thi, trong cả những tác phẩm không được chọn vào vòng chung khảo hoặc chỉ dừng ở vòng chung khảo một, đã có manh nha những cây bút khiến các giám khảo thích thú lẫn... tò mò về người viết vì những giọng điệu riêng ấn tượng - cái riêng ấy lại là cái không phải cây bút chuyên nghiệp nào cũng "sở hữu" được.

Như một số truyện ngắn của các tác giả đã được trích đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần: "Tờ rơi", "Con chim bồ câu", "Sarika không hót nữa"... Chỉ tiếc một chất giọng lóe sáng ở vài cung bậc chưa đủ làm nên một tiếng nói đầy đặn. Hoặc một sự đều tay trong bút lực, một cốt truyện tròn trịa lại chưa đủ làm nên một giọng văn đáng nhớ. Có những tác phẩm hay bị nằm lại cùng những tập bản thảo như vậy khiến ban tổ chức dự kiến sẽ làm một tuyển tập truyện ngắn hay từ những bản thảo chưa được in sách lần này.

Từ 23 tác phẩm vào vòng chung khảo một, ban chung khảo (gồm nhà văn Nguyên Ngọc, GS Lê Ngọc Trà, nhà văn Lê Văn Thảo, nhà văn Phan Thị Vàng Anh và nhà báo Thúy Nga) đã phải "tinh tuyển" lần nữa sau nhiều cuộc họp để chọn ra 12 tác phẩm vào chung khảo hai, trong đó có chín tác phẩm đoạt giải, vượt con số dự kiến một giải thưởng do có đến hai tác phẩm cùng đoạt giải ba. Số lượng giải thưởng "dôi" ra cũng phần nào cho thấy sự thành công bước đầu của giải lần này.

Ở đó, có "một thứ văn trẻ trung nóng hổi bốc khói, xốc xới, hồ hởi" (nhà văn Nguyễn Ngọc Tư viết lời giới thiệu cho tập truyện ngắn "Tạm trú"); "văn chương đẹp đẽ, lãng mạn có sức cuốn hút, mời gọi tuổi trẻ ở vị ngọt ngào" (nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói về tiểu thuyết "Những chuyển điệu"); có "lối văn hàm súc, thuần thục, tự nhiên mà khá lôi cuốn, hấp dẫn và ít nhiều có dư âm, có sức ám ảnh khá mạnh mẽ" (tiến sĩ Nguyễn Thành Thi giới thiệu tập "Giảng đường yêu dấu"), có giọng văn dung dị nhiều màu sắc mà trưởng ban giám khảo - nhà văn Lê Văn Thảo tin có thể "để lại dấu ấn mình vào nền văn học "miền Tây hoang dã" và cả nước" ("Cô con gái ngỗ ngược"). Ở đó, có tác phẩm mà nhà văn Nguyên Ngọc "vượt qua chút cảm giác ngờ ngợ lúc đầu, bỗng dần dần thấy bị cuốn hút, đến không dứt ra được" ("Biển").

Còn có một "dấu ấn" khác mà các cuộc thi trước đây chưa đóng dấu rõ: viết về mất mát. Lời bình cũng là lời giới thiệu cho tập truyện "Visa" của giám khảo trẻ nhất trong ban chung khảo cuộc thi lần này - nhà văn Phan Thị Vàng Anh - là một hàm ngôn nói lên cái "được" khá độc đáo của một tác phẩm mà cũng là của giải thưởng lần này: "Có một cái khác lớn nhất của tuổi trẻ mỗi thời, chính là cái mất mát. Viết lại được cái sôi động, cái buồn vơ vẩn của tuổi 20 đã là hay, nhưng viết được cái mất mát khác biệt của tuổi 20 mỗi thời mới là khó". Và như Vàng Anh nói, tác giả đã làm được điều này. Không riết róng như "Visa", cái mất mát đó còn bàng bạc trong nhiều tác phẩm khác.

+ Đặt niềm tin vào người trẻ

Theo nhà báo Thúy Nga - thành viên ban chung khảo, tác phẩm đoạt giải nào cũng có mặt mạnh mặt yếu, nhưng nhìn chung cái thú vị của cả cuộc thi là các tác giả mỗi người mỗi nét đã phác thảo nên gương mặt của cuộc sống hôm nay, cái hôm nay của bây giờ, với tất cả lo toan, bận rộn, chộn rộn... rất đặc thù của hiện tại.

Nhấn mạnh về sự thật của đời sống hiện tại trong các tác phẩm dự thi và trông cậy vào văn học trẻ như "người cầm nắm văn học tương lai của đất nước", nhà văn Lê Văn Thảo - trưởng ban chung khảo, nguyên chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM - ghi nhận nhiều điểm theo ông là đáng quý về cuộc thi - "một góc văn học trẻ" năm nay: "Ðiều đáng quý nhất là đa số truyện là của các tác giả trẻ, tác giả trẻ viết về thế hệ mình, mạnh dạn khai phá những vấn đề mới.

Thứ đến, có thể nói là quan trọng nhất là tính giản dị, chân thật của tác phẩm; cuộc sống, tầm nhìn trần trụi, thô mộc được phản ánh sinh động, đa dạng, phong phú. Văn học những năm gần đây chuộng sự thật, tính tư liệu, thông tin, tự sự là không thể thiếu. Cuộc thi lần này phần nào thể hiện được điều đó. Ðó cũng chính là mặt mạnh của văn học trẻ hiện đại".

Nhìn lại số đầu sách mà NXB Trẻ sắp phát hành từ cuộc thi, ông Nguyễn Thế Truật - trưởng ban tổ chức, phó giám đốc NXB Trẻ - hào hứng: "Giá trị của một giải thưởng văn chương là tác phẩm. Giá trị của giải Văn học tuổi 20 bên cạnh tác phẩm còn là phát hiện những cây bút mới. Ba giải lần trước, kết quả đã góp vào đời sống văn học những tác giả thành danh sau giải.

Lần này, chúng tôi vẫn trọn niềm tin ấy, vào ba tác giả 7X và sáu tác giả 8X sẽ tự tin, góp tiếp những tác phẩm hay sau giải thưởng. Vấn đề giờ đây thuộc về cộng đồng đông đảo người đọc tìm sự đồng cảm, nhận ra những đồng điệu để đồng hành với các trang văn trên những tác phẩm đoạt giải. Bạn đọc chính là nguồn cảm hứng của người viết, dõi theo sự trưởng thành từng ngày của nhà văn. Còn chúng tôi chỉ góp một phần khiêm tốn là tạo cơ hội để nhà văn đến với người đọc, tạo cho người đọc có được nhiều tác phẩm đáng đọc".

Cũng đặt niềm tin cuối cùng vào người đọc, nhà văn Lê Văn Thảo thận trọng: "Ban giám khảo chúng tôi đã làm việc kỹ càng, khó khăn trong việc lựa chọn vì các tác phẩm suýt soát nhau, hơn kém không nhiều. Ðiều chúng tôi thật sự vui mừng là thấy qua các tác phẩm, bút lực các tác giả còn rất dồi dào, tin rằng các anh chị còn viết tốt hơn nữa trong thời gian tới. Kết quả chấm giải của ban giám khảo, dù có được sự đồng thuận cao, cũng chỉ là của một số người, sự thẩm định chính xác nhất vẫn là của thời gian và công chúng bạn đọc".

Theo giadinhaotrang

 

Chùm thơ của Lữ Thị Mai

Chùm thơ của Lữ Thị Mai

Nằm mộng

Giấc ngủ theo về những lá khô
gió cứ thổi và cây sa ngã
có người nằm nghiêng không dám trở mình
sợ chết chìm bởi muôn vàn lời hứa
một con thuyền dính bùa ngải của sông
ý nghĩ găm đầy tháng năm mắc cạn
em cố quên làm gì!
khi ngay cả cánh tay anh cũng ảo

ngàn lá khô bay
rất nhiều phong thư mặc nhiên bùng cháy
người nằm nghiêng không lời kêu cứu
chỉ một cánh chuồn tiễn biệt bão dông

ta không còn nói với nhau cả những điều cay đắng
bùa ngải hoa vàng trôi mênh mông...
--


CÁ VÀNG

Trong chiếc bể toàn rong rêu giả tạo
đến cả sóng cũng giả tạo
những con cá vàng giương vây bơi cho thỏa giấc mơ ảo giác
ngày lại ngày
tôi ngắm nỗi ám ảnh quầng thâm mí mắt

hình như những con cá vàng thích bể nước hơn cả đại dương
và mọi cuộc chuyển dời với chúng là vô nghĩa
vì chúng là cá vàng
đến đôi mắt cũng vàng
cái chết cũng vàng

những đứa trẻ ngây thơ vẫn bảo
nếu ông lão đánh cá trong chuyện cổ tích không quá thật thà
bây giờ không nhiều cá vàng đến thế

tôi lặng im nhìn chiếc bể
ám ảnh nổi nênh tìm cuộc chuyển dời
nhưng nếu là một con cá vàng
chắc tôi không nghĩ sóng và rong rêu là giả tạo!
--


TỪ PHÍA DẤU CHÂN

Ai lần mở cúc áo đông
Ta cứ thế mà chạm vào tan vỡ...

từng chùm sương lênh loang màu khói
đang lấp dần dấu chân
thỏa thuê bờ bãi sông Hồng
tóc mây bời bời nước chảy

chớ dụ em về gặp lại dòng nông nổi
xoe xoe đôi mắt
ơ hờ gót chân
mùa này cá chép ôm bọc trứng phù sa
bơi về phía những con thuyền vượt cạn
vẩy lên loang loáng mặt trời

mình về thôi anh...chớ dụ em thêm một lần gặp lại
Long Biên giấc dài vỡ vụn
cả sông Hồng đang trôi
chuyến tàu vụt qua nối dài im lặng
ta về hay cứ đứng trên cầu mà nhìn nhau
đưa tiễn một cuộc tình mất ngủ

từng chùm sáng đang cuộn lên
nước mắt trôi về giữa bốn bề khói phủ
tất cả đang trôi tới tận cùng tan vỡ
một sân ga nhập nhòa
--


HÌNH DUNG BUỔI SÁNG

Thức dậy biếng lười trong buổi sáng tinh tươm đến lạ
thấy áo quần xốp hơn và mái tóc cũng bồng hơn
bên trong búp sen là mùa hạ chớm buồn
bung nở hoang vu không lý lẽ

lúc này em đang hình dung
ngàn mắt nâu lộ ra từ thớ vỏ
ngước nhìn em chằm chặp
còn anh chưa khi nào nhìn em thật lâu

lúc này em mặc sức hình dung
sự tỉnh giấc của chúng mình đang từ từ vỡ lẽ
buổi sáng tinh tươm đi dạo trong đế giày
kéo lê tháng ngày mỏi mệt

anh khuyên em hãy chải đầu
vì mái tóc bồng trong phút chốc có thể rối tung vì gió
vì mọi thứ có thể sẽ bủa vây chúng ta từ phía ngoài ô cửa...

nhưng em đang nghe một bản nhạc không lời
sự mặc cảm trôi vòng quanh buổi sáng
---

Theo vietvan.vn

Chùm thơ của Lam Hạnh

Chùm thơ của Lam Hạnh

 

Tên thật: Ngô Thị Kiều Hạnh
Sinh năm: 1983 tại Cam Ranh
Hội viên hội VHNT Khánh Hòa
Đã xuất bản: Hớn hở ngực cỏ, Tảng đá buồn

 

 


Giá như


giá như anh đừng về vùng môi biển sóng khơi tình động

sáng mai

giá như anh đừng choàng lấy em bóng tối

nhu mì bàn tay hư đốn hả hê

giá như anh đừng bỏ đi mặc cho những thị phi cào xé

em đâu cần vác nỗi buồn ruổi rong trong chiều khát

mùa hạ đỏ như nụ hôn màu máu

mùa hạ đau những cơn đau banh xé thịt da

người đàn bà oằn mình trở dạ sinh con

còn em đang chờ chết chờ chết



lá sẽ khô giòn trở về với đất

sương cao nguyên chờ bình minh mà biến mất

núi đồi

em nhờ nhiệt cuồng anh mà tan hoang thành quách

chờ anh đi lạc vào em nhịp phách thác đổ

nhưng đêm đã tự bôi đen mình bằng ảo vọng

kéo nỗi buồn choán đầy khoảng trống

chân em



giá như thân xác đừng thắp lên ngọn lửa

và ngôn ngữ trần tục

có thể băng bó được vết thương

em không cần phải đợi chết

mỗi ngày…

Đêm 26/5/2007

--------


Cỏ xanh em

Tặng V.T.Q


Chạy trốn

anh chạy trốn

ngày lên dịu ngọt

khuôn viên mắt tròn tiếng chim rơi mắc vào bụi cỏ

cung đô thứ lũ dế than khản giọng mùa hạ đỏ

đôi môi em



anh chạy trốn vùng cát têng hênh gió

giàn giụa giọt nắng mồ hôi em thơm tràn

phố biển

sóng vỗ bờ em luềnh loàng khua nhặt ký ức

no đầy hơi thở sương mù



hoang mang anh chạy trốn

đêm chìm vào đất

miền cao em nguyệt bạch ơ hờ

câu thơ nào vừa rụng áng mây im lìm ngủ

đậu trần trưồng đỉnh chênh vênh



giọt nước mắt em dính vào những khuy áo mở toang

chạy trốn những ngọn tóc loang loáng bạc

cỏ xanh em.

---------


Trưa sạch

Tặng Trà vigia, Sara, L.H.T


trưa Phan Rang, mặt trời nhiệt đới

nắng bỏng

gió không ỏn ẻn hẹn cỏ vàng xưa

tháp tua tủa đâm vào trời, rách

mắt

Aspara ngủ quan tải cổ tích

không hiện thân



nghe trưa chiêm chiếp chim trên đỉnh gọi tình

kênh róc rách lộ màu da bánh mật

mây xuống núi về, em khát

Cà Nú Cà Nú

đá khin khít chờ tong tóng nhưng con âm



lịch kịch

trưa

quán là nhà

nhà xa phố, ngõ không chợ

anh

ngồi dưới me xanh, cơm trắng

không diễn từ, không chúc tụng

cánh buồm luân lạc, nhăn nheo ao ước

da sậm má hóp, rượu không say



Phan rang

trưa sạch

chẳng ân oán trong lòng…


Tháp Chàm 24/7/2008


-----------


Cánh đồng thức



Khi anh đi lạc vào em áo ngủ mỏng tang trắng nhờ nhờ trên đôi cánh thênh thang rắc đều giọt giọt thấm vào lòng khô hạn, cả một mạng giây chằng chịt cánh đồng em run lên òa ngập hân hoan…

Này bờ này suối khe này nứt nẻ nẩy ngực lỏm uống mau tinh khiết trong veo cho bờ cỏ hoa cho suối khe đầy ắp nguồn tình cho ngực lỏm nhú mầm hạnh phúc…

Khi anh lạc vào em mùa hạ vàng khô từng đọt mía lơ xơ xác gầy thèm vị ngọt như người tình từ chiến trận trở về khát môi yêu dấu, cánh đồng em mở bung đôi mắt sáng, cuộn tron anh bắng những vòi bạch tuộc ủ hương… và thức.

 

Theo nguyentrongtao.org

Phê bình trẻ: chấp nhận khó khăn, thử thách và cả thất bại

Phê bình trẻ: chấp nhận khó khăn, thử thách và cả thất bại

Những người làm phê bình trẻ hiện nay hầu hết đều xuất thân từ khoa văn các trường đại học lớn như Đại học khoa học xã hội nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm I, Đại học sư phạm II… Trong bốn năm học đại học, họ được trang bị một hệ thống kiến thức văn học tương đối toàn diện giúp họ có được cái nhìn khái quát, tổng thể về văn học Việt Nam và thế giới, nắm được những nguyên lý, phương pháp, thao tác cơ bản, cần thiết phục vụ cho công việc nghiên cứu, phê bình văn học. Những kiến thức đó là hành trang quý giá cho những người làm phê bình trẻ khi mới vào nghề.

Song  chương trình giảng dạy, đào tạo ở khoa văn các trường đại học cũng tạo ra những khó khăn khách quan cho họ. Số là ở các khoa văn học mới chỉ có tổ văn học hiện đại chứ chưa có tổ văn học đương đại. Trong tiến trình văn học sử Việt Nam, sinh viên cũng chỉ được học đến giai đoạn đổi mới, dừng lại ở cái mốc 1991 - 1992, năm ra đời của ba tiểu thuyết đỉnh cao "Nỗi buồn chiến tranh", "Bến không chồng", "Mảnh đất lắm người nhiều ma", còn những đời sống văn học đương đại thì sinh viên phải… tự tìm hiểu là chủ yếu. Điều này hoàn toàn đúng đắn và hợp lý. Những kiến thức, những tác giả, tác phẩm đưa vào dạy sinh viên phải là những kiến thức được quy chuẩn, là những tác giả, tác phẩm đã định hình, có đóng góp cho nền văn học nước nhà, vượt qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, của công chúng. Trong khi đó, đời sống văn học đương đại luôn là thành tố động, các tác giả, tác phẩm văn học chưa định hình, ổn định một cách chắc chắn nên không thể đưa vào chương trình giảng dạy. Ở bậc đại học văn học đương đại chỉ được nhắc đến ở mức độ những hiện tượng văn học đơn lẻ thông qua những bài tập lớn hay khóa luận tốt nghiệp các thầy cô giáo cho sinh viên tìm hiểu, nghiên cứu để nhận xét bước đầu.

Lí luận phê bình trẻ, ai trong số họ?

Do chỉ dừng lại ở mức độ hiện tượng nên nhìn chung kiến thức về văn học đương đại của các sinh viên còn hạn chế, mà hoạt động phê bình thường gắn liền với đời sống văn học đương đại. Vậy nên lúc ra trường, những sinh viên khi đi theo nghề phê bình phải mất một khoảng thời gian (tùy vào nỗ lực) của mỗi người để tìm hiểu, cập nhật đời sống văn học đương đại nhằm xây dựng cho mình cái nhìn tương đối tổng quát về nó. Còn nhớ khi mới về "nhà số 4",  tôi hoa cả mắt khi lạc vào "mê hồn trận" của những tác phẩm, tác giả trẻ. Và mặc dù được nhà văn Sương Nguyệt Minh cung cấp cho "bửu bối" là bản danh sách những tác giả trẻ cần quan tâm (cũng có nghĩa là qua đã "sàng lọc" một phần) song tôi cũng phải mất một khoảng thời gian dài để hòa mình vào dòng chảy gấp gáp của văn học đương đại. Đây là khó khăn khách quan và tất yếu của những người làm phê bình trẻ khi "chân ướt chân ráo" vào nghề.

Một điểm nữa tưởng chừng như phi lý nhưng có thật trong thời buổi sách báo xuất bản dễ dàng hiện nay là việc tìm đọc các tác phẩm… tương đối khó khăn. Ngoại trừ trường hợp được tác giả tặng sách, còn nếu không để mua một tác phẩm văn học thì cách tốt nhất là phải mua ngay vào lúc nó vừa ra mắt bạn đọc nếu không chỉ sau một thời gian ngắn là rất khó tìm mua. Tôi  đã từng mướt mồ hôi lăn lê từ các nhà sách lớn ở Hà Nội đến phố sách Đinh Lễ, Nguyễn Xí để tìm các cuốn tiểu thuyết mình cần phải đọc suốt cả tuần nhưng đến đâu cũng gặp được cái lắc đầu của người bán. Lúc đó đành phải sử dụng một trong ba phương thức sau. Một, hỏi mượn bạn bè. Hai, lên trên tầng 4 thư viện Quốc Gia "ngồi thiền" vài buổi với tác phẩm mình cần đọc. Ba, tìm địa chỉ mail của tác giả, xin tác giả file word đọc trên màn hình máy tính. Hy vọng rằng trong tương lai việc tìm sách khó khăn là do sách bán chạy chứ không phải do số lượng bản in ít như hiện nay.

Khó khăn thứ hai đến từ việc sân chơi dành cho lý luận phê bình nói chung và các nhà phê bình trẻ nói riêng có sự thu hẹp nhất định. Những tờ báo có chuyên trang lý luận phê bình hiện nay không nhiều, và nếu có thì "quỹ đất" cũng tương đối hạn hẹp. Mỗi báo lại có một đặc thù, một phong cách, tiêu chí chọn bài riêng. Một bài phê bình đăng được ở báo này chưa chắc đã hợp với tờ báo kia. Đã vậy nhiều anh em làm phê bình chỉ có một "tạng phê bình" nhất định, chỉ hợp trang phê bình của đôi ba tờ báo. Số những nhà phê bình trẻ "mặt trận nào cũng chiến đấu được" tương đối hiếm. Do vậy, sự xuất hiện của các nhà phê bình trẻ trên các tờ báo văn chương chính thống cũng không nhiều.

Những người sáng tác trẻ đều mang niềm trăn trở rằng phải viết làm sao để nếu không vượt được trước tác của thế hệ đi trước thì đứa con tinh thần mình dứt ruột đẻ ra cũng phải khác, phải lạ, chứ không thể là cái bóng nhờ nhạt của những trước tác đi cùng năm tháng. Niềm trăn trở của những người sáng tác trẻ cũng là nỗi niềm của người làm phê bình trẻ. Những người làm phê bình trẻ chúng tôi, ai cũng mong muốn tạo ra được phong cách phê bình riêng, khác với các bậc phê bình nổi tiếng ngày trước như Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Trương Tửu…. Điều này đương nhiên là vô cùng khó. Tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhà phê bình Văn Giá rằng sau hai thời kỳ phê bình "chiến đấu" và phê bình "hòa giải", giờ là thời kỳ phê bình "song hành" cùng sáng tác. Như vậy là một thời kỳ mới của phê bình đã đến. Và trách nhiệm gánh vác nền phê bình ấy tất yếu thuộc về những người làm nghề như chúng tôi. Nhưng để làm rõ đặc trưng "song hành cùng sáng tác" là việc làm không dễ dàng chút nào. Song hành có phải là "bình" nhiều hơn "phê" hay còn mang những giá trị khác? Chỉ riêng việc xác định nội hàm đúng đắn cho hai chữ "song hành" cũng đã khiến những nhà phê bình trẻ mất ngủ nhiều ngày. Văn hào Lỗ Tấn có nói: Đường là do nhiều người đi mà thành. Vậy nên khi chưa làm rõ nội hàm đó tất yếu  những người làm phê bình trẻ cũng phải dấn thân, thử nghiệm nhằm tìm ra con đường hợp lý nhất. Khi đã chấp nhận dấn thân, thử nghiệm cũng đồng nghĩa với việc người làm phê bình trẻ chấp nhận những khó khăn, thử thách và cả thất bại. Thất bại là điều không ai mong muốn, nhưng trong thực tế sẽ điều không thể tránh khỏi. Viết điều này ra, tôi chỉ có mong muốn các nhà văn khi đọc một bài phê bình với những luận điểm, nhận xét "là lạ" của một nhà phê bình trẻ thì hãy nghĩ đến đây là sự thử nghiệm của một người trẻ tuổi để từ đó có cách đánh giá khách quan, công bằng hơn.

Khó khăn thật sự của các nhà phê bình trẻ đến từ công việc chính: Nhận định, đánh giá các tác phẩm. Khó khăn vì trùng lặp trong đánh giá ở tác giả, tác phẩm đã có quá nhiều người viết. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa viết một dòng phê bình nào về tác phẩm của một vài nhà văn cùng cơ quan (Việc làm cùng cơ quan đồng nghĩa là tôi có điều kiện thuận lợi hơn so với những người làm nghề khác) vì sợ những ý kiến mình đưa ra trùng lặp với người khác. Chưa xét đến những bài phê bình đăng trên các báo, chỉ tính riêng số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ làm về họ đã vượt quá hai đầu ngón tay nhiều lần. Điều này đồng nghĩa với việc các tác phẩm của họ đã được nghiên cứu, mổ xẻ đến tận chân tơ kẽ tóc. Do vậy, việc tìm ra một luận điểm mới (hoàn toàn) về tác phẩm của họ là rất khó. Hơn nữa, chỉ nghĩ riêng đến việc phải tìm đọc lại tất cả các công trình viết về họ để xem có luận điểm nào trùng lặp với luận điểm mình đưa ra cũng làm tôi thấy… nản. Ở khía cạnh ngược lại, có những nhà văn trẻ sáng tác rất ít nên cũng tạo ra những khó khăn cho nhà phê bình. Nghề phê bình, theo tôi - xét trên một mặt nào đó - cũng từa tựa như nghề… dự báo thời tiết, nghĩa là nếu có càng nhiều thông số tham khảo thì khả năng dự đoán chính xác càng cao[1].

Nếu tác giả viết ít quá, thật tình rất khó đánh giá, đành chịu những lời kiểu như "Thế mới cần nhà phê bình, nhà phê bình giỏi thì chỉ cần qua một tác phẩm là đánh giá được đời văn một người, chứ còn đợi người ta viết ra hết mới đánh giá thì còn cần nhà phê bình làm gì".

Sau cùng việc giữ cho tinh thần "thanh sử" trong công việc là điều khó khăn nhất là với nghề phê bình. Với người trẻ tuổi làm phê bình điều này lại càng quan trọng vì đây là tiền đề cơ bản để đánh giá bản lĩnh của anh ta. Làm nghề nào cũng cần bản lĩnh, làm phê bình (ở Việt Nam, trong điều kiện hiện nay) lại càng cần phải có bản lĩnh để khẳng định mình, vượt qua được điều tiếng thị phi trong nghề. Tôi không phản đối ý kiến rằng nhà phê bình cần phải làm bạn với nhà văn để hiểu hơn tác phẩm của họ nhưng việc làm bạn đó cần có giới hạn nhất định, cố gắng hạn chế đến tối đa yếu tố cảm tính như yêu, ghét xen lẫn vào công việc (vì không thể nào loại trừ hoàn toàn được nó). Nhiều lúc tôi suy nghĩ có phần cực đoan rằng giá nhà phê bình và nhà sáng tác không quen biết nhau là hay nhất. Khi đó nhà phê bình chỉ biết mỗi văn bản tác phẩm, không bị chi phối bởi những điều kiện ngoài văn bản, có vậy công việc mới đạt đến độ khách quan 100%.

Nghề phê bình với người trẻ tuổi thật khó lắm thay!

---------

[1] Những trường hợp mới chỉ đọc một tác phẩm mà hình dung ra cả văn nghiệp của một tác giả như trường hợp Bêlinxki đọc Đottôidepxki rất hiếm. Hơn nữa đó là "chuyện của những thiên tài" không thuộc về số đông.

Theo Văn Nghệ Trẻ

 

 

 

Chùm thơ của Lê Vĩnh Thái

Chùm thơ của Lê Vĩnh Thái

LÊ VĨNH THÁI

Hội viên Hội nhà văn Thừa Thiên Huế

Hiện công tác tại Tạp chí sông Hương

Tác phẩm đã xuất bản:

- Ký ức xanh (Thơ), NXB Thuận Hóa, 2004.

- Ngày không nhớ (Thơ), NXB Thuận Hóa, 2010.

Chùm thơ dưới đây được rút từ tập thơ "Ngày không nhớ" của tác giả.

(Chân dung nhà thơ do họa sĩ Nguyễn Phước ký họa)


Ngày không nhớ

ngày không tròn như vành môi
chúm chím
ngày dường như đứng bóng trong thẳm sâu ngõ tối
ngày con chim câm bặt
chân di

tôi còn chuyện than vãn
những lối mòn
qua đường mù quáng

ngày tìm thấy lại mình trong đêm
đêm chẳng còn thấy gì ngoài mình
là đêm
là đêm trở lại sau ngày...

-------------


Bình minh trở dạ


khi cái bắt tay buông xuôi
bước chân lùi về ngày không hơi thở của chiếc đồng hồ quay ngược

dưới hiên
tôi quay quanh theo ngọn đèn tìm ngày hạnh phúc trong đôi mắt no đủ của đốm sáng nằm im dưới góc nhà hoen khói
chắc gì đêm nay
những câu nói có cánh ngủ yên trước thềm nhà
ngủ ngon trên chiếc giường ba chân lóe chớp mắt con đom đóm bay đêm

cơn đau của ngày
trở về giấc mơ đêm
lặng sâu
vỡ òa trên bầu trời đông đặc những ngôi sao
lốm đốm rơi
trên mái tranh nghe bình minh trở dạ

------------

Chợ

người ta bày bán
những chiếc áo rách tươm thời trận mạc
đôi hài thêu hoa lên đường cong ám ảnh
đồng đô la có đủ tiếng tây tàu
đánh đổi quá khứ

chợ đông vui
người ta bán người giả cho người thật
hoá vàng chân lý
cuốn lịch rủi may chờ ngày tháng tới
mười hai con giáp gọi tên người cầu phúc
rủi - may

người ta bày bán
từng khuôn mặt lổm chổm niềm tin
run rẩy mơ hồ buổi chợ chiều
ảm đạm

Truyện ngắn 198X, những thành tựu bị bỏ lỡ

Thế hệ 198X (thường được tính là những người sinh từ năm 1980 đến 1989, tuy nhiên, trong một số trường hợp, cái mốc thời gian này chỉ có tính chất tương đối, có những người sinh trước 1980 và sau 1989 vẫn có thể được tập hợp vào nhóm 198X, vì có những đặc điểm chung nhất định). Và nhìn vào một số hoạt động trên nhiều lĩnh vực, có thể thấy những người thuộc thế hệ 198X đã tạo nên được những chuyển biến tích cực, nếu không nói là những đột phá.

Có một thế hệ nhà văn được mệnh danh là nhà văn 198X. Họ xuất hiện không hề vô tăm tích. Họ có tên tuổi và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc, kể cả bạn đọc chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.

So với các nhà văn lớp trước, nghĩa là các nhà văn sinh thành, trưởng thành chịu sự chi phối bởi nền văn học và tư tưởng cách mạng, các nhà văn thế hệ 198X sinh ra trong thời đại hoà bình đã được lập lại qua một thời gian tương đối dài, xã hội Việt Nam đã thoát khỏi những biến động của chiến tranh, tức là thoát khỏi cảnh cái chết đe doạ, rình rập từng số phận để bước vào đời sống xây dựng hoà bình với nhiều biểu hiện phức tạp của nó. Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đang đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, sự đầu tư về cơ sở hạ tầng tỉ lệ thuận với sự xuất hiện và phát triển của các trung tâm kinh tế - văn hoá với các đô thị mọc lên lấn dần và thay thế những vùng ngoại ô còn mang nặng tính làng xã và vẻ yên bình sâu lắng trước đây. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, một mặt đã mang đến sự khởi sắc và nhen lên nhiều hi vọng về những cuộc đổi đời trong tương lai cho một dân tộc, nhưng nó đồng thời lại là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân hoá xã hội, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo. Với sự hình thành và chiếm vị trí quan trọng trong các quan hệ trong xã hội, quan hệ buôn bán đã góp phần gây ra những biến động các giá trị, bào mòn một số những đặc điểm đạo đức truyền thống của người Việt như tinh thần tương thân tương ái, kéo theo sự rạn vỡ của tình cảm đối với đất nước, quê hương, làng xóm, gia đình, vốn đã ít nhất một lần thay đổi trong sự chuyển giao thời chiến sang thời bình. Mọi sự liên kết giữa các cá nhân trong cộng đồng vốn bền chặt dần trở nên lỏng lẻo. Trên tinh thần đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, sự giao lưu, xâm lăng văn hoá đã dẫn đến diễn trình dân chủ hoá đời sống trên nhiều phương diện, nhất là đời sống con người từ những năm 1980 trở về sau này.

Ở các đô thị, lớp trẻ được sống trong một đời sống tiện nghi với nhiều luồng thông tin đa chiều. Nhịp sống từ "điệu ngâm" của nông nghiệp - nông thôn trước đây đã chuyển sang "điệu nói" của đời sống công nghiệp - đô thị. Họ trở thành đại diện cho một lực lượng sống hối hả, năng động, nhạy cảm và đầy hoài nghi, cô đơn; một mặt mạnh mẽ nhưng một mặt cũng yếm thế và dễ gục ngã.

Các nhà văn thế hệ 198X sinh ra trong môi trường có nhiều thuận lợi, họ được học hành đầy đủ, được đào tạo một cách bài bản và nắm được những công cụ, phương pháp cấp tiến để khai thác, xử lí một hệ thông tin đa chiều, họ nhạy cảm trước mọi biến thiên của thời đại. Thêm nữa, nhìn vào danh sách các nhà văn này, ta thấy nhiều trong số họ đã từng sinh sống, học tập ở những môi trường cấp tiến ở nước ngoài như Ngọc Cầm Dương, Tereza Trần, Lynh Bacardi, Trương Quế Chi, Phan Ý Yên… Điều này cho phép nhận định rằng các nhà văn 198X có mang trong mình họ đời sống không chỉ một nền văn hóa.

Là những người được mang và tiếp thu trong mình một đời sống trên nhiều phương diện là mới mẻ so với cha anh mình, đặc biệt là có một đời sống tinh thần được hình thành trong một đời sống dân chủ còn nhiều khiếm khuyết, các nhà văn 198X đang tìm cách thể hiện cá tính độc đáo non trẻ (nhiều khi còn vụng dại), bản lĩnh (nhiều khi còn dở dang) của mình. Những khát vọng đó lại được tạo điều kiện bởi thời đại thông tin bùng nổ và điều kiện xuất bản, in ấn không còn khó như trước, đặc biệt là sự phổ biến internet với các trang thông tin điện tử, blog cá nhân (hình như mỗi nhà văn thế hệ 198X đều là một blogger theo nghĩa chính xác của từ này). Sự du nhập ngày càng rộn rã của các trường phái lí thuyết về sáng tác và tiếp nhận văn học, sự ảnh hưởng cách tư duy, cách viết của các nhà văn lớn nước ngoài, đặc biệt là phương Tây, đã khiến hành trang bước vào văn lộ của các nhà văn 198X nặng hơn và điều này giúp họ tự tin hơn vào những việc mà họ sẽ làm trên con đường sáng tạo văn học.

Với những thế mạnh,những điều kiện xã hội thẩm mĩ (được thống kê chưa đầy đủ) ấy, các cây bút truyện ngắn 198X đã bằng các sáng tác của mình điểm xuyết một mảng màu lạ trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đương đại. Họ đã đề xuất một quan niệm sống mới mẻ. Bằng vốn sống, sự hiểu biết và nhạy cảm nhiều khi đến bệnh hoạn, ở một góc nào đó, họ cảm thấy cuộc sống thật đen tối và luôn dang dở, méo mó. Hầu như trong sáng tác của tác giả nào, những tan vỡ, chia li, bất hạnh cũng được nhắc đến như là một hiện tượng phổ quát của cuộc sống, đó là những "Giăng mắc" của Phạm Vũ Văn Khoa, "Độc thoại trên nhà thờ" của Lynh Bacardi… Thảng hoặc ta vẫn gặp những cây bút còn một chút niềm tin, niềm yêu với cuộc đời, và ta vẫn gặp ở họ một cái gì đó êm ái, dịu ngọt, dẫu là dịu ngọt một cách ngậm ngùi và có hơi hướng của vị muối. Nhưng khi nhà văn 198X viết về điều đó, thường là họ viết những câu chuyện đậm chất trữ tình trong hồi ức về một tuổi thơ, về một tình yêu nhẹ nhàng. Và với những câu chuyện như thế, việc thể hiện bản lĩnh và đặc sắc thế hệ có phần kém đi, và văn chương 198X như một thứ sản phẩm lạ sẽ trở nên mờ nhòe trong tâm thức người đọc.

Chính trên quan niệm sống ấy, các nhân vật trong truyện ngắn 198X hoặc để cho nhân vật nương dựa vào nhau cố đi tìm những vẻ đẹp, những giá trị, những niềm hạnh phúc - dẫu nó thật mong manh, như là nỗi ước ao của Ninh trong "Trống trải và rộng quá chừng": “Ninh ra đứng ngoài cửa sổ, ao ước giá mà có một tình yêu, có một ai đấy yêu mình, chắc mình sẽ biết cách phải bắt đầu cuộc sống thế nào”. Cố gắng quên bỏ những ấn tượng xấu về cuộc sống, hướng đến một cái gì đó thật đẹp và lương thiện trong thời đại nhiều hỗn loạn và giới trẻ thường hay sa ngã, đó là một nỗ lực đáng được khuyến khích, nhưng tiếc là hiếm hoi, trong truyện ngắn 198X. Tuy nhiên, có một nhược điểm là mỗi khi viết những câu chuyện như thế, các nhà văn trẻ nhiều khi tỏ ra chưa vững vàng trong xử lí tư liệu, tiết chế cảm xúc, và chất "tự lực văn đoàn" là khá rõ. Chính vì điều đó nên người đọc khó tính không tránh khỏi cảm giác đang đối diện với một văn bản nghệ thuật khá hời hợt (tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những đóng góp tích cực và quan trọng của văn chương Tự lực Văn đoàn cho văn học Việt Nam trong tiếng gọi và cơ hội mà lịch sử đã tạo ra). Một biểu hiện khác trong hành xử của các nhân vật trong truyện ngắn 198X khi gặp những bất hạnh, những trắc trở của cuộc sống là họ trở nên hoài nghi, bế tắc và rơi vào tiêu cực. Họ hành xử theo kiểu bất cần, theo kiểu phó mặc cuộc sống, phó mặc tất cả và nhiều khi rơi vào buông thả. Về mặt này, phải thừa nhận truyện ngắn 198X đã góp một tiếng kêu cứu cho tình trạng bi đát của hiện thực và thân phận tuổi trẻ. Tuy nhiên, có lẽ cuộc sống và văn chương cần ở họ nhiều nỗ lực hơn nữa. Trên thế giới đã có không ít nhà văn tiên cảm được, hoặc cảm nhận được, tri giác được sự cô đơn, lạc loài như là một đặc trưng của thân phận con người hiện đại. Tuy nhiên, khi viết về những điều đó, họ đủ tỉnh táo để, trong khi phơi bày thảm trạng của cuộc sống vẫn mang đến cho người đọc một ý thức hướng đến khát vọng thẩm mĩ cao hơn thế tục. Các nhà văn 198X Việt Nam do chưa hội đủ nội lực nên chưa làm được điều đó. Những thất vọng và tiêu cực trong tác phẩm của họ chỉ cho thấy những tâm sự cá nhân đơn lẻ, mất phương hướng và một góc nhìn nào đó, vẫn có hơi hướng "tự lực văn đoàn" ở giai đoạn tồn tại sau cuối của văn phái này.

Bên cạnh việc thể hiện cái tôi, việc nhận chân hiện thực cũng được một số (không nhiều - đây cũng là một điều đáng phàn nàn) các nhà văn thế hệ 198X quan tâm. Trên phương diện này, các cây bút cố gắng bóc trần những cái nhàu nát, nham nhở và nỗ lực phơi bày những mặt trái, những cái xấu xa của hiện thực, trong đó điều nhà văn quan tâm hơn là lối sống thực dụng, cơ hội, đầy dục vọng và buông thả của lớp người có thế lực (tiền tài hoặc địa vị) trong xã hội, và một bộ phận giới trẻ mà nổi lên trong đó vẫn là nỗi đau về thân phận, về kiếp người. Điển hình của sự thực dục, buông thả đến mất hết nhân tính là hành động của Quang trong "Tre rừng" (Lynh Barcadi): sau khi kết thúc cuộc yêu, lập tức lật mông bạn tình lên, quan sát trên tờ báo lót bên dưới chưa nhìn thấy giọt máu trinh quý giá, liền túm chân bạn gái giơ lên “ngó lom hom vào phía trong”. Mặt trái của xã hội, oan nghiệt đời người… là đề tài được một bộ phận của truyện ngắn 198X đề cập trong "Lơ lửng trên cao", "Xóm bờ mương", "Cát hoang", "Nghĩa trang đồng nhi"…

Khi nói đến văn học trẻ nói chung và văn học 198X nói riêng, người ta hay nói về việc sử dụng các yếu tố tình dục một cách thái quá. Điều này có thể có lúc cần ghi nhận là một nhận xét đúng nhưng lại là một hiện tượng bất khả kháng, không phải chỉ vì những câu chuyện tình dục thể hiện nhan nhản trong tác phẩm của 198X, mà còn bởi sức trì kéo của truyền thống tiếp nhận, truyền thống đạo đức dân tộc - một dân tộc mà các vấn đề về mĩ học tính dục chưa bao giờ được đặt ra và nghiên cứu một cách sâu sắc, nghiêm túc và độ lượng (đúng ra thì, trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng…, yếu tố tình dục cũng chiếm một dung lượng không nhỏ, nhưng có vẻ như các cây bút 198X vẫn thường phải hứng chịu nhiều hơn những lời phê phán nhiều khi đến nặng nề). Có lẽ các tác phẩm được bàn đến nhiều hơn vẫn là "Bóng đè" của Đỗ Hoàng Diệu và "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Có nhiều nội dung được đề cập đến khi phê phán hai tác phẩm này và các tác giả của nó, trong đó có không ít ý kiến chê trách họ về việc sử dụng quá nhiều yếu tố tình dục. Công bằng mà nói, yếu tố tình dục trong hai tác phẩm này và một số tác phẩm khác, nhất là Bóng đè, đã không mang lại nhiều lắm những hiệu ứng thẩm mĩ như tác giả mong muốn, vì nhà văn đang còn quá non nớt, và có lẽ, hơi có phần tâm lí câu khách hoặc chạy theo mốt, nhưng không phải là không có giá trị thẩm mĩ. Những trang viết về câu chuyện tình dục của Nguyễn Ngọc Tư mang trong mình những nỗi đau xót nhân văn, những lành mạnh bi thảm. Điều đáng nói là rất nhiều ý kiến phê phán yếu tố tình dục trong truyện ngắn 198X bởi người đọc đã không xem xét nó với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ đích thực, mà nhìn nó bằng cái nhìn dung tục. Có thể đến một lúc nào đó, những yếu tố này sẽ được nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng như những yếu tố khác trong hệ thống tín hiệu thẩm mĩ của một tác phẩm nghệ thuật.

Những đóng góp của truyện ngắn 198X về mặt hình thức nghệ thuật cũng là khá đáng kể. Đó là việc mở rộng phạm vi, quan niệm về thể loại bằng cách tạo ra sự kéo giãn dung lượng trang viết, gia tăng hàm lượng hiện thực được phản ánh, tạo ra sự hỗn dung thể loại bằng cách cho phép thâm nhập vào truyện ngắn hình bóng của tiểu thuyết, thậm chí được phân chia chương hồi một cách khá mạch lạc. Bên cạnh việc kéo giãn dung lượng là một phép ngược lại: co hẹp dung lượng truyện, mỗi truyện ngắn có khi chỉ gồm 1 hay 2 trang in. Sự khẳng định bản ngã hiện sinh của các nhà văn 198X được thể hiện bởi việc chủ yếu sử dụng điểm nhìn hiện tại. Ngôn ngữ truyện ngắn là thứ ngôn ngữ đậm chất đời thường, thậm chí là thứ ngôn ngữ chát, ngôn ngữ blog đang ngổn ngang, trần trụi. Và điều này, bên cạnh sự thể hiện khát vọng kéo văn chương lại gần với đời sống, thể hiện khát vọng dân chủ trong ý thức sử dụng ngôn ngữ, khát vọng đối thoại với những yêu cầu nghiêm trang đã có phần cũ kĩ đối với ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ truyện ngắn 198X không phải không mang lại cảm giác về một thứ văn chương dễ dãi, và các tác giả của nó có phần non tay. Và sự tri nhận về văn học 198X như những thành tựu bị bỏ lỡ là có cơ sở. Tuy nhiên, đòi hỏi quá nhiều ở một lớp người viết còn quá trẻ là một thái độ nôn nóng. Hi vọng rằng, thời gian sẽ tiếp thêm vốn sống, kinh nghiệm để các nhà văn 198X cho ra đời những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao hơn.

Theo Văn hóa Nghệ An

Trang 1 của 10

Sách hay

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay226
mod_vvisit_counterHôm qua398
mod_vvisit_counterTất cả80055

Your IP 38.107.191.94
,
Hôm nay:09 - 9 - 2010
 27 người đang truy cập

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: