Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Ra mắt cuốn sách “Mùa đông huyền bí” của nhà văn Phần Lan Tove Jansson

Ra mắt cuốn sách “Mùa đông huyền bí” của nhà văn Phần Lan Tove Jansson
“Mùa đông huyền bí” là tập sách thứ bảy trong loạt truyện về nhân vật Mumi của nhà văn Phần Lan Tove Jansson được NXB Kim Đồng ấn hành nhân dịp kỷ niệm 100 năm Quốc khánh Phần Lan, 60 năm thành lập NXB Kim Đồng.

Từ một nhân vật văn học hư cấu, Mumi đã trở thành biểu tượng văn hóa của đất nước Phần Lan. Hình ảnh các nhân vật Mumi xuất hiện trên hầu hết các sản phẩm của Phần Lan từ đồ trang sức, đồ chơi, sản phẩm tiêu dùng, biểu tượng của hãng hàng không quốc gia, đến thức ăn, đồ uống… Bất cứ gia đình nào của Phần Lan cũng có một sản phẩm Mumi. Mumi là tên gọi chung của các nhân vật chính trong bộ truyện dài (chín tập) và truyện tranh (năm tập) do Tove Jansson sáng tạo nên, mang dấu ấn sâu đậm của những chú lùn Mumi trong thần thoại xứ Scandiavia mà bà được nghe kể từ thời thơ ấu.

Tove Jansson là một trong những nhà văn Phần Lan có tác phẩm được dịch ra nhiều ngôn ngữ nhất trên thế giới (44 ngôn ngữ), chỉ sau Elias Lönnröt. Tove Jansson vừa là nhà văn, vừa là họa sĩ, trong cả sự nghiệp của mình, bà đã nhận được hơn 50 giải thưởng, trong đó có giải thưởng Hans Christian Andersen (1966), được ví như Giải Nobel cho Văn học thiếu nhi.

Đồ lưu niệm Mumi.

“Mùa đông huyền bí” là tập truyện đầy chất thơ, ngôn ngữ trong trẻo, ngọt ngào, miêu tả sinh động vẻ đẹp và sự huyền bí, đầy mê hoặc của mùa đông phương bắc. Loài Mumi luôn ngủ đông từ tháng Mười một năm trước đến tháng Tư năm sau, bất cứ Mumi nào cũng thế, nhưng năm nay, bỗng xảy ra một điều khác lạ. “Ánh trăng lang thang từ chiếc ghế xích đu quệt lên mặt chiếc bàn trong phòng khách, lướt qua cái núm đồng ở cuối giường và rọi thẳng vào mặt Mumi. Đúng lúc ấy, một điều chưa từng thấy cũng như chưa từng nghe kể từ khi mumi đầu tiên bắt đầu ngủ đông đã xảy ra. Mumi bừng tỉnh và không thể ngủ tiếp được nữa”.

Từ đây, Mumi bắt đầu hành trình khám phá mùa đông với vô vàn điều kỳ lạ tại ngôi nhà của mình, trong thung lũng Mumi: một sinh vật nhỏ bé với cặp mắt nhỏ xíu nhìn chằm chằm cậu từ phía dưới bồn rửa bát, “nhà tắm ma ám” với những sinh vật vô hình, những đồ vật trong nhà Mumi bị lấy đi và đảo lộn lung tung. Bên ngoài, con sông nước từng trong vắt chảy róc rách qua khu vườn mùa hè của nhà Mumi giờ đây bỗng trở nên đen ngòm và lạnh lùng, còn cây cối trơ trụi khiến Mumi nghĩ rằng “cả Trái đất đã chết trong khi ta ngủ”.

Nhưng rồi, dần dần, cậu phát hiện ra những người bạn bí ẩn chỉ sống ở thung lũng Mumi vào mùa đông. Thậm chí, cả cụ tổ Mumi ngàn năm tuổi đang trú ẩn trong lò sưởi nhà Mumi.

Một chút lãng mạn, một thoáng cô đơn, đôi lúc triết lý và thêm những pha phiêu lưu mạo hiểm, Tove Jansson đã tạo nên một “Mùa đông huyền bí” cuốn hút độc giả nhiều lứa tuổi.

Cafe Mumi.

Nhà văn Philip Pullman nhận định: “Tove Jansson là một nhà văn thiên tài về thể loại truyện huyền ảo. Những cuốn truyện đơn giản cộng hưởng với những rung động đa chiều và sâu sắc được cả trẻ em và người lớn vô cùng yêu thích”.

Đại sứ Phần Lan Ilkka-Pekka Similä chia sẻ: “Tove Jansson là một trong những nhà văn Phần Lan nổi tiếng và được yêu mến nhất. Truyện Mumi cũng đã được sử dụng để sản xuất các chương trình nghệ thuật như kịch, opera, phim, truyền hình và phát thanh. Giống như rất nhiều người, nếu không muốn nói là hầu hết người Phần Lan, tôi đã đọc các cuốn truyện Mumi từ khi còn bé. Sau này, Mumi lại trở thành cuốn truyện yêu thích của các con tôi, và bây giờ chúng có thể xem phim hoạt hình Mumi trên truyền hình. Tôi rất vui mừng được thấy rằng các độc giả trẻ ở Việt Nam cũng có cơ hội được khám phá thế giới kỳ diệu của các Mumi nói chung, và mùa đông vùng Bắc Âu huyền bí trong cuốn truyện này nói riêng”.

Máy bay Mumi.

Dịch giả Võ Xuân Quế cho biết: “Tove Jansson đã tạo nên một thế giới thanh bình như trong truyện cổ tích của xứ Bắc Âu với cuộc sống đầy nhân bản, không có bạo lực và thù hận. Ngôi nhà hình tròn với mái nhọn trong thung lũng đầy hoa về mùa hè và trắng toát tuyết vào mùa đông không chỉ là nhà của gia đình Mumi với những thành viên chính: Mumi, Mumi Bố, Mumi Mẹ; mà còn là tổ ấm của Muy Tí Hon, Nisku Em, Nisku Anh, Muikunen, Nipsu, Hemuli, cũng như nhiều “cư dân” khác nữa trong Thung lũng Mumi. Những câu chuyện theo trí tưởng tượng của Jansson về cuộc sống của những con Mumi kết hợp với những tranh minh hoạ bằng nét vẽ đen - trắng rất thanh tú và mềm mại của bà khiến cho các tác phẩm Mumi hấp dẫn và lôi cuốn không chỉ trẻ em mà cả người lớn khắp nơi trên thế giới”.

Phát biểu trong hội thảo kỷ niệm 100 năm sinh của nhà văn Tove Jansson, Tiến sĩ Giáo dục học Nguyễn Thụy Anh cho rằng, loạt truyện Mumi cần cho trẻ em Việt Nam “vì những cuộc phiêu lưu bất ngờ sẽ thỏa mãn trí tưởng tượng của trẻ, cho chúng những ước mơ xa”.

Ngoài “Mùa đông huyền bí”, trong dịp này, Nhà xuất bản Kim Đồng cũng tái bản tác phẩm Mumi đầu tiên ra mắt độc giả Việt Nam “Chiếc mũ của phù thủy”. Những tác phẩm Mumi khác đã ra mắt độc giả Việt Nam: “Đứa trẻ vô hình”, “Mumi và sao chổi”, “Ngày hạ chí nguy hiểm”, “Những cuộc phiêu lưu li kì của Mumi Bố”, “Gia đình Mumi ở biển”.

H.THU

LẶNG LẼ XANH

LẶNG LẼ XANH
Nguyễn Thị Mai Anh - Hồi đang là người yêu của vợ nó bây giờ, thằng em tôi bị hầu hết người của phía nhà vợ ở Gia Lâm, Hà Nội tẩy chay. Để gỡ bí nó viết thư tâm sự với báo Tiền phong, chả là ngày ấy Tiền phong có mục “Tầm thư” chuyên gỡ rối tơ lòng rất “hot”.

Nhà thơ Nguyễn Đình Minh

Chừng một tháng sau thắc mắc của em được giải  đáp. “Tầm thư” khuyên em tôi, đại ý: “Quan trọng nhất trong chuyện này là em yêu cô ấy và cô ấy yêu em, những trở ngại dù to lớn, nhưng không thể không vượt qua. Để tiến tới hôn nhân đòi hỏi các em bằng tình yêu và sự khéo léo của mình phải làm sao thuyết phục được mọi người. Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền...”

Đọc “Tầm thư” xong, em mua mười tờ báo về đưa người yêu chín tờ, xui rải như rải truyền đơn trong nhà. Sau đó bằng những việc làm cụ thể hai đứa âm thầm mà quyết liệt gỡ dần các “boongke”. Gần một năm sau các boongke được gỡ sạch, phía đối tác của nó chịu thua. Ngày cưới, em gửi “Tầm thư” một tấm thiệp báo hỷ. Nhưng “Tầm thư” là ai? Mãi sau này tôi mới biết “Tầm thư” chính là hai nhà thơ Trần Hòa Bình và Nguyễn Đình Minh. Trần Hòa Bình khi ấy là giảng viên Học viện báo chí tuyên truyền, Nguyễn Đình Minh nhỏ tuổi hơn, là sinh viên năm cuối Đại học sư phạm Hà Nội. Hai người chơi thân với nhau. Bình phụ trách mục “Tầm thư”của báo. Do chơi thân, biết năng lực của ông bạn sinh viên, nên mỗi khi bận việc Bình thường nhờ Nguyễn Đình Minh trả lời giùm . Một hai lần thấy người đóng thế vai gỡ rối cho mình gỡ quá đạt, nên Bình ngày càng tỏ ra bận rộn nhiều hơn. Việc rắc rối của thằng em tôi do Nguyễn Đình Minh gỡ. Dù chuyện xảy ra đã hơn ba mươi năm mà khi nhắc lại anh vẫn nhớ,  lại còn đưa tôi xem cả một xấp bản thảo của chuyên mục ngày xưa ấy.

Gỡ rối cho người thì hay vậy mà gỡ rối cho mình anh làm rối canh hẹ. Ấy là dù học giỏi, khả năng nghiên cứu cao nhưng do không có tiền và không thích đi đêm nên khi tốt nghiệp, Minh bị tổ chức nhà trường ấn tượng, bắt lên Lai Châu, trong lúc bạn bè đứa nào cũng được ở dưới xuôi. “Tây Bắc ư? Có riêng mày Tây Bắc?”(*).Cầm tờ quyết định trong tay, Minh cáu, bỏ về nhà đi buôn. Hàng chỉ là thuốc lào, chè Thái thôi mà có những hôm thuế vụ đuổi bắt phải ngồi thuyền nan rồi nhờ bọt thải từ nhà máy giấy Việt Trì phủ lên, thả trôi theo dòng nước mà vượt thoát. Buôn chè thì dấu chè vào trong hộp đàn ghi-ta mang về xuôi. Lại ngồi đóng gói thuốc lào bán lẻ qua đêm, sáng dậy giao hàng dọc khu Văn Điển, Hà Nội… Nhưng cuộc sống vẫn bế tắc. Nghĩ lại những lời mình khuyên mọi người với tư cách “Tầm thư” ngày nào, và nghĩ cách đây ba mươi năm bằng đôi chân trần bộ đội, dân công ta từ khắp các miền xa của đất nước đã “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ…”(**), không quản gian lao bom đạn đưa hàng, kéo pháo lên Điện Biên, nay mình chỉ đi “gieo cái chữ” mà ngại là cớ làm sao. Thế là mùa xuân năm 1984, chàng cử nhân văn khoa Nguyễn Đình Minh quyết định giã từ đoạn trường này, bước sang đoạn trường khác: Tây tiến! Tiễn Minh đi, Trần Hòa Bình ôm anh khóc, dặn:

“Tao khuyên mày hai điều, một: đừng làm bố mẹ khổ và hai: đừng viết văn, nếu không muốn khổ như tao”.

Mang một nửa lời khuyên của nhà thơ “Thêm một” làm hành trang, nửa kia khi nhảy tàu Lào Cai Minh lỡ tay đánh rớt. Vì thế đến Phố Lu mua hai chiếc bánh sắn ăn lót dạ xong, không đủ tiền thuê nhà trọ, anh gạt lá cây xuống hố đạn pháo do chiến tranh biên giới năm 1979 để lại nằm hút thuốc và … làm thơ! Đêm công an đi tuần gặp, ngỡ thám báo Trung Quốc, bắt đưa về đồn kiểm tra, thấy bài thơ, biết người bị bắt thật là vàng, họ kính phục lắm. Thế là Minh được ngủ không mất tiền, sớm mai lại được các chiến sĩ công an trong đồn mời ăn và chặn bắt xe tải xin cho đi nhờ lên thị xã Lai Châu. Hôm sau anh lại bắt xe về trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh đang sơ tán ở huyện Tuần Giáo, làm giáo viên dạy Văn.

Ba mươi năm trước Tuần Giáo, Điên Biên là chiến trường quyết định sự thắng bại giữa ta và Pháp trong một cuộc chiến lớn; ba mươi năm sau trở thành nơi thâm sơn cùng cốc, đói rét cay cực vô ngần. Những buổi tối Minh và các đồng nghiệp ở tập thể thường mở các Câu lạc bộ kể chuyện ma, hay thi các ý tưởng. Có anh mơ tạo ra một loại diệp lục cấy vào da, nhờ đó da người như lá cây tự quang hợp để không bao giờ bị đói. Có anh mơ bào chế được thứ thuốc, uống vào, người hóa thành hòn bi. Đặt một cái ống dài từ Pha Đin tới Hà Nội, thả hòn bi vào cho nó chạy, đỡ phải chen chúc tàu xe… Lại nhớ lời khuyên của Trần thi sĩ: “Đừng làm bố mẹ khổ và đừng viết văn”. Nhưng ở trên này không viết văn thì làm gì. Chả lẽ lại đi hút thuốc phiện? Mà muốn hút thuốc phiện cũng phải có tiền. Thế là Minh cầm bút viết văn. Ban đầu anh viết các bài bình thơ cho Tạp chí văn nghệ tỉnh, tiến tới tham gia làm báo Lai Châu. Nhờ làm báo, Minh đi được nhiều  nơi ven sông Đà và các vùng xa biên giới. Những chuyến đi đã giúp Minh hiểu hơn về đất nước, con người miền núi cao Tây Bắc, ngắm thỏa thích các “Cô gái hơ mông bên bếp lửa”. Rồi đến lượt mình, tháng 9 năm 1985 suýt nữa anh đã làm một “Chàng trai Mường tè cạnh gốc cây”. Hôm ấy như mọi hôm, Minh đang say sưa trên bục giảng thì công an ập vào nắm cánh khuỷu đẩy lên xe bít bùng. Cả trường nháo nhác, nhiều em sinh viên khóc khi thấy thầy bị bắt. Hóa ra hôm sau, 14-9 Nhà nước tiến hành đổi tiền. Ban đổi tiền huyện Mường Tè nơi ngã ba biên giới thiếu một Thư ký tổng hợp và thầy giáo Nguyễn Đình Minh được chấm, nhưng do phải giữ bí mật đến phút cuối cùng nên họ mới nghĩ ra một kịch bản đầy chất hình sự như vậy.

Lại có những chuyến đi mà mạng người như trứng để đầu đẳng. Đấy là những đêm đi săn, bị voi đuổi, sáng dậy đầu nhà đầy dấu chân hổ. Hay lần Minh cùng Huy Tuyến Thư ký tòa soạn báo Lai Châu, đến xã Dào San huyện Phong Thổ, giáp giới Trung Quốc. Núi liền núi, sông liền sông, Dào San cũng như toàn bộ huyện Phong Thổ, toàn bộ các huyện, tỉnh dọc biên giới Việt – Trung ngày ấy thường bị thám báo Trung Quốc lẻn sang thám thính và gây án tạo hoang mang trong nhân dân. Đêm, hai anh em đi lạc đường. Thấy ánh lửa trước mặt, nghĩ phía trước có bản làng, cả hai tìm đến xin cơm ăn. Chợt Huy Tuyến dừng lại bấm tay Minh nói nhỏ “có thám báo”. Từng là đại úy đặc công trong chiến tranh chống Mỹ, Tuyến rất tinh. Cùng lúc ấy từ xa vẳng lại tiếng lính Tàu rì rầm. Tuyến kéo Minh chuồn lẹ. Chẳng may một hòn đá rớt ra lăn kêu lộc cộc. Lập tức bọn thám báo Tàu đuổi theo, may là trên đất mình chúng không dám bắn. Huy Tuyến bình tĩnh đưa Minh quay lại vị trí ban đầu, chạy thoát, cứ vậy đến khi mệt quá, nằm. Dưới bóng trăng mờ thấy một bông hoa to như cái thúng trắng lóa. Tuyến bảo, có thể dưới này đầy xác người nên hoa mới to đột biến vậy. Nhưng chẳng thấy sợ, cả hai lăn trên hoa mà ngủ, cho đến lúc giật mình tỉnh dậy vì tiếng quát. Hóa ra bộ đội ta đi tuần. Mừng như cha chết sống lại.

Mưa dầm thấm đất. Theo thời gian, con người và thổ ngơi vùng Tây Bắc ngấm dần vào Minh, được tâm hồn giàu cảm xúc của anh chưng cất thành những vần thơ dung dị: “Nơi anh nằm thêm một lần tôi đến/ Mùa xuân vương đâu đây trên những lá cành/ Trong không gian một khoảng rừng tĩnh lặng/ Hồi ức về Anh bật dậy thì thầm(Viết bên mộ Vừ A Dính).

Bài thơ được báo Nhân Dân số ra ngày 15-5-1987 in trang nhất, viền khung màu vàng sậm. Viết bên mộ Vừ A Dính làm theo thể tự do, bốn câu một khổ. Chưa hay nhưng chững chạc, liên tưởng hợp lý, câu trước gọi câu sau, khổ trước gợi khổ sau xuất hiện. Đọc, không thấy cái vụng dại của người lần đầu cầm bút. Từ đó như được khí thiêng rừng núi miền Tây Bắc truyền lực, ngòi bút của Minh trở nên tung tẩy, thơ văn đăng tràn trên các báo trung ương và địa phương. Riêng với báo Lai Châu, Minh nhận được 5 giải A cộng tác viên viết về Giáo dục và sáng tác thơ… Cứ theo văn mạch ấy, hẳn Nguyễn Đình Minh đã sớm tạo dựng tên tuổi trong làng thơ Việt nếu không có chuyện anh chuyển vùng về xuôi.

Năm 1989, hết hạn 5 năm theo giấy cam kết thực hiện nghĩa vụ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Thị Bình ký, Nguyễn Đình Minh chuyển về Hải Phòng. Đói kém, học sinh bỏ học hàng loạt, các trường teo tóp, Tổ chức Sở không sao xếp được việc cho anh.  Sau hai năm chờ đợi, năm 1991 Minh mới được xếp việc, nhưng phải dạy lớp 4. Nhiều đồng nghiệp tưởng Minh bị kỷ luật, phải giáng cấp dạy từ Cao đẳng xuống Tiểu học. Vợ Minh lúc ấy cũng đã chuyển vùng về quê và cũng không có việc làm, lo cho cuộc sống gia đình, suất lương của Minh như muối bỏ bể. Cùng tắc biến, hai vợ chồng xoay sang buôn bán rau cỏ, nuôi heo, chạy máy xát gạo, cuộc sống ổn định dần.

Như một quán tính, những ngày đầu về quê Minh vẫn viết bài gửi tạp chí Cửa biển và báo Hải Phòng, nhưng chẳng có hồi âm. Chợt nhớ lời Trần Hòa Bình “Đừng viết văn nếu không muốn khổ như tao”. Anh gác bút, quyết định dồn hết tâm lực vào nghiệp lái đò đưa khách qua sông. Năm 1999, trước những biến chuyển to lớn của xã hội, Nhà giáo Nguyễn Đình Minh lúc này đã là Hiệu trưởng một trường THCS, tham mưu với huyện mở trường cấp 3 bán công. Trường THPT Nguyễn Khuyến huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng nổi tiếng hôm nay ra đời như thế. Trường được quy hoạch trong một khu đầm lầy.  Vốn liếng chỉ có một tờ quyết định, một thầy Hiệu trưởng sắp đến tuổi nghỉ hưu làm nhiệm vụ “cầm cờ” và thầy Hiệu phó Nguyễn Đình Minh. Trong 5 năm (2000-2004) toàn bộ sức và tâm của Minh được vắt kiệt cho việc xây dựng trường. Rồi người cầm cờ về hưu, Minh trở thành “Người cầm cờ”… Năm 2008, trường bán công Nguyễn Khuyến chuyển sang quốc lập, lại tiếp tục xây dựng. Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển, đến hôm nay trường đã có 10 lần đạt danh hiệu xuất sắc cấp thành phố, 2 bằng khen Thủ tướng, 1 HCLĐ hạng Ba, còn các loại khác vô kể. Riêng Nguyễn Đình Minh ba lần được công nhận là Nhà giáo tiêu biểu cấp thành, 1 giải  nhất cuộc thi Hiệu trưởng giỏi, bằng khen Thủ tướng và mênh mông các bằng khen khác.

Từ những thành quả riêng chung đạt được, nhiều người nghĩ Minh tham bát bỏ mâm, đắm đuối với chức Hiệu trưởng mà bỏ mất cơ hội đoạt cái bằng Tiến sĩ hứa hẹn nhiều danh lợi. Bởi họ biết Minh tham gia đào tạo Thạc sĩ Quản lý giáo dục năm 2002. Năm 2004 tốt nghiệp, đỗ Thủ khoa, là người duy nhất của năm ấy luận văn đạt đủ 5 điểm 10 của 5 giám khảo, được tuyển thẳng đào tạo Tiến sĩ. Nhưng điều họ không biết là sau ba tháng, thầy hướng dẫn, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Chí chết vì ung thư tụy. Thầy là một tài năng, thông thạo năm ngoại ngữ. Trước khi chết, trong căn phòng nhỏ bé ở phố cổ Hàng Than, thầy nhìn học trò cưng nói lời trăng trối:

“Ở lớp Thạc sĩ này mày là đứa hay nhất tao chọn cho chữ cuối cùng, nhưng rồi không cho được. Các thầy muốn mày trở thành giảng viên trụ cột của Khoa Sư phạm nên chọn, song ở Hà Nội cũng chưa hẳn bằng nhà quê. Mày học tiếp hay không thì tùy, thầy xin lỗi…”

Nói xong lời gan ruột, thầy nằm im, trút hơi thở cuối cùng. Minh khóc nắm tay thầy. Hóa ra học đến tiến sỹ cũng vẫn khổ, giỏi đến như thầy cũng vẫn khổ. Thôi về! Thế là an táng thầy xong, anh quyết định bỏ luôn cái lớp Tiến sĩ nên danh nên giá ấy.

Có lẽ Nguyễn Đình Minh sẽ mãi bằng lòng với cảnh làm một anh giáo làng ở xứ đồng chiêm Vĩnh Bảo, nếu không có chuyện tình cờ xảy ra.  Trong phong trào “Cả nước xuống đường đục tường làm dịch vụ” thời đất nước mở cửa. Một buổi sáng năm 2004 có một nhà báo tìm tới trường xin gặp thầy Hiệu trưởng, đặt vấn đề làm dịch vụ in thơ.

“Thầy chỉ cần đề xuất ý tưởng – Nhà báo nói – Biến những ý tưởng đó thành thơ là việc của tôi. Có điều thầy phải chi tiền”.

“Bao nhiêu?”

Nhà báo nói ra một con số. Thầy Hiệu trưởng cười :

“Rẻ quá”

“Nếu thấy rẻ, thầy có thể cho thêm – Nhà báo hào hứng - Chỗ anh em cả mà”.

“Là tôi nói chỉ mất từng ấy tiền mà vụt cái tôi trở thành nhà thơ ấy. Còn ý tưởng thì thế này, anh có thấy hai cây thiên tuế kia không? (chỉ hai cây thiên tuế đặt ở sân trường) Khi mới trồng hai cây như nhau mà nay một cây tươi tốt, một cây còi cọc sắp chết, ấy là vì cây tươi tốt được bón đất tốt, cây còi cọc được bón đất dổm. Hàng dổm hàng giả không chỉ là chuyện của bây giờ mà đã là vấn nạn của bao đời, có điều đời nay nó công nhiên vào cả những chốn thâm nghiêm nhất. Vậy anh hãy làm một bài thơ về việc đó, nếu được ta ký hợp đồng luôn”.

Tay nhà báo lủi mất. Buồn, Nguyễn Đình Minh nhớ  lại lời khuyên của nhà thơ tài hoa, yểu mệnh xứ Đoài. Máu thi sĩ nổi lên, anh gom nhặt toàn bộ thơ đã viết, viết thêm một số bài, quyết định ra tập đầu tiên Người hát quan họ đêm Tây hồ. Từ đây Minh mở rộng  sự giao du với bạn bè văn chương. Cảm xúc hồi sinh, thơ anh viết lại đều đặn xuất hiện trên các báo chí văn nghệ trung ương và địa phương. Tính cả Người hát quan họ…, đến nay Minh đã in 6 tập thơ: Câu hát ngày xa (2005); Ủ ấm trái tim (2011);  Mắt cỏ (2013); Thức với những tập mờ (2014); Lặng lẽ đời cây (2016).

Đọc những tập thơ trên, thấy rõ Nguyễn Đình Minh là nhà thơ của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Cảm xúc thơ anh gắn liền với đồng quê, mái rạ, với những cơn nắng sớm mưa chiều, những phận người như cò vạc sau lũy tre làng. Trong đó hình ảnh những người phụ nữ hiện lên bao giờ cũng đẹp và lành, mang nhiều tính biểu tượng: “Họ bay qua cuộc đời như những áng mây/ Rồi lại hóa thành mưa trở về với đất/ Hóa những bông sen sống vùi trong nước/ Vươn nở ở giữa trời/ Và cứ thế mà thơm. (Những bông sen nước).

Minh sở trường thơ tự do, nhịp điệu bài thơ đi khoan thai, biên độ câu thơ nhiều khi được mở rộng, vụ về câu mà ít vụ về bài: “Lòng người hình như có bão/ Con trâu cũng trở mình nằm nhai khúc canh khuya” (Tháng năm quê nội). Trâu bò thuộc bộ nhai lại. Hình ảnh những con trâu nằm trong chuồng nhai lại những gì gặm được trong ngày thân thuộc với mỗi cư dân nông nghiệp, nhưng từ đó tới trở mình nằm nhai khúc canh khuya như một triết nhân đang nghĩ cách chia sớt nỗi âu lo với con người thì chỉ những ai gắn bó máu thịt với đồng quê mới có thể viết được. Câu thơ thể hiện sự minh triết của tâm hồn. Những câu thơ như thế trong thơ Minh không hiếm, nên đọc anh, độc giả nhớ câu hơn nhớ bài…

Năm 2013, tập “Mắt cỏ” của Nguyễn Đình Minh đạt giải B (không có giải A) của Liên hiệp các Hội VHNTVN. Nhận xét về giải thưởng, Trưởng Ban chấm giải nhà thơ Hữu Thỉnh nói: “Thơ Minh viết chắc, nhưng nếu bỏ đi vài bài thì dễ xếp giải A”. Ấy là tác giả “Đường tới thành phố”muốn khuyên đàn em chắt lọc hơn.

 

Nhà thơ Nguyễn Đình Minh, sinh ngày:25-5-1961, dân tộc: Kinh. Quê quán: Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

QUÁ TRÌNH HỌC TẬP, CÔNG TÁC, SÁNG TÁC: Tốt nghiệp Khoa ngữ văn ĐHSP Hà Nội năm 1982, lên Tây Bắc dạy học, năm 1989 chuyển vùng về quê. Viết và in thơ từ năm 1987, vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013Hiện là Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Khuyến, thành phố Hải Phòng.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN: Đã in 6 tập thơ.

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC: Giải nhất cuộc thi đề tài " 50 năm ngày thành lập đường Hồ Chí Minh trên biển" (Hội Liên hiệp VH&NT Hải Phòng, 2011);  Giải B tập thơ “Mắt cỏ” (Liên hiệp các Hội VH&NT Việt Nam 2013)…

Vinh, tháng 11-2016

N.T.M.A

-------------------------------------

*Thơ Chế Lan Viên: “Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc…”

** Thơ Tố Hữu.

Nguồn Văn nghệ số 19/2017

 

 

Một chút nghĩ suy về ca dao

Một chút nghĩ suy về ca dao

Nếu tục ngữ thiên về lí trí - phán đoán rút ra từ thực tiễn đời sống lao động  và đời sống xã hội.  Thì ca dao, lại thiên về tình cảm, bởi nội dung phản ánh đậm chất trữ tình. Vì thế, ngôn ngữ ca dao thường gợi nhiều hơn tả và kể.

Bài ca dao sau là minh chứng:
Rồng chầu ngoài Huế,
Ngựa tế Đồng Nai.
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài,
Thương người xa xứ lạc loài tới đây…

 


Xét về cấu trúc, thường thì ca dao kết cấu lối đối - tỉ hai phần rõ rệt: phần đầu gợi hứng, nêu vấn đề để đối chiếu nội dung chính phần sau mà bộc lộ tình cảm chủ thể trữ tình. Điều đặc biệt bài ca dao này: tư tưởng tình cảm gợi ra ngay trong từng câu phần đầu (ngoại cảnh). Phần “hứng” đã gợi ra phần “tỉ”, ngôn từ ẩn dụ-vừa giàu nghĩa hiện thực vừa đậm sắc thái biểu tượng.
Rồng chầu ngoài Huế” người đọc nghĩ ngay đến hình ảnh Rồng đang phủ phục bên đền đài, cung điện, thành quách, cảnh trí vùng đất kinh kì, biểu hiện uy lực vương triều (nhà Nguyễn). “Chầu” là sự phục tùng, tuân thủ theo qui tắc ứng xử trong quan hệ giao tiếp theo chuẩn mực cái đẹp của con người vùng đất kinh kì, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá dân tộc. Chính điều đó đã hình thành tính cách con người Huế: Nề nếp, gia phong, khuôn phép, thanh lịch đến mức cầu kỳ trong mọi mặt đời sống. Chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình, Lăng Tẩm, Thành Quách vẫn trầm mặc soi bóng xuống dòng sông Hương Giang thơ mộng ngàn đời để trở thành di sản văn hoá vật thể hậu thế. Đến Nhã nhạc cung đình Huế lại được vinh danh thành di sản phi vật thể của nhân loại. Tất cả đều sản sinh ra từ tính cách con người Huế (chủ thể văn hoá).

Xuôi vào Nam, trước “Độ mang gươm đi mở cõi”, Đồng Nai, vùng đất mênh mông, bát ngát còn hoang vu thuở ấy xuất hiện “Ngựa tế Đồng Nai”. Ta hình dung hình ảnh ngựa đang sải bước, tung vó để phi nước đại trên miền đất rộng lớn mà không gặp phải sự cản trở nào. Phải chăng đó là biểu hiện khát vọng tự do, tung hoành của người Nam Bộ (nói chung), Đồng Nai (nói riêng). Phóng khoáng, bộc trực, thân tình mà dung dị trong mọi mặt đời sống. Dấu ấn đậm chất Nam bộ trong sinh hoạt văn hoá: Đờn ca tài tử từng được xướng thành văn hoá phi vật thể. Loại hình này phản ánh tính cách mộc mạc, dân dã mà thắm đượm nghĩa tình người vùng sông nước miệt vườn. Sử sách ghi rằng: năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam, ngược sông Đồng Nai-Sài Gòn, Ông “lấy Đồng Nai làm huyện Phước Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình. Đặt Trấn Biên Dinh (Biên Hoà) và Phiên Trấn Dinh (Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất”. Từ đó những bước khai phá người Việt mở cõi đến tận cùng vùng đất Nam Bô ngày nay, chóp mũi Cà Mau hoàn thiện bản đồ chữ S, để sau này Xuân Diệu liên tưởng “Tổ quốc tôi như một con tàu/ mũi thuyền ta đó-mũi Cà Mau”…Vì vậy, Nam Bộ là nơi hội tụ cư dân Đàng Ngoài, Đàng Trong vào sinh cơ lập nghiệp. “Nước sông trong chảy lộn sông ngoài” là như thế. Vì thời cuộc, vì mưu sinh mà người mọi miền phải “chảy lộn” để tìm đến miền đất hứa. Có dị bản chép “nước sông trong sao chảy lộn sông ngoài”, chữ “sao” từ dùng để hỏi khi đối thoại, người hỏi muốn biết hoàn cảnh đẩy đưa người đến đây, tìm sự đồng cảm, sẻ chia. Người thì bất mãn thời cuộc, người vì đói nghèo tha hương cầu thực, người không chịu cảnh áp bức quan lại, tựu chung đều là kẻ xa xứ. Bởi vậy, tình người đọng lại câu “thương người xa xứ lạc loài tới đây”. Cách nói, cách bày tỏ tình cảm rất bộc trực, tự nhiên “Thương”, không khuôn sáo và cầu kì; rất dân dã rất đời thường! là mệnh lênh trái tim “cưu mang đùm bọc” nhau. Kể chi thành phần xuất thân, sá chi sang hèn… vì thế cũng có dị bản “thương người quân tử lạc loài tới đây”.Người tới trước giúp đỡ người đến sau, người thuận lợi giúp người khó khăn, cứ thế đời trước truyền đời sau làm nên cốt cách “trọng nghĩa tình” người Nam bộ như ngày nay.
Thế mới hay bài ca dao trên như gợi nhắc người đời về giai đoạn lịch sử hình thành cư dân Nam Bộ, còn là biểu hiện tính cách người vùng miền khác nhau. Hai câu kết bài ca dao theo môtip quen thuộc, lời mời chào:

“Tới đây thì ở lại đây

Bao giờ bén rễ xanh cây lại về”.

“Về” hay không “về” nhưng bao giờ tâm thức người Việt vẫn hướng về “Cố quốc” (Rồng chầu ngoài Huế). Thời nay, con cháu vẫn không nguôi tấm lòng nhớ thương ấy “Từ độ mang Gươm đi mở cõi / Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Bởi người Việt Nam đời nào cũng vậy, ở đâu cũng thế (người xa xứ) luôn ẩn chứa tinh thần dân tộc, nghĩa cử đồng bào.

Lộc Trang
Trường THCS Lê Đình Chinh (Thành phố Phan Rang Tháp Chàm, Tỉnh Ninh Thuận)

 

 

Nỗi buồn thêu thổ cẩm

Nỗi buồn thêu thổ cẩm

Lặng yên dưới vực sâu” là tiểu thuyết mới nhất của Đỗ Bích Thúy do NXB Hội Nhà văn giới thiệu tới bạn đọc năm 2017. Tiểu thuyết xoay quanh câu chuyện tình yêu giữa những chàng trai, cô gái trên đỉnh núi đá cao với những trảng hoa tam giác mạch hồng rực màu nắng, hiện đang song hành cùng bộ phim chiếu trên VTV của đạo diễn Đào Duy Phúc. Chuyện tình tay ba trở nên cái cớ cho toàn bộ những trang sách vốn

không mấy vui tươi. Cuộc cướp vợ đã chuẩn bị nhưng bất thành của người được yêu, cuộc lừa gạt để cưỡng đoạt do một người yêu điên cuồng nhưng không được yêu gây ra, đã kéo tất cả và vòng quay đau khổ.

Phống lừa bắt Súa về và cái “sự đã rồi” cùng sự ràng buộc của phong tục truyền đời đã khiến Súa phải làm vợ và mãi mãi sau này “làm con ma nhà Phống”. Được người, nhưng Phống chỉ được đáp lại bằng nguội lạnh. Bởi Súa vẫn chỉ dành trái tim cho Vừ. Còn Vừ thì không nguôi quên được Súa. Tình yêu, khát vọng hạnh phúc không toại nguyện của cả ba con người ấy thành cái vòng luẩn quẩn, kéo theo cả nỗi niềm, mất mát, thiệt thòi của những người xung quanh. Đó là Xí được Súa nhờ cậy chăm sóc Vừ, nhưng tình yêu chân thành từ Xí cũng rơi vào vô vọng. Đó là những nỗi buồn lo của bố Súa, của ông bà Vừ, của bố mẹ Phống, và cả đứa em dâu câm trong họ hàng nhà Phống, cũng trở thành một nạn nhân. Tình yêu phải chăng như cái bóng mà người ta đuổi bắt mệt nhoài, và những bất hạnh nó gây ra, chắc không chừa ai. Mỗi người dù ít dù nhiều, cũng phải chịu lấy một ít. Thậm chí có những khi đời sống một số ai đó đã tưởng được bình yên một cách êm xuôi. Nhưng như câu chuyện này đã kể, thì lúc nào đó, một bất ngờ kinh khủng có thể ập đến!
Cảnh trong phim cùng tên trên VTV.
Như một tấm khăn thổ cẩm lớn, nhà văn thêu vào câu chuyện này những chi tiết sống động của ngày thường, của mùa màng, của thời gian, thời tiết, của những suy tư về đời người, về vòng quay cộng đồng… qua những suy nghĩ chân thực toát ra từ đồng bào dân tộc Mông mà nhà văn cảm nhận được. Sẽ khó lượng tính được rõ một người Kinh như tác giả, lớn lên ở Hà Giang, gắn bó với núi cao, vực sâu và văn hóa dân tộc Mông, sẽ hiểu được đời sống và con người nơi ấy đến đâu. Nhưng có thể thấy tác giả đã kể chuyện bằng cái nhìn của “người ở trong”, từ trong cộng đồng ấy, văn hóa ấy, trong mỗi nhân vật ấy mà suy tư, ngẫm ngợi, mà đi qua các trạng thái tâm lý chủ yếu là buồn, là thương, là mong ngóng, giằng xé, chịu đựng, dằn vặt… Bởi thế, hòa vào cảnh sắc, nhịp sống, những hành động trong sinh hoạt, lao động, những vật dụng và tập quán rất đặc trưng, tác giả bước vào sâu hơn trong đời sống nội tâm những con người là chủ của không gian, nhịp điệu đó.
Và vì thế, “Lặng yên dưới vực sâu” không giống những sắc màu quen thuộc như khi người ta nghĩ đến đời sống vùng cao qua những câu thơ bay lượn, những tản văn mềm mại, qua vô vàn tác phẩm nhiếp ảnh lung linh, cùng nhiều bức tranh đằm thắm… Những điều ấy phác họa ra một vùng cao thật mỹ lệ, thật giàu bản sắc, thật tươi tắn trong ánh mắt, nụ cười con người ở đây… như đã được mặc định.
“Lặng yên dưới vực sâu” như một cách kể, một câu trả lời cho việc nên làm điều gì đó khác đi những gì đã rất quen, điều gì chân thực hơn những thực tế thường thấy. Cuốn tiểu thuyết là một nỗi buồn thêu thổ cẩm. Được thêu đấy, nhưng chỉ thêu không phủ được nỗi buồn đau, da diết, thê thiết, vọng lên từ nơi tưởng đã kết thúc.

HOÀNG HOA

Gặp lại Văn Thành Lê

Gặp lại Văn Thành Lê

PNO - Năm 2007, tôi biết Văn Thành Lê, lúc ấy là sinh viên trường Đại học Sư phạm Huế.

Đó là một chàng thanh niên đang “tập tành văn chương”, vừa lo học vừa mải mê sáng tác. Lê thường viết những tản văn nhẹ nhàng và rất có hồn, nói về quê hương, về những gì mộc mạc và máu thịt của tuổi thơ...

Tác giả Văn Thành Lê

Bẵng đi một dạo không gặp, rồi chẳng bao lâu sau tôi thấy cái tên Văn Thành Lê xuất hiện đều trên các báo. Cây bút sinh viên ấy đã tiến rất nhanh để trở thành một tác giả quen thuộc và giờ đây, sau bốn tập truyện đã in, Văn Thành Lê lại cho ra mắt bạn đọc tập truyện này.

Biết tới khi nào mưa thôi rơi, cái tựa đề rất gợi của tập truyện làm tôi nghĩ đến những cơn mưa dài lê thê của miền Trung, quê hương của tác giả, nơi người ta sống nhiều ngày trong nỗi khắc khoải chờ cơn mưa dầm ủ ê chấm dứt… Hóa ra không phải thế. Trong tập truyện này là mưa của Sài Gòn. Và Lê cũng không còn viết những đoạn hồi ức mượt mà đầy chất thơ như trước. Có chăng là ấn tượng mưa đè nặng trong ký ức, và cơn mưa này là để nói về một nỗi trăn trở, một nỗi buồn dài hơn, sâu hơn nhiều lắm! Khác với một Văn Thành Lê man mác nhẹ nhàng mà tôi đã biết, ngòi bút Lê giờ đây dường như cũng đã cùng chủ nhân của nó nếm trải đủ thử thách của cuộc đời để viết lên những trang văn gân guốc và trĩu nặng suy tư, trong đó có cả kinh nghiệm dạn dày, có cả tổn thương mất mát và những phát hiện đôi khi đau đớn đến tưởng chừng không chịu nổi. Những nhân vật của Lê là những nhân vật rất thật, được đặt trong những hoàn cảnh rất thật. Họ là những con người gần gũi quanh ta, họ là chính ta, với những vấn đề tưởng chừng tầm thường nhỏ bé mà thật ra lại lớn, những vấn đề của xã hội hiện tại mà tuổi trẻ đang phải đối mặt từng phút từng giờ.

Ta thấy ở đó hình ảnh một khu xóm trọ nghèo nàn, nhếch nhác, nơi người ta sống cuộc đời tạm bợ vá víu…Trong đó có những sinh viên trẻ đang ngày ngày học bài và mơ nghĩ đến tương lai…

Ở đó cũng có những chuyện đảo điên, ngay trong môi trường tưởng chừng thanh khiết của học đường. Ở nơi đâu sự bất công cũng đều đáng ghét, nhưng đáng sợ nhất là sự bất công, dối trá và ám muội đã mọc rễ bắt mầm từ ngay dưới mái trường, nơi lẽ ra phải tinh khiết như một thánh địa của tâm hồn thơ trẻ.

Ta đọc được trong truyện của Lê nỗi nhọc nhằn của những người trẻ tuổi trước ngưỡng cửa cuộc đời: “Tao không tưởng tượng nổi cảnh vác hồ sơ đi xin việc. Không khác gì đi… xin ăn. Ở đâu cũng lắc.” Ta gặp ở đó những con người sống ở một huyện ô nhiễm khói bụi đến nỗi luôn phải đeo khẩu trang, rọ mõm tối ngày để rồi phải thốt lên “Sống như thế khác gì chó!”. Truyện của Lê phác họa bức tranh của khoảng cách giàu nghèo chênh lệch trong xã hội Việt Nam, độ cách biệt quá lớn giữa tỉnh lẻ và thành phố lớn (Biết tới khi nào mưa thôi rơi), giữa thị thành và miền núi (Hoa núi). Từ sự cách biệt đó người ta đổ xô thành dòng chảy về đô thị, hối hả tìm sự sống, tất bật từng ngày trong guồng quay, đánh đổi rất nhiều, trả giá rất nhiều nhưng vẫn chấp nhận vì đấy chính là tiếng gọi của cuộc sống.

Chưa đến ba mươi tuổi, Văn Thành Lê có đủ sự lăn lộn giữa cuộc đời để biết rất nhiều và nói rất thật. Lê viết thật lắm, dám đưa ngòi bút lục lọi xáo xới cả hiện thực ngoài đời lẫn những nỗi niềm trong nội tâm từng nhân vật. Trang viết của Lê vì thế mà đượm một nỗi buồn, một thứ buồn tỉnh táo và hơi tàn nhẫn, nhưng biết sao được vì sự thực thì bao giờ cũng thế, đòi hỏi người ta phải dũng cảm để đương đầu. Có lúc bạn sẽ thấy rợn người vì những mẩu đối thoại nghe được trước phòng khám phụ khoa, sẽ nổi da gà khi chia sẻ cảm giác của chàng trai ngồi chờ bạn gái nạo thai, hay cảm thấy gớm ghiếc trước lời lẽ đê tiện của gã lưu manh chuyên dụ gái… Có thể bạn sẽ kêu lên rằng tác giả đã pha cho bạn những liều thuốc quá đậm đặc, nhưng nghĩ cho cùng, những chuyện ấy có gì xa lạ đâu, chúng vẫn ngày ngày xảy ra nhan nhản bên bạn đấy thôi!

Thực ra trên tất cả những cái lôm côm mà Lê đã lột tả về cuộc đời, niềm hy vọng của tuổi trẻ vẫn tiềm tàng rất rõ trong từng câu chữ. Tôi nhớ ngày trước khi còn là sinh viên, Lê đã viết một tản văn về cây si cổ thụ ở đầu làng. Với Lê, cây si là cái hồn của ngôi làng, gắn bó với ký ức dài lâu và sâu thẳm của một cộng đồng, một vùng đất. Có thể nói nó chính là biểu tượng tình yêu của Lê đối với làng và nước, hay nói rộng thêm nữa, của cả cõi người.

Trong tập truyện này ta lại gặp hình ảnh cây si ở truyện Vỡ đất, truyện mà tôi cho là hay nhất. Ngôi làng hiền hòa từ khi được khám phá ra có chất quặng vàng đen đã trở thành đối tượng cho lòng tham, để rồi trong sự mê mải theo đuổi đồng tiền người ta đã đành lòng bán cả cây si cổ thụ. Cây si mất, mạch nguồn sự sống cũng rạn vỡ, kéo theo bao nhiêu tai họa…

Giữa bao nhiêu ngổn ngang của chuyện đời điên đảo, hình ảnh cây si cổ thụ xanh tươi chính là hình ảnh mạch nguồn sự sống vĩnh cửu mà Lê yêu quý.

Tập truyện của Lê, bên dưới những dòng miêu tả khô lạnh về một thời xao động, vẫn luôn tiềm tàng khát vọng sâu thẳm về sự sống tinh khôi và một tấm lòng nồng nàn với cuộc đời.

Trần Thùy Mai

Lê Vi Thủy và “Mắt vỡ không còn bóng”

Lê Vi Thủy và “Mắt vỡ không còn bóng”

Lê Vi Thủy là tác giả thuộc thế hệ 8X, hiện đang sống và làm việc tại thành phố Pleiku (Gia Lai). “Mắt vỡ không còn bóng” – tập thơ mới ra mắt bạn đọc được nhà thơ Văn Công Hùng nhận xét: “Đọc thơ Lê Vi Thủy cứ căng như dây đàn, mình chỉ là người đọc mà cũng phải làm mới mình mới theo kịp… Vượt qua những dễ dãi của nhiều cây bút khác, Lê Vi Thủy quằn quại để mới với cái nhìn đa chiều đa diện đày ám ảnh màu sắc, một sự lập ngôn vừa bản lĩnh vừa hơi…liều. Nhưng như thế mới là trẻ…”. VanVN.Net xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc chùm thơ rút trong tập “Mắt vỡ không còn bóng” của tác giả Lê Vi Thủy.


Tác giả Lê Vi Thủy

SỐ KHÔNG

Cuộc đời xoắn ốc

khởi đầu luẩn quẩn trong kết thúc

đá cuội già nức nở hạt mưa non

giọt hình hài bấu víu chòm mây xám

vàng quỳ hục hặc khuấy đông

trên bến chợ bơ vơ cuộc người

lặng lẽ quay

Anh dắt em đi vòng xoắn ốc

thênh thang hoa & lá

ánh sáng chói lòa - anh ở đó

mơ một hạnh phúc

nụ hôn không đầu không cuối

gấp tiếng thở

Con dốc gió in chiều im bóng

em hanh hao trở về

thế giới nhỏ anh vũ trụ lớn

cuống quít nồng nàn cặp tình nhân

và đôi họa mi tíu tít

bỗng nhạt nhòa không rõ từ đâu

Cuộc đời vẫn là vòng xoắn ốc

một vòng tròn em vẽ mãi

day dứt bên số không vĩnh cửu

hiện hữu

9.2010


MẮT VỠ KHÔNG CÒN BÓNG

Dốc nhỏ lưng đồi gió

những khối vuông vức ô lưới mắt

cánh tay trần em chạm vào

vỡ bóng không còn

Bên trong ô cửa, cơn bão thủy tinh vụn

mảnh cứa vào rướm máu

mâm cơm đổ nhào, khóe mi rách

chuột gặm dưới chân bàn, bóng tối

những cơn ho

lũ trẻ nằm co góc nhà

mắt vỡ không còn bóng

những ô cửa mở ra từ hôm qua

hôm nay & ngày mai

trong cái khoảng không bắt đầu và kết thúc

chữ ký không là nhân chứng tình yêu

lời thề đi qua cõi rỗng không đáy

mắt vỡ

tìm đâu cho ra chiếc bóng hạnh phúc

những ô cửa vẫn mở ra lưng chừng dốc

gió lưng đồi …

11.2008

SÓT LẠI

Mặt trời ló ra trên đỉnh núi

tiếng hú đêm qua dứt hẳn

giọt nước mắt khô khốc - mảng thâm quầng

người đàn bà cười khan với cuộc đời

Nỗi đau dúm dó

đâm xiên vào da thịt

gằn xé

người đàn bà ngồi trong chốn xa xăm

hàng rào hoa đỏ còn đâu

lời chúc tụng & khuôn cười hạnh phúc

sậm xụ

đứa con tình yêu

Thiêng liêng vĩnh cửu tiếng gia đình

vun đắp & khát khao

quẩn luẩn

đời bà – mẹ & con

nức nở những chuyện cười ra nước mắt

đông dần

đông dần

Số phận chung đường

đàn bà

phong kiến hay hiện đại

24 tiếng vô hình bung bít

chất đầy trên đôi gánh – gánh suốt cuộc đời

lý tưởng - lãng mạn cuộc sống

ngụy tạo cơn lốc bụi mù

xoáy trên bề mặt bờ ruộng nứt nẻ hạn hán

sau bao nhiêu năm cực nhọc

cuộc đời hữu hạn trong vô hạn

lũy tre làng hiu hắt gió

cụ già khục khặc nhai trầu

bòn bọt nhớ

Khát vọng đàn bà

mòn vạt

theo thế hệ chảy cùng năm tháng

dát sáng vài giây phút ngắn ngủi

tắt ngúm

chỉ còn tro tàn

sót lại….

04.2010

LẮNG NGHE GIỮA MƠ HỒ

Con đường rất chật trên ngày xưa cũ

Chợt hanh hao một mùa biếc lá

Chợt chênh chao mái ngói nâu thâm

Anh kể em nghe về Cổ Ngư xưa

Những ngôi nhà cổ trên phố cũ rêu phong

Ghế đá dài hun hút Hồ Gươm

Cầu Long Biên ngày dậy sóng

Chiều Hồ Tây thoai thoải ánh nhìn

Hà Nội trong em mơ hồ tựa anh

Đến nhanh quá đi cũng nhanh quá

Đâu ơ hờ trống rỗng mình em

Mưa đêm Pleiku tiếng thầm rơi rả rít

Nấc sượt dài em thả nước cuốn trôi

Nắng đã tắt & loài người đi ngủ

Xếp góc chiều những nỗi nhớ mênh mang

Hà Nội trong em

Lãng đãng sóng

Sông Hồng động hình ngôn ngữ

Chiếc áo cũ vẫn choàng hoang tàn đạn bom

Treo thời gian trên giá sách ghim tường

Em đi qua phố trong dị mộng của loài chim sẻ

Ríu rít hương hoa ngắt chiều đổ bóng

Tiếng rao khàn miền nhớ liêu xiêu

Ký ức đan xen ngắt quãng khi nghe khúc tình Phú Quang

Chiếc hôn hắt vội giọt cà phê đắng giọt giọt…

Pleiku gió hát trên hoa cỏ may

Em tìm anh phố dài xao xác

Đàn sâm cầm vỗ cánh bay đi

Làn sương bay mỏng mảnh ngón tay gầy

Mặt trời lội vào những mảnh ghép

Lắng nghe

Giữa mơ hồ Hà Nội…

10/2010

CAM RANH TRẮNG

Gõ phách, nhịp lạc

gã đàn ông vo tròn khói thuốc thả mây

khủng hoảng đọng mái tóc mờ sương

mất em giữa inh oang phố thị

đi hết kiếm tìm là tuyệt vọng*

ngân hà cuộn chảy

búng bàn tay nhạc âm ngân lên

nhòe nhoẹt giữ giấc chiêm bao trắng phếu nỗi sợ chong chong*

Migon* bỏ nhà đi mất

chén canh còn, bồ hóng chênh chao nguồn thực

Cam Ranh trắng

loang lổ mảnh ghép cuộc đời

thảng thốt gã đàn ông vùi mình vào rơm rạ

gạt nỗi buồn loang lên cỏ may

tìm màu mắt xám trong sương xám phỉnh phờ

gã tìm em trốn

em tìm gã trốn

rượt đuổi trong bản thanh âm loạn nhịp

vang lên. Rơi tự do những mỹ cảm lời

cành môi em khua động những miền tôi*

ngậm vào quên hư không mỏi mệt*

gã đàn ông thấy mình trong khúc hoan ca

trong trò chơi con chữ

treo ngược cô đơn, vũ trụ quay

gã nói yêu em

yêu bình minh mỗi ngày

yêu tách trà ấm nóng

đời thường

Mắt cười mở ngày mới

sinh nhật long lanh

Cam Ranh trắng đầy nắng!

9/2009

-------------------------

(*) Thơ Vĩnh Phúc

(*) Tên của con chó Migon

Nguồn: Vanvn.net

Thời của những 'sao nhí làng văn'

Thời của những 'sao nhí làng văn'

Việc liên tiếp xuất hiện những tác giả, dịch giả nhỏ tuổi trong đời sống văn học thời gian qua khiến người ta có cảm giác, phải chăng đã đến thời của các ngôi sao nhí trong giới văn chương?

Trước hiện tượng này, người cả nghĩ sẽ lo lắng, liệu các em có bị già trước tuổi và có bị mắc 'bệnh sao'?

Đình đám hơn cả phải kể đến tác giả của tiểu thuyết viễn tưởng “Cuộc chiến hành tinh Fantom”. Chuyện về cậu bé 11 tuổi viết tiểu thuyết đã làm tốn không ít giấy mực của báo chí. Nhà thơ Trần Đăng Khoa, vốn là thần đồng thơ nổi tiếng nhất trong các thần đồng văn học của Việt Nam, cũng đã trực tiếp viết hai kỳ về cậu bé trên báo Thể Thao & Văn Hóa. NXB Trẻ, đơn vị thực hiện cuốn sách, cũng có những hoạt động giao lưu bên lề khi phát hành tác phẩm. Và những gì mà Nguyễn Bình thể hiện trong “Cuộc chiến hành tinh Fantom” đã khiến cho những ai đọc sách của cậu phải bất ngờ nếu giữ lối đánh giá thông thường về tư duy của một cậu bé lớp 5. Chưa nói viết hay hay không hay, chỉ nguyên khối lượng tri thức khổng lồ mà cậu bé thu nạp và thể hiện trong cuốn sách đã đủ khiến những người trưởng thành phải thán phục. Ngoài cuốn tiểu thuyết đầu tay, Nguyễn Bình vẫn còn một lượng bản thảo kha khá đang chờ in ấn.


Ngô Gia Thiên An trong buổi ra mắt cuốn sách của mình.

Con gái của nhà thơ Trang Thanh cũng là một tác giả nhí mới ra mắt tập thơ đầu tay “Những ngôi sao lấp lánh” ở tuổi 12. Nếu như Thiên An từng là cảm hứng để mẹ sáng tác tập truyện “Tí Chổi” và xuất hiện trong tập sách dưới vai trò nhân vật thì sau đó cô đã đàng hoàng đứng tên tác giả một tập thơ. NXB Kim Đồng đã in một chùm tác phẩm của các cây bút nhí trong đó có Ngô Gia Thiên An và tổ chức một buổi ra mắt. Hiện Thiên An sinh hoạt trong nhóm bút “Nhiệt Đới” và là thành viên nhỏ tuổi nhất. Thiếu niên Tiền phong và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

Cái tên Đỗ Nhật Nam đã quá quen thuộc với độc giả cả nước. Hiện cậu đang giữ kỷ lục “Dịch giả nhỏ tuổi nhất” của Trung tâm kỷ lục Việt Nam. Với bộ sách 4 tập “Cu Tí khám phá thế giới”, Đỗ Nhật Nam đã khiến nhiều độc giả bất ngờ trước khả năng dịch của cậu. Nam bước vào con đường dịch sách rất ngẫu nhiên. Bộ sách nhiều tập có tên “Cu Tí khám phá thế giới” được Đỗ Nhật Nam dịch những trang đầu tiên từ khi cậu mới 7 tuổi. Mới đây nhất, Đỗ Nhật Nam ra mắt một cuốn sách chia sẻ kinh nghiệm học tiếng Anh của chính cậu có tên “Tớ đã học tiếng Anh như thế nào?”. Kế hoạch phía trước của Nhật Nam vẫn là những cuốn sách dịch.


Đỗ Nhật Nam và bố (trái) trong một sự kiện văn học

Một trường hợp nữa cũng tên Nam nhưng là con gái, Nguyễn Hương Nam, cô bé đến từ Đăk Lăk tuy chưa in tập sách riêng nào nhưng cũng là cái tên khá nổi. Mẹ cô là nhà văn Nguyên Hương. Cuối năm 2011 Nguyễn Hương Nam đoạt giải nhất cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng phối hợp với Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức với tác phẩm “Vỏ ốc diệu kỳ”. Truyện ngắn khá chững chạc này được cô bé viết ở tuổi 13, sau khi được trao giải đã được Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam in lại.

Gần đây hai tác giả trẻ cùng lớp tại Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Hà Nội là Nguyễn Đan Thi và Nguyễn Hoàng Trâm Anh cũng ra tập sách của riêng mình tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Hai tập sách “Nụ cười của thiên thần” và “Thư gửi người thiên cổ” nhận được sự quan tâm của bạn đọc, tạp chí Nhà Văn cũng in giới thiệu hai gương mặt này. Nhà văn Tạ Duy Anh, người trực tiếp xử lý bản thảo của hai tác giả nhí nhận xét: “Tuy còn ít tuổi, nhưng nhiều vấn đề các tác giả đặt ra một cách hồn nhiên lại khá là hóc búa cho người lớn cả về độ sâu sắc lẫn tính cấp bách xã hội của nó. Đó là quyền được mơ ước, được thể hiện, được sống lành mạnh trong một môi trường đạo đức, được tôn trọng, được bảo vệ khỏi tai ương, khỏi nỗi sợ và được hy vọng vào tương lai… Và cuối cùng là từ những trang sách đó toát lên thông điệp về vẻ đẹp của tự đo, khát vọng, trí tưởng tượng…”.

Mai Clara và mẹ - nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai

Mai Clara có lẽ là gương mặt mới nhất trong dàn “sao văn học” nhí. Cô và mẹ, nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai vừa đứng tên chung trong tập truyện “Mun ơi, chạy đi!” do NXB Văn hóa Văn nghệ ấn hành tháng 4/2012. Có khác là ở chỗ, nếu như một số tác giả nhí vừa kể trên thuần Việt thì Mai Clara mang một nửa dòng máu Đức và hiện gia đình cô bé cũng đang sống tại Singapore. Tuy thời gian ở Việt Nam rất ít nhưng nhờ được mẹ dạy nên Mai Clara nói và viết tiếng Việt khá tốt, chính vì thế tập truyện “Mun ơi, chạy đi!” đã được viết bằng tiếng Việt chứ không phải tiếng Anh hay tiếng Đức là hai ngôn ngữ mà cả cô và mẹ đều sử dụng tốt.

Đã gọi là hiện tượng thì thường được xã hội dành cho sự quan tâm đặc biệt. Hầu như các tác giả nhí khi ra sách, đơn vị xuất bản đều tổ chức sự kiện ra mắt tác phẩm và giao lưu với tác giả, bởi riêng việc “trẻ con viết sách” đã là một sự lạ rất dễ trở thành tâm điểm của giới truyền thông. Hay như việc tham gia một cuộc thi nếu đoạt giải cao thì việc báo chí săn đón là điều dễ xảy ra. Tất cả điều đó vô hình trung đã biến các em thành người của công chúng từ quá sớm. Để giữ thăng bằng cho cuộc sống, không bị ngộ nhận hay cuốn theo những hư danh là điều rất khó.

Với hầu hết trường hợp vừa kể trên, các em may mắn đều sinh ra trong gia đình có bố mẹ là những người am hiểu, thậm chí chính họ cũng hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật hoặc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, vì thế đã rất có ý thức giữ cho con không bị chao đảo khi được tung hô hay trước những lời ngợi khen thái quá. Ngô Gia Thiên An, Nguyễn Hương Nam, Nguyễn Đan Thi và Mai Clara đều có bố, mẹ là nhà văn, nhà thơ. Nguyễn Bình có bố là nhà phê bình Nguyễn Hòa, còn bố Đỗ Nhật Nam là PGS.TS Đỗ Xuân Thảo từng có thời gian giảng dạy ở nước ngoài. Có lẽ bố mẹ các em cũng thừa hiểu sự nhọc nhằn của chữ nghĩa để chuẩn bị cho con một tâm thế đúng đắn, giúp con đi đúng đường.

Điều này được thể hiện ở những suy nghĩ khá chín của chính các em. Ngô Gia Thiên An hoàn toàn không lo ngại gì khi “bị” nổi tiếng: “Em không thấy có điều gì phải sợ và em không nghĩ em cần thay đổi điều gì. Em cứ là mình và học tập thật tốt, làm những điều gì mà bố mẹ em vui”. Và nếu như Ngô Gia Thiên An khi được hỏi về hai từ thần đồng đã giải thích rằng, “thần đồng thơ là những người được ban cho sức mạnh để nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình sáng tạo ra qua thơ, văn” thì em cũng không coi thần đồng là một áp lực. Còn Nguyễn Bình, khi được bố hỏi về hai từ này câu trả lời còn “đỉnh” hơn, cậu đầy hài hước khi nói rằng thần đồng nghĩa là… thằng đần, sau này, khi trả lời phỏng vấn báo chí cậu cũng nói như vậy và cho biết, “không thích mọi người gọi mình là thần đồng mà chỉ thích gọi là Nguyễn Bình thôi”. Riêng Đỗ Nhật Nam, dù nhỏ tuổi hơn (sinh năm 2001) nhưng nếu có dịp giao tiếp sẽ thấy sự già dặn, dạn dĩ cũng như phong thái tự tin của cậu, cũng dễ hiểu, bởi Nhật Nam cộng tác thường xuyên với truyền hình và là gương mặt MC quen thuộc của chương trình “Chúc bé ngủ ngon” trên VTV3.

Thời nay, được tiếp cận sớm với tri thức, điều kiện học tập tốt hơn, cộng với năng khiếu bẩm sinh, một số em đã bộc lộ khả năng rất sớm. Và việc xuất hiện một lớp tác giả nhí trong lĩnh vực văn học, xuất bản có lẽ cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, làm sao để các em phát triển đúng hướng, tránh bị tác động không tốt đến tâm lý lứa tuổi cũng là điều đáng lưu tâm. Thời nào Việt Nam cũng có những thần đồng trong các lĩnh vực, có những người chứng tỏ tài năng từ thuở nhỏ và khi trưởng thành vẫn theo đuổi lĩnh vực ấy, và ngược lại, cũng có những người theo đuổi lĩnh vực khác, thậm chí hoàn toàn trái ngược. Đặt ra những đoán định cho các em bộc lộ tài năng sớm ở thì tương lai e rằng không nên, bởi có theo đuổi lĩnh vực mà các em có khả năng hay không còn do nhiều yếu tố trong đó có sở thích của chính các em và định hướng của gia đình. Chẳng hạn ở trường hợp Đỗ Nhật Nam, dù nổi tiếng và thể hiện khả năng sớm trong lĩnh vực dịch thuật nhưng ngay từ bây giờ, khi được hỏi về nghề nghiệp Nam lại nói có mong muốn sau này trở thành một… nhà sinh vật.

Nguồn: Evan.vn

Phong lưu... Đặng Thiều Quang

Phong lưu... Đặng Thiều Quang

Tình cờ tôi ngồi với Đặng Thiều Quang vào đúng cái ngày mà anh cho là đặc biệt. Góc cửa sổ cà phê Viện Goethe với không gian ngập tràn hoa và những người phụ nữ đẹp đẽ, tôi đùa, đúng như trong không gian truyện Đặng Thiều Quang.

Trang 1 trong tổng số 39 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1669
mod_vvisit_counterHôm qua2892
mod_vvisit_counterTất cả4702577

20 118
,
Hôm nay:25 - 5 - 2017
Hiện có 260 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: