Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Tác giả trẻ Hoàng Công Danh: Tập truyện thấm đẫm Phật giáo

Tác giả trẻ Hoàng Công Danh: Tập truyện thấm đẫm Phật giáo

Cõng nhau trong một cõi người - tập truyện liên hoàn của Hoàng Công Danh gây ngạc nhiên cho nhà văn Hồ Anh Thái về sự trải nghiệm và thấm nhuần giáo lý nhà Phật ở một tác giả trẻ (26 tuổi).

Đây là tập truyện đầu tay của tác giả, bao gồm 23 truyện ngắn từng in trên các báo Tuổi trẻ, Thanh niên, Người đại biểu nhân dân, Văn nghệ Công an, tạp chí Phật giáo...

Bìa tập truyện Cõng nhau trong một cõi người của Hoàng Công Danh

1. Các truyện cùng chung một bối cảnh và nhân vật, đọc thành một câu chuyện dài, hoặc “một tiểu thuyết” như nhà văn Hồ Anh Thái nhận định. Bối cảnh là một ngôi chùa, hai nhân vật chính là một nhà sư và chú tiểu, vài nhân vật khác là các thí chủ, chị bán vải, mạ...

Tập sách thấm đẫm triết lý nhà Phật. Lối viết của tác giả hiền hậu, mô tả cuộc sống qua con mắt chú tiểu Sanh chầm chậm, thiên lương, yên ả. Điều này có được do chính tác giả đã trải nghiệm và thấm nhuần giáo lý nhà Phật theo truyền thống gia đình. Anh sinh ra trong một gia đình có truyền thống đạo Phật nên từ nhỏ đã đến chùa lễ Phật và tham gia tu học Phật pháp.

“Rất có thể Hoàng Công Danh cũng chính là điệu Sanh kia, việc anh làm ở công sở hôm nay, cuốn sách anh viết hôm nay, đều trong luật nhân quả mà cái nhân đã được ươm mầm từ những nơi rợp bóng mát từ bi ngày trước” - nhà văn Hồ Anh Thái, người nghiên cứu và am hiểu Phật giáo, có nhận xét trong lời giới thiệu.

2. Cũng chính vì từ nhỏ sống trong môi trường Phật giáo, thân thuộc với nhà chùa, khi viết về đời sống bên ngoài, Hoàng Công Danh viết “không sinh động không nhiều nếm trải như khi anh viết về ngôi chùa”. Nhận lời góp ý từ Hồ Anh Thái, tác giả chỉ tập trung viết truyện về hai thầy trò trong ngôi chùa.

“Đời, càng ngày cái thật càng lụi đi, cái giả trăm hoa đua nở. Có cô diễn viên đi làm từ thiện, tay phát quà cho trẻ, mắt cố rơm rớm vài giọt long lanh, diễn xuất là nghề của nàng mà. Mặt cứ đăm đăm nhìn vào ống kính máy ảnh của phóng viên. Máy bấm bụp, được rồi cô ơi, thì cô diễn viên mới cười toe toét” - trích truyện Ươm cây giữa vườn đời của Hoàng Công Danh.

Tác giả Hoàng Công Danh sinh năm 1987, quê Quảng Trị. Chuyên ngành đại học và thạc sĩ của anh là vật lý, đến với văn có lẽ nhờ cái “duyên”. Lấy bằng thạc sĩ ở Belarus, khi về nước, Hoàng Công Danh đã chọn trở về quê nhà Quảng Trị để sống và làm việc.

Tập truyện Cõng nhau trong một cõi người do NXB Trẻ ấn hành tháng 5/2013, trùng thời điểm với tuần lễ Phật Đản từ ngày 17-24/5 tức từ mùng 8 - 15/4 âm lịch.

Nguồn: TT&VH

HOANG TÂM hay một cuộc trở về với căn tính văn hóa

HOANG TÂM hay một cuộc trở về với căn tính văn hóa

(Về tiểu thuyết HOANG TÂM của Nguyễn Đình Tú)

Văn chương bổ khuyết cho khoảng thiếu, trắng của lịch sử. Lịch sử chỉ có thể ghi chép các sự kiện, các diễn biến, những con số cùng những phản ứng của các bên liên quan mang tính toàn cục. Tác phẩm văn chương ngược lại, thể hiện biến động tâm sinh lí, suy nghĩ cùng sinh hoạt cục bộ và đơn lẻ của cá nhân trong sự biến ấy. Thế nhưng chính cái cục bộ và đơn lẻ mang tính cá thể kia nói được rất nhiều. Bởi nó đụng chạm đến phần cốt tủy nhất của con người. Chính là con người.

Lịch sử Việt Nam giai đoạn qua đầy thiếu khuyết. Cải cách ruộng đất, đã có vài tác phẩm động cập đến, nhưng chưa nhiều. Chiến tranh biên giới Tây Nam càng hiếm hơn nữa. Hoang tâm của Nguyễn Đình Tú nằm trong dạng hiếm ấy. Nhưng Hoang tâm không phải là tiểu thuyết sử thi, nơi người đọc hi vọng tìm thấy ở đó những trận đánh lớn, những chiến lược thể hiện vai trò và tài năng của các tướng lĩnh, hay tinh thần chiến đấu của binh sĩ các bên tham chiến. Nguyễn Đình Tú muốn nhấn vào khía cạnh khác, nhỏ lẻ và phân mảnh. Cho nên, nó người hơn.

Hiện thực hơn cả hiện thực, siêu tưởng quá siêu tưởng - là điều người đọc bắt gặp liên tục ở tiểu thuyết này. Các chương tiểu thuyết được Nguyễn Đình Tú khéo léo sắp đặt xen kẽ, cho câu chuyện dẫn dắt hiện thực ở hai chiều đối nghịch có mặt và bổ khuyết cho nhau, để cuối cùng tất cả trở về với hiện thực bình thường. Rất có hậu.

Hiện thực hơn cả hiện thực, bởi chỉ trong chiến tranh, bản chất con người mới lộ ra đầy đủ và rõ nét nhất. Cái bản chất người, rất người không thể che giấu. Khi đối mặt với cái chết, cái chết xảy đến bất cứ lúc nào, quanh ta, bên cạnh ta, với đồng đội ta và kẻ thù ta, và cả với ta, con người sẽ chỉ phản ứng và phản ứng đầy bản năng. Ở đường biên sống và chết, sinh phận con người thường trực đánh đu với may rủi xảy đến trong tích tắc. Xấu và tốt, nhát hèn và dũng cảm, tội ác và hình phạt, hi vọng và tuyệt vọng… Tất cả đều vượt quá, siêu việt khỏi suy nghĩ và tưởng tượng, yêu ghét và toan tính của sinh hoạt ngày thường. Vượt quá, đến không thể chịu đựng nổi. Nhiều người lính trở về sau cuộc chiến thường xuyên bị ám ảnh máu me và chết chóc, và tội lỗi và hi sinh và chịu đựng quá sức chịu đựng… đến trầm cảm, là vậy. Nhất là những quân nhân thiếu máu “lính tráng”, nhiều ưu tư và đầy tính nhân văn, thì chấn thương thời hậu chiến càng trầm trọng hơn.

Nhân vật Anh trong Hoang tâm là một.

Chứng kiến những “Hằng bị cắt đứt cuống họng, chết trong tư thế ngồi”, “Gấm bị bọn K cắt đầu. Xác Gấm được vứt ngay gần lán trại, trong một tư thế như con ếch nằm ngửa, cửa mình bị cắm một củ sắn”; và chính mình cũng “đã bắn chết thằng K đầu tiên trong tư thế đang nằm trên nước”, thì một anh lính “vào lính với một tư thế lãng mạn chiến chinh như Anh” khó có thể trở lại đời sống bình thường được Từ chiến trường K trở về, Anh đã “điên”, đã mất “ngủ”, mất cảm hứng sinh hoạt vợ chồng. Chấn thương tâm lí dẫn đến chấn thương sinh lí. Biểu hiện tắt dục nơi Anh đã đẩy nhân vật này vào đường cùng. Bản năng tính dục, cạnh đó bản năng truyền giống không còn, cuối cùng anh đánh mất luôn cả gia đình đang yên ấm.

- Vợ anh không chịu nổi à?

- Phải. Cô ấy đã có con với người chồng mới... Chồng cô ấy là một người Pháp... Cô ấy đưa con gái đi cùng...

- Họ có bao giờ về thăm anh không?

- Không. Thời gian đầu cô ấy hay gửi các loại thuốc an thần về cho tôi. Nhưng sau này thì tôi bảo cô ấy đừng gửi nữa. Tôi thấy nó chả có tác dụng gì cả.

Với triệu chứng hậu chiến này kéo theo bao hệ lụy của nó, thuốc an thần dù mang đặc hiệu ngoại tới đâu, cũng không là gì cả. Nhất là, qua đó, người lính bị đẩy vào tình trạng chấn thương văn hóa. Từ hiện thực chiến trường sang hiện thực đời thường, là cả một vực thẳm khác biệt đã đành; hiện thực văn hóa hiện tại càng lạ lẫm với anh. Anh thấy mình lạc lõng và xa lạ. Nếu ở ngoài mặt trận, Anh không tin tưởng Sa Rết, đó là do bản năng tự vệ; nhưng khi trở về với thế giới văn minh, xa lạ và lạc lõng với chính những người thân yêu, sự mất niềm tin trở nên toàn phần, đến thành phó mặc.

Thế nhưng, cho dù thất vọng tới đâu nhà văn không được quyền cho nhân vật của mình đi đến tuyệt vọng. “Thời đại chúng ta cốt yếu là thời đại bi thảm, bởi thế chúng ta từ chối coi nó một cách bi thảm. Cuộc đại biến động đã xảy ra, chúng ta đang ở giữa những đổ nát. Chúng ta bắt đầu xây dựng những nơi cư trú nhỏ bé mới, có lại những hi vọng nhỏ bé mới… Chúng ta phải sống, thây kệ bao nhiêu bầu trời đã sụp” (D.H. Lawrence, Nguyễn Hữu Hiệu dịch).


Cần phải có phương cách trị liệu khác, cho thế giới. Ít ra, cho cá thể trong thế giới hỗn độn nhiễu nhương này. Cái cần đánh thức lại đầu tiên chính là bản năng tính dục cũng là bản năng sinh tồn của con người, sau đó, làm hồi sinh nền văn hóa trong đó cá thể kia sống, và sau cùng là cứu vãn linh hồn hắn. Ba lớp mã đồng hiện trong một Hoang tâm. Tại đây, Nguyễn Đình Tú sắp đặt cho nhân vật Anh đi lạc vào một hiện thực khác: miền đất huyền ảo đầy bí nhiệm. Trong một chuyến du lịch, khi “chuyến tàu dừng lại ở ga Nguyên Thủy vào lúc 2 giờ đêm”, Anh được một người phụ nữ xa lạ và bí ẩn dần dần dẫn dắt anh vào xứ miền Cửa Núi.

“Phải đến đất nguyên thủy, vào Cửa Núi mà tìm lại mình”. - Thầy đã phán như thế.

Cuộc “tìm lại mình” bắt đầu từ đó. Quãng thời gian ngắn ngủi “ngồi chờ để lấy phòng, nhưng rồi ngủ luôn trên ghế”, trong một giấc mơ không tưởng hư hư thực thực, đàn bà người Mụ tên Son Phần nhiếp dẫn người lính cũ đầy “thương tích”, “bệnh hoạn” và tàn tạ tiếp cận xác thân phồn thực của chị, để từng bước phục hồi lại bản năng tính dục trong anh. Và cả của chính mình.

Cô làm rất từ từ, như thầy thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân, như người mẹ hút những ung nhọt trên thân thể con trai, như con chó cái liếm lành vết thương cho con chó đực... Lâu lắm rồi Anh không được hưởng hơi ấm đàn bà. Lâu lắm rồi Anh không nằm với người thứ hai trên giường.

Anh có cảm giác như sắp với tới giấc ngủ mà Anh đã để vuột mất cả chục năm nay rồi. Một trạng thái như là đờ đẫn, như là không trọng lượng, như là thả lỏng toàn thân, như là miên man tiềm thức... sắp đến với Anh rồi.

Đôi gò bồng đảo đang áp vào khuôn mặt Anh lúc này căng mọng, thơm phức, non tơ, ngập tràn ham muốn. “Em cũng thấy lạ, lâu lắm rồi em mới có cảm giác này”, Son Phần thì thầm bên tai Anh.

Toàn thân cô run rẩy.

Ở đó, người nữ dẫn anh băng qua các miền đất hoang sơ, “quanh năm không có ánh mặt trời”, đi vào một nền văn hóa xa lạ nhưng quen thuộc. Tất cả như xa xôi mà gần gụi vô ngần. Giản đơn và tinh khôi đến trong suốt. Nó hoàn toàn xa lạ với thế giới văn minh hiện đại tiện nghi với bất an đồng thời.

“Người Mã rất hiếu khách và thân thiện. Họ chỉ sợ chiến tranh. Họ chỉ muốn yên ổn trong những dãy núi không ánh mặt trời này... Họ có tiếng nói và chữ viết riêng. Họ có cả âm nhạc, hội họa và điêu khắc nữa.. Giáo dục của họ không có gì là cao siêu. Chỉ là dạy dỗ con người ta phải biết làm theo năng lực và hưởng theo thành quả lao động. Y tế là vấn đề nan giải hơn cả đối với họ. Họ sống bằng một nền y học thực nghiệm”.

Văn minh hiện đại đã gây nhiễm ô tất cả. Từ môi trường tự nhiên cho đến sinh hoạt xã hội. Từ thể xác cho đến tinh thần, và cả tâm linh con người cũng bị nhiễm ô. Nhiễm ô bất khả thanh tẩy. Văn minh kĩ thuật tàn phá bản năng sống của con người, qua đó nhân loại đánh mất tinh thần văn hóa theo nghĩa nguyên ủy của từ, cuối cùng đánh mất luôn tâm linh là cái làm cho con người là người nhất. Con người không còn muốn sống nữa. Anh: “Tôi đã nghĩ đến chuyện tự sát”. Tha hóa và vô cảm, là hiện tượng dễ nhận ra nhất trong cuộc sống hôm nay. Vậy phải làm gì? - Không gì khác, trở lại với tinh thần văn hóa bản nguyên. Văn hóa người Mụ, người Mã, hay dân tộc nào bất kì đang ẩn tàng nơi tâm linh Việt. Ở bề sâu, bề xa mà chúng ta đã đánh mất. Khám phá lại và học nhận biết trở lại. Đó là cách trở về với nhân tính sơ nguyên của loài người. Bắt đầu từ lòng Mẹ, không thể khác.

“Người Mụ chọn thủ lĩnh là phụ nữ à?”

“Người Mụ bọn em vẫn theo chế độ mẫu hệ. Ở bộ tộc của em, quyền lực luôn thuộc về phụ nữ…

“Luật tục như thế nào?”

“Nữ tộc trưởng phải là người vẫn còn mầm dục trong người. Còn mầm dục thì còn có quyền lựa chọn đàn ông. Còn mầm dục thì dân tộc Mụ mới tiếp tục sinh sôi nảy nở, mới trở thành biểu tượng của sự bất diệt”.

Chấn thương hậu chiến, là căn bệnh nhân loại văn minh bất khả trị. Sinh thể mang tên con người ấy cần “tìm lại mình”, để hòa nhập vào đời sống. Đâu là phương thuốc khả thể? - Chỉ có con người và nền văn hóa do con người dựng nên, - Nguyễn Đình Tú tin thế. Trong một tuần đi qua miền đất Cửa Núi, nhà văn đã cho nhân vật Anh tìm được phương thuốc đó. Sinh thực khí đã phục hồi, niềm vui được tìm thấy, sự hứng thú sống đã quay trở lại. Lúc này “không nghĩ nữa, việc Anh thấy cần nhất bây giờ là trở về với ngôi nhà của mình”.

Và chỉ khi đó thôi, con người mới an cư trên mặt đất, như ở nhà mình.

Đó là thông điệp Nguyễn Đình Tú kí thác trong Hoang tâm.

Diễn ngôn như thế, vô hình trung tôi đã biến Hoang tâm trở thành tiểu thuyết luận đề rồi còn gì. Chán chết đi được! Không. Ngồn ngộn hiện thực với mênh mông chi tiết cùng cách xử lí tình huống nghệ thuật của cây bút có nghề Nguyễn Đình Tú, Hoang tâm vẫn là tiểu thuyết. Một tác phẩm văn chương rất đáng đọc.

Bạn không muốn thử khám phá sao?

Sài Gòn, 8-1-2013

I.R.S.R

Nguồn tin: TCNV 05/2011

Nhà văn DiLi: Phẩm tính của nhà văn là trí trưởng tượng

Nhà văn DiLi: Phẩm tính của nhà văn là trí trưởng tượng

Trong cuộc trò chuyện với nhà phê bình Bùi Việt Thắng, nhà văn DiLi chia sẻ: “…tôi luôn lo lắng một ngày đẹp trời nào đó sẽ bị độc giả bỏ rơi. Đó chính là cái ngày tôi sẽ dừng bút. Điều này cũng hệt như khi ta yêu một người và rồi đến một ngày người kia không còn yêu ta nữa. Nhiều người có khả năng yêu đơn phương, còn tôi thì chịu. Tôi không thể cứ cố yêu hoặc cứ cố viết khi độc giả thưa vắng dần”. VanVN.Net xin chuyển tới bạn đọc cuộc đối thoại thú vị này.

Nhà văn DiLi

- Nhà văn Bùi Việt Thắng (B.V.T): Mỗi người viết lúc khởi đầu sáng tác đều muốn chọn cho mình một bút danh, càng mới lạ càng hay, càng gây sự chú ý của độc giả. Gần đây xuất hiện những bút danh lạ như Keng (tên thật là Đỗ Thùy Linh), Hà Kin (tên thật là Vũ Thu Hà)... Còn Di Li?

- Nhà văn Di Li (D.L): Đến truyện ngắn thứ ba thì tôi gửi đến báo Người Hà Nội. Nhà thơ Bế Kiến Quốc lúc đó là Tổng Biên tập đã gợi ý không nên đặt dưới tác phẩm của mình một cái tên, dù rất đẹp nhưng đơn giản, dễ bị lẫn vào số đông. Rồi sau đó nhà thơ tài hoa này đã tìm cho tôi một cái bút danh: Di Li (ghép hai chữ cái đầu của chữ đệm và tên). Tôi nghĩ bút danh này sẽ đi suốt đời văn của mình. Tôi hay nghĩ nhiều đến từ “định mệnh”. Đôi khi một bút danh cũng là định mệnh vậy.

- B.V.T: Theo nhà văn có thể có một cách hiểu khác về cái gọi là “vốn sống” đối với người sáng tác?

- D.L: Nhà văn Mario Vargas Llosa cho rằng sự tưởng tượng thuần túy không tồn tại trong các lãnh địa của văn học. Tôi cũng nghĩ như vậy. Trí tưởng tượng của nhà văn, dù có bay bổng đến mức nào cũng phải bắt nguồn và gắn kết với trải nghiệm của nhà văn đó, cho dù là thể loại khoa học viễn tưởng. Muốn viết truyện khoa học viễn tưởng, nhà văn cũng phải hiểu rất nhiều về các ngành khoa học. Vì thế các nước kém phát triển đâu có tồn tại thể loại này. Nhưng có trải nghiệm và văn phong tốt mà không có trí tưởng tượng phong phú thì người đó sẽ không trở thành nhà văn mà thành nhà báo thì tốt hơn.

- B.V.T: Đúng như thế! Sau khi đăng quang tại Cuộc thi truyện ngắn (2005-2006) do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, từ năm 2007 đến 2012, DiLi đã ra mắt bạn đọc 6 tập truyện ngắn, 1 tập bút kí, 1 tập tản văn, 1 tập chân dung văn học và một tiểu thuyết dài ngót 600 trang (chưa kể các tác phẩm văn chương dịch từ tiếng Anh và giáo trình tiếng Anh chuyên ngành Thương mại). Chưa tính đến sự đánh giá của văn giới, chỉ tính đến công việc của một người vừa sáng tác vừa dạy học, đã làm được trong chừng ấy thời gian, cũng đủ để nhiều người tâm phục khẩu phục! Viết được như thế, theo DiLi, là nhờ có nhiều vốn sống hay nhờ vào trí tưởng tượng?

- D.L: Trí tưởng tượng tôi có từ lúc còn nhỏ, nhưng khi còn rất trẻ, tôi đâu có viết được. Thậm chí cuốn Nhật ký mùa hạ đơn giản là những câu chuyện ghi lại hồi ức tuổi học trò, vậy mà mãi đến năm ngoài 20 tuổi tôi vẫn chưa thể viết được. Tôi chỉ có thể hoàn thành nó khi đã thật chín chắn. Vốn sống và trải nghiệm thường lại không phải là thứ mà ta trải qua để rồi chép vào, mà chính là nguồn “đầu vào” dồi dào để định hình nên tư duy và thế giới quan của nhà văn, để rồi khi tưởng tượng thì trí tưởng tượng được phái sinh từ chính cái nền văn hoá và thế giới quan của người đó. Vì thế, dễ hiểu khi đọc văn của một người, ta hình dung ngay được xuất thân, giáo dục, tính dân tộc, tư duy thẩm mỹ… của nhà văn đó.

- B.V.T: Người ta vẫn nói đến vai trò quan trọng của những “ấn tượng” đời sống đối với người sáng tác. Trong quá trình viết, DiLi đã sống với những ấn tượng như thế nào?

- D.L: Ấn tượng đời sống, đối với một người bình thường, tôi nghĩ có khi quan trọng, có khi không. Nhưng với nhà văn thì lúc nào cũng quan trọng. Chẳng hạn, cách đây hơn mười năm, trong một chuyến đi rừng, tôi phải nghỉ lại ở một quán trọ ở thị trấn Nho Quan (Ninh Bình), lần đầu tiên tôi nghe tiếng gió hú trong đêm. Lần đó tôi đã trải qua nhiều cảm giác và cho đến giờ, tiếng gió hú đầu tiên ấy và cũng là duy nhất ấy đã thuộc về kí ức, một kí ức luôn xao động những âm thanh thuộc về miền bóng tối.

- B.V.T: Viết truyện ngắn, như người ta vẫn nói, rất cần những ấn tượng như thế. Vì mỗi truyện ngắn là một trường hợp, một cảnh huống tâm trạng, một biến cố có ý nghĩa bước ngoặt đời sống. Nhưng để viết được một cuốn tiểu thuyết dài như “Trại Hoa Đỏ” thì Di Li đã huy động ấn tượng như thế nào?

- D.L: Tôi vẫn nghe các nhà văn, nhà lí luận - phê bình chỉ ra rằng muốn viết tiểu thuyết cần phải trường vốn, hiểu là vốn sống theo quan niệm truyền thống. Đúng là khi viết một truyện ngắn, cần phải tựa vào một ấn tượng nào đó. Nhưng khi viết một tiểu thuyết, nhất là tiểu thuyết dài như Trại Hoa Đỏ (gần 600 trang), thì ấn tượng vẫn là chỗ dựa quan trọng, rất cần thiết, nhưng không đủ. Điều cốt tử nhất là cần phải huy động tối đa trí tưởng tượng của nhà văn. Nhưng, dù là tưởng tượng bay bổng đến đâu cũng phải trên một nền tảng hiện thực vững chắc. Cái nền hiện thực ấy là tổng hợp những gì nhà văn đã sống, đã trải nghiệm, đã chứng kiến, đã nghe kể, đã đọc…, rồi liên tưởng. Chẳng có tưởng tượng nào mà không bắt đầu từ chân trời hiện thực. Mỗi khi viết xong một truyện ngắn, tôi cảm thấy sảng khoái, nhẹ nhõm. Nhưng khi viết xong tiểu thuyết Trại Hoa Đỏ, bản thân cảm thấy như là kiệt sức. Kiệt sức vì đã vắt óc ra để suy nghĩ, để bài binh bố trận vì viết tiểu thuyết là tổ chức một trận đánh lớn.

- B.V.T: Ở bìa 4 tiểu thuyết “Trại Hoa Đỏ” có dẫn một nhận xét: “Đọc Trại Hoa Đỏ, dù có trí tưởng tượng phong phú, bạn cũng sẽ khó mà đoán được điều gì về kết cục rất bất ngờ của câu chuyện” (hnv. vn). Như vậy là để viết được một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn, tác giả phải sở hữu một trí tưởng tượng lớn gấp nhiều lần độc giả?

- D.L: Xin thú thật là, tôi cũng chưa thể nói dứt khoát rằng trí tưởng tượng của nhà văn cần phải lớn hơn độc giả nhiều lần, hay biết đâu ngược lại cũng nên! Thật ra thì nhà văn, trước hết cũng là con người như đồng loại của mình mà thôi. Trí tưởng tượng của một người là có giới hạn mà cuộc đời thì vô hạn. Đó là một mâu thuẫn muôn thuở, nhà văn thời nào cũng phải đối diện.

- B.V.T: Vậy theo DiLi, bằng cách nào nhà văn nuôi dưỡng được trí tưởng tượng của mình để sáng tác?

- D.L: Không thể nuôi dưỡng trí tưởng tượng bằng nước lã được, cũng không thể bằng cách thủ công là đi thực tế. Đi thực tế là để nạp vốn sống mới và gây cảm xúc, nuôi dưỡng cảm xúc chứ không chỉ nhờ đi thực tế mà thành thông thái. Bởi vì tôi biết có người Việt Nam mình ở nước ngoài đến mười năm trời mà vẫn không nói được cho tử tế tiếng nước sở tại. Một nguồn nuôi dưỡng trí tưởng tượng của nhà văn - đó là sách, là văn hoá đọc. Có nhiều cách học, học trong đời sống, học trong sách vở, học bằng trí tưởng tượng - đó là khả năng suy đoán, khả năng đặt giả thiết, khả năng phân tích và tổng hợp. Và nữa, là tình yêu cuộc sống, con người đến cái mức đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ và đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim như một nhà văn lớn đã nói.

- B.V.T: Câu hỏi cuối cùng đặt ra cho Dili - Nếu như đến một ngày nào đó, khi cảm thấy năng lực tưởng tượng của bản thân bị mai một, thậm chí không còn nữa, lúc đó liệu tác giả của những cuốn sách có nhiều người đọc trong quá khứ, sẽ hành xử như thế nào?

- D.L: Tôi có một lòng kiêu hãnh và tự trọng quá đáng, đến độ đôi lúc đâm biến thành… mặc cảm. Có lẽ không nhiều người biết sau mỗi lần ra một cuốn sách, tôi thường gọi điện đến đơn vị phát hành và hỏi xem sách có bị ế hay không. Phần vì các nhà sách thường rất kỳ vọng vào số lượng sách bán ra của tôi, nếu sách ế thì tôi cũng ngượng với họ. Phần vì tôi luôn lo lắng một ngày đẹp trời nào đó sẽ bị độc giả bỏ rơi. Đó chính là cái ngày tôi sẽ dừng bút. Điều này cũng hệt như khi ta yêu một người và rồi đến một ngày người kia không còn yêu ta nữa. Nhiều người có khả năng yêu đơn phương, còn tôi thì chịu. Tôi không thể cứ cố yêu hoặc cứ cố viết khi độc giả thưa vắng dần. Nhiều nhà văn vẫn duy trì viết bằng cách níu kéo vào một niềm tin mãnh liệt: Có thể bây giờ độc giả không hiểu nổi ta, có những danh nhân đến thế kỷ sau mới được nhận diện kia mà. Tôi không nghĩ được như thế. Tôi chỉ nghĩ rằng ở thời đại internet mà một phần triệu giây thông tin đã dội đến toàn cầu, nếu không ai muốn đọc sách của tôi nữa thì là do tôi viết dở thật chứ không phải do độc giả không đủ thông minh để nhận diện ra mình.

- B.V.T: Cảm ơn nhà văn DiLi đã tham gia cuộc trò chuyện lí thú và bổ ích này.

-----------------------------------------------

DiLi tên thật là Nguyễn Diệu Linh. Sinh năm 1978 tại Hà Nội. Tốt nghiệp trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội), cử nhân tiếng Đức - Anh. Thạc sĩ Quản lí Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Từ năm 2.000 đến nay là giảng viên tiếng Anh, trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Hà Nội. Tác phẩm chính đã xuất bản: Trại Hoa Đỏ (tiểu thuyết trinh thám - kinh dị), Đảo thiên đường (bút kí ), Cocktail thị thành (tản văn), sáu tập truyện ngắn - Điệu Valse địa ngục, 7 ngày trên sa mạc, Đôi khi tình yêu vẫn hay đi lạc đường, Tầng thứ nhất, Tháp Babel trên đỉnh thác ánh trăng, Chiếc gương đồng. Năm 2012 DiLi vừa ra mắt độc giả tập chân dung văn học Chuyện làng văn. Tác phẩm dịch: Người yêu dấu (tiểu thuyết Mỹ), Người làm chứng (tiểu thuyết Mỹ), Giết người đưa thư (tiểu thuyết Mỹ), Bóng đêm bao trùm (tập truyện ngắn thế giới). Giải thưởng văn học: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn (2005-2006) Tạp chí Văn nghệ quân đội, Giải thưởng Văn học Bộ Công an (2005- 2010) về đề tài “Vì an ninh tổ quốc và bình yên cuộc sống” với tiểu thuyết Trại Hoa Đỏ.


Thực Hay Mơ – cuốn sách thứ 3 của Lưu Quang Minh

Thực Hay Mơ – cuốn sách thứ 3 của Lưu Quang Minh

“Đặc điểm văn chương của Lưu Quang Minh là thường sử dụng thủ pháp huyền ảo, nhưng lại theo phong cách viết hiện đại, không gian nghệ thuật hiện đại. Vì thế, người ta thấy chuyện cổ tích hiện lên ở ngay trong lòng thành phố, giữa những quán ăn nhanh với món gà rán dành cho tuổi teen, những câu lạc bộ của người cùng chung sở thích và cả ngày lễ Thánh Valentine. Trong truyện ngắn “Điều bí mật”, không khí hiện thực kéo dài từ đầu đến gần cuối truyện để rồi người đọc ngỡ ngàng vì những hư thực đã làm tan biến nỗi âu lo đè nặng ngay từ tên truyện. Ngược lại, ở “Những tâm hồn đồng điệu”, cái ảo lại kéo dài từ đầu tới gần cuối truyện và khi kết thúc, cái thực khiến người đọc bỗng dưng nhận ra có chính mình ở đó. Cách lý giải về tình yêu của Lưu Quang Minh trong “Tận thế”, “Điều bí mật”, “Mắt và tai”… cũng rất khác những tác giả trẻ khác. Trừu tượng, siêu thực và huyền ảo, trong sự trẻ trung của ngòi bút. Tập truyện ngắn này là như thế.”

Nhà văn Di Li

Bìa cuốn Thực hay mơ của tác giả Lưu Quang Minh

“Những câu chuyện của Lưu Quang Minh rất mộc mạc giản dị, như cách sử dụng những ngôn từ mộc mạc đơn thuần mà hàm chứa những tư tưởng khá sâu sắc. Không dùng đến sự đột phá trong hành văn, nhưng Lưu Quang Minh đã làm những câu chuyện tưởng cũ mà lại thật mới mẻ, những câu chuyện mới mẻ lại tưởng chừng như đã quen thuộc từ lâu mà mình vô tình quên mất. Những câu chuyện đời thường, pha lẫn giữa “thực” và “ảo” là nét chung trong từng trang chữ, đôi khi “ảo” là để cho người ta nhận ra “thực” và làm cho “thực” thêm có giá trị giữa xô bồ của cuộc sống. Văn của Lưu Quang Minh có hơi già nhưng những câu chuyện lại trẻ, có thể khiến người ta trẻ lại hoặc thấy mình trưởng thành nhiều thêm. Lưu Quang Minh là một người viết khá lạ và có nét riêng của mình để không thể bị nhầm lẫn với bất kì ai và khó có thể nào lãng quên.”

Hàn Băng Vũ

“Ở nơi nào có cây dẻ gai” không chỉ là câu chuyện tình yêu

“Ở nơi nào có cây dẻ gai” không chỉ là câu chuyện tình yêu

Cuốn sách kể về một góc nhỏ Hà Nội, vào một ngày buồn, tiếng hát của Di khiến Vũ nổi nóng ném chiếc giày hàng hiệu đi mượn sang ban công nhà cô, tiếng choang giữa đêm bắt đầu cho mối quan hệ của hai người xa lạ…

Ở nơi nào có cây dẻ gai của tác giả Blue kể về một góc nhỏ trong lòng Hà Nội, nơi diễn ra biết bao nhiêu câu chuyện buồn vui của những người trẻ tuổi.

Di, cô gái không thể thoát khỏi ngày hôm qua. Lời hứa hẹn về những chuyến đi dài, cùng nhau du ngoạn cứ quấn lấy cô, dù người còn lại đã chẳng thể nào thực hiện. Di bị dằn vặt giữa việc dứt bỏ tất cả để lên đường thực hiện ước mơ và việc ở lại với hi vọng vẫn thầm nhen nhóm trong lòng một ngày nào đó người yêu sẽ trở về. Phương, vì sự phản bội của bạn gái mà đã trở nên mất cảm giác với phụ nữ, trở thành một anh chàng “nửa gay”. Anh tìm mọi cách để từ chối tình yêu của Kimora, cô ca sĩ hát ở quán.

Bìa cuốn "Ở nơi nào có cây dẻ gai''

Thu thì vì tuổi thơ khổ cực mà không tin vào tình yêu vô điều kiện, cô luôn đi tìm một sự đảm bảo cho tình yêu của mình. Vinh luôn che giấu một bí mật của riêng cậu. Còn Vũ, một anh chàng nhìn vẻ ngoài có phần hiền lành, ngây thơ nhưng thực chất rất nhạy cảm, khéo léo, chừng mực và chín chắn. Vũ đã từng có nhiều năm theo học đầu bếp ở Pháp nhưng anh từ bỏ con đường sự nghiệp của mình, một thân một mình tới nơi xa lạ để đi tìm lại người bạn gái bị thất lạc nhiều năm trước, dù khi ra đi cô ấy mang thai đứa trẻ của người đàn ông khác…

Ngẫu nhiên, Vũ luôn bắt gặp những con người này trong lúc họ yếu đuối nhất, nhưng cũng chân thật nhất. Buổi trò chuyện bất đắc dĩ dưới gốc cây dẻ gai khiến Vũ hiểu hơn về Di, cô gái đã lấy chiếc giày anh ném sang để trồng hoa.

Những lần tình cờ sang Juke Box gặp Di khiến Vũ bắt gặp sự bế tắc của Phương, sự mệt mỏi của Kimura, vết thương của Thu hay nỗi buồn của Vinh. Họ đã cùng nhau buồn, uống rượu, ăn thịt nướng và ca hát suốt đêm, tự mỉa mai sự thất bại trong tình yêu và cuộc sống của mình.

Cuộc sống vẫn tiếp diễn nhưng không phải ai cũng chấp nhận quay lại dòng chảy ấy. Riêng với Di và Vũ, họ quyết định bước đi. Di xách vali lên đường đến những miền đất trong những tấm ảnh mà cô đã dán kín trong cuốn sổ tay của mình, để lại cho Vũ một lời hứa: “No matterwhat’ll happen, I’ll fight for you”. Vũ không đi tìm Di, anh ở lại và tiếp tục công việc của mình vì anh hiểu đó là điều mà Di mong anh sẽ làm.

Tác giả Blue (trái) và MC Thanh Vân tại buổi ra mắt sách mới đây tại Hà Nội

Sự ra đi của Di và bí mật của Vinh đã giúp những người bạn của cả hai tìm thấy câu trả lời cho cuộc sống của mình. Trên ban công nhà mình, Vũ treo nốt chiếc giày còn lại lên và trồng một cây xương rồng vào đó. Vũ nhớ tới lời Di hẹn hai năm sau sẽ quay lại ngôi nhà trên núi có cây dẻ gai và anh tự hứa với mình, ngày đó anh sẽ không lỡ hẹn…

“Đối với tôi cuốn sách này không chỉ là một câu chuyện về tình yêu. Tôi nghĩ rằng trong những năm tháng đầu tiên bước vào cuộc sống tự lập, ai cũng có rất nhiều những băn khoăn, trăn trở, những sai lầm và bế tắc. Có những lúc, bỗng nhiên ta nhận ra rằng những thứ đã học không phù hợp với mình, công việc mình đang làm không phải là công việc mà mình mong muốn và người mình đang yêu không thể là người đi với mình suốt cuộc đời…”, tác giả Blue chia sẻ tại lễ ra mắt cuốn sách đầu tay của mình, Ở nơi nào có cây dẻ gai gần đây.

Blue tên thật là Vũ Phương Thảo. Cô tốt nghiệp Khoa Văn, ĐH KHXH & Nhân văn năm 2008. Thảo là biên kịch và quản lý nội dung series phim Những phóng viên vui nhộn, Cửa sổ thủy tinh. Ngoài ra, Vũ Phương Thảo còn tham gia viết kịch bản một số phim truyền hình như Cầu vồng sau mưa, Hương tình yêu, Làng trống...

Nguồn: Dân trí

Vũ Thị Thanh Huyền: Mong có thể làm thay đổi tâm hồn ai đó

Vũ Thị Thanh Huyền: Mong có thể làm thay đổi tâm hồn ai đó

Vũ Thị Thanh Huyền, 22 tuổi, hiện là sinh viên lớp Viết văn k12 khoa Viết văn - Báo chí, ĐH Văn hóa Hà Nội. Đoạt giải nhì cuộc thi Truyện ngắn Tuần báo Văn nghệ 2011-2013, Vũ Thị Thanh Huyền là một phát hiện mới của cuộc thi lần này. VNT đã có cuộc trò chuyện cùng cô.

Tác giả trẻ Vũ Thị Thanh Huyền nhận giải (đứng thứ 2 từ trái sang)

Sau khi danh sách giải thưởng cuộc thi Truyện ngắn của Tuần báo Văn nghệ vừa công bố, cái tên Vũ Thị Thanh Huyền khiến nhiều người tò mò vì bạn là một tên tuổi hoàn toàn mới, và những thông tin về bạn thì ngay cả các thành viên Hội đồng sơ khảo cũng như chung khảo của cuộc thi đều không biết. Bạn có thể giới thiệu đôi nét về mình?

Vũ Thị Thanh Huyền: Quả thực đối với bạn đọc và các tác giả thì quả thật tên tôi là một cái tên lạ hoắc. Tôi xin được giới thiệu sơ qua về bản thân: Tên tôi là Vũ Thị Thanh Huyền, tôi sinh ra tại vùng núi Cao Bằng (cũng chính là địa danh tôi sử dụng trong truyện ngắn của mình). Hiện tại tôi 22 tuổi, đang theo học khoa Viết văn - Báo chí của trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

Tôi đến với cuộc thi này một cách khá tình cờ. Thực sự từ trước đến giờ tôi viết truyện thường để dành đấy, chỉ cho bạn bè hoặc người quen đọc. Tôi thường nghĩ truyện ngắn của mình tuy không tệ nhưng cũng không quá xuất sắc để có thể công bố rộng rãi. Tôi học khoa Viết văn của trường Đại học Văn hóa Hà Nội nên có nhiều cơ hội biết đến các cuộc thi viết do bạn bè, các anh chị, thầy cô giáo trong khoa phổ biến. Tuy vậy, tôi cũng đã bỏ qua không ít cuộc thi bởi vì chưa có đủ tự tin. Nhưng sau khi viết sau tác phẩm “Lá bùa Bỉ Ngạn hoa”, tôi có gửi cho thầy trưởng khoa của tôi là nhà văn - nhà phê bình Văn Giá đọc. Thầy nói rằng truyện của tôi khá và rất ám ảnh. Được sự động viên của thầy, tôi đã mạnh dạn gửi dự thi cuộc thi truyện ngắn này. Trong giải thưởng của tôi ngày hôm nay, công lao của thầy Văn Giá là không hề nhỏ. Tôi còn nhớ với tính cách rụt rè ngại tiếp xúc của mình, chỉ một lời động viên của thầy đã xóa tan trong tôi những lo ngại: “Huyền này, đã đến lúc em phải xuất hiện rồi đấy!”

Lần đầu tham dự một cuộc thi văn chương “tầm cỡ”, cảm xúc của bạn như thế nào?

Thực sự là cảm xúc trong suốt quá trình cuộc thi diễn ra là… hoàn toàn thoải mái! Bởi lẽ tôi tham gia cuộc thi này một cách tình cờ và nói thực không đặt quá nhiều áp lực vào giải thưởng. Bởi lẽ tôi nghĩ một cuộc thi tầm cỡ đến vậy, biết bao nhiêu tác giả có tiếng tăm tham gia, cơ hội đoạt giải nói thực là rất mong manh. Trong lớp tôi cũng có hai bạn cùng tham gia đó là chị Phạm Thanh Thúy và bạn Mai Dương Dương. Các tác phẩm của 2 người bạn này cùng được lọt vào top 10 truyện ngắn hay trên báo Văn nghệ vào số Tết năm ngoái. Chính sự thành công của họ đã khuyến khích tôi gửi truyện. Với tư tưởng: “Biết đâu…”

Ai là người đầu tiên thông báo bạn đã được giải cao của cuộc thi?

Đó chính là nhà văn Sương Nguyệt Minh, cũng chính là người thầy giảng dạy bộ môn Sáng tác văn học của tôi.

Bạn đã đón nhận tin này như thế nào?

Tôi hoàn toàn Bất ngờ, Bất ngờ và Bất ngờ…! Trong số báo Tết, truyện ngắn của tôi được lọt Top Ten tôi đã rất mừng. Và tự nhủ đó là thành công Đủ với mình rồi. Chính vì sự “vô tư” đó nên đến khi biết tin mình đoạt giải nhì cuộc thì tôi đã vô cùng bất ngờ. Và cho đến lúc đó, tôi mới bắt đầu tìm hiểu giá trị của giải thưởng mình sắp nhận được. Một người bạn cùng lớp đã cho tôi biết thông tin và tôi… giật mình. Bởi giải thưởng… to quá!!!

Về truyện ngắn Lá bùa Bỉ ngạn hoa vừa đoạt giải, bạn có thể chia sẻ đôi điều về hành trình ra đời của tác phẩm?

Truyện ngắn “Lá bùa Bỉ Ngạn hoa” được tôi hoàn thiện trong khoảng thời gian là tháng 11/2011. Tôi nhớ đích xác thời gian như thế bởi truyện ngắn này bị tác động bởi một sự kiện cũng khá dậy sóng trong xã hội. Đó là vụ án tài xế lái chiếc xe cán qua bé gái 2 tuổi rồi nhẫn tâm bỏ đi, 18 người ngó lơ. Tôi còn nhớ y nguyên cảm xúc phẫn nộ và kinh hoàng của mình khi đọc lướt qua tin ngắn đó trên báo mạng. Nhưng tôi vẫn hồ nghi đó là chiêu thức giật tít của mấy ông nhà mạng, con người có thể vô lương tâm đến mức đó ư? Thế nhưng sau khi xem đoạn camera được quay lại tôi đã thấy có những kẻ đã dừng lại nhìn ngó tò mò nhưng rồi lại vội vàng bỏ mặc cô bé quằn quại trong vũng máu. Chính thức sau một đêm trăn trở và suy tư, tôi đã viết nên truyện ngắn: “Lá bùa Bỉ Ngạn hoa”. Đây không đơn thuần là một truyện ngắn mà còn là một thông điệp của tôi muốn gửi đến mọi người. Đúng! Các bạn có thể thờ ơ với nỗi đau của một kẻ xa lạ. Nhưng sẽ ra sao khi ở một nơi nào đó, người thân của bạn, bố mẹ bạn cũng bị đối xử tàn nhẫn như vậy? Và sẽ ra sao khi chính mình là kẻ tội nhân dù là trực tiếp hay gián tiếp gây nên cái chết ấy?

Tôi không dám chắc rằng liệu truyện ngắn của mình có đủ sức đạt hiệu ứng như tôi mong đợi không? Nhưng tôi vẫn hy vọng.

Đúng là chi tiết lái xe quyết cán chết người bằng được độc giả có thể đọc tin tức báo chí và xem video clip trên mạng, tuy nhiên khi chi tiết ấy được đặt vào bối cảnh của truyện, nó tạo được sức nặng, và sự ám ảnh. Theo bạn hiện thực cuộc sống và trí tưởng tượng của nhà văn, điều nào quan trong hơn?

Theo tôi, cuộc sống và trí tưởng tượng đối một nhà văn khi viết truyện thì đều quan trọng như nhau. Bởi lẽ văn chương không nên tách rời cuộc sống hiện thực. Nhà văn không nên mải miết đi tìm những thứ “cải cách”, “cách tân” siêu thực, trừu tượng để rồi bỏ quên những ngang trái vẫn tồn tại ngoài đời thực. Tôi nghĩ một nhà văn có tài là khi họ có khả năng biến hóa một câu chuyện tưởng chừng như thô cứng trở thành một truyện ngắn mềm mại, hấp dẫn, lay động cảm thức của người đọc.

Cái tên “Bỉ Ngạn” mà bạn đặt cho nhân vật của mình khá lạ. Bạn đã sáng tạo ra một cái tên như vậy hay được gợi ý từ một tích truyện nào đó mà bạn đã từng đọc?

Cái tên “Bỉ Ngạn” đến với tôi cũng âu là do cái Duyên. Tôi thường đọc sách vở viết về thế giới Phật Giáo. Khi viết về tính chất sinh tử và luân hồi của cuộc đời, có cuốn sách đã viết về hình ảnh hoa Bỉ Ngạn. Điểm đặc biệt là cây có lá thì không ra hoa, khi có hoa thì không thấy lá đâu cả. Có thể do loài hoa này đã chỉ ra được tính chất sinh tử luân hồi (khó có thể gặp nhau) giữa lá và hoa, mà người ta gọi là “bỉ ngạn” (hoa - bờ kia), gợi ra khoảng cách với “thử ngạn” (lá - bờ này). Cuộc đời con người thoát sao khỏi sinh - tử, xa - gần. Chính vì vậy loại hoa đặc biệt này đã gợi cảm hứng cho tôi viết nên một câu chuyện về 2 người yêu nhau nhưng cách biệt sống - chết, yêu - hận. Cái tên Bỉ Ngạn tôi đặt cho nhân vật theo cảm nhận của riêng tôi cũng khá bí ẩn và gây tò mò.

Bạn bắt đầu biết mình đam mê văn chương từ khi nào?

Tôi thích viết văn từ hồi còn bé xíu, khi mới 9 tuổi tôi đã hay viết những câu chuyện nho nhỏ kiểu tản văn không đầu không cuối. Tôi có một tật xấu là rất hay xé vở để viết trộm rồi giấu đi không cho ai đọc cả. Còn quyết tâm và đam mê theo đuổi văn chương thì đó là năm lớp 10. Tôi đã tìm hiểu và rồi nuôi ý định thi vào khoa Viết văn của trường ĐH Văn hóa. Vì theo tôi biết, đó là khoa duy nhất “đào tạo” nên nhiều nhà văn Việt Nam. Nhiều thần tượng văn học của tôi cũng đã từng theo học tại khoa này như: Hữu Thỉnh, Chu Lai, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương…

Việc chọn thi vào Khoa viết văn trường ĐH Văn hóa của bạn có được gia đình ủng hộ hay không?

Có. Gia đình tôi vô cùng ủng hộ. Thực ra, thoạt đầu thì bố mẹ tôi cũng không thích lắm bởi nhà tôi toàn bộ cô, bác,anh chị đều học thiên về các bộ môn Khoa học. Có mình tôi là lạc loài thích văn chương, thơ phú. Nhưng bố mẹ tôi chưa hề cấm cản tôi bất cứ điều gì. Bởi vì từ bé, tôi đã là một cô bé rất chi là bướng bỉnh, lì lợm. Có cấm cũng chẳng cấm được! Nên tốt nhất là cứ để tôi theo đuổi sở thích của mình.

Việc theo học văn chương một cách chính quy, bài bản, bạn tự thấy thay đổi lớn nhất trong những trang viết của mình là gì?

Trước đây tôi viết theo bản năng, thích là viết. Viết rồi để đấy chẳng cần cho ai đọc. Nhiều khi vứt xó như vậy rồi quên bẵng đi, thất lạc rất nhiều. Sau này tìm lại không tìm thấy những bản thảo đó nữa. Sau khi vào theo học một cách chính quy, tôi viết theo cách kỹ thuật hơn, chau truốt hơn . Cùng với việc sau khi vào trường, tôi được các giảng viên hướng dẫn, giới thiệu cho nhiều tác giả, nhiều trường phái viết đương đại, cách viết, cách đọc sách sao cho bài bản. Trước đây, tôi đọc sách kiểu lộn xộn lắm, vớ được quyển nào là đọc quyển đấy. Tây, Tàu đọc cả. Bây giờ thì tôi kén chọn hơn. Những quyển sách kém chất lượng tôi không đọc nữa.

Nhận giải cao của cuộc thi, bên cạnh niềm hân hoan, bạn đã nghĩ đến trách nhiệm của một người viết sẽ càng khó khăn hơn do áp lực của giải thưởng?

Thực sự giải thưởng đến với tôi giống như việc “thánh nhân đãi kẻ khù khờ" vậy. Nên sẽ không có chuyện tôi “ngủ quên trên chiến thắng”. Tôi nghĩ sẽ có áp lực đặt lên vai tôi, chắc là không quá nặng nề nhưng cũng đáng phải lưu ý. Tôi sẽ phải cân nhắc hơn, căn ke hơn về chữ nghĩa cũng như chất lượng những tác phẩm sau này của mình. Tôi không muốn bị nhận xét “người đoạt giải nhì cuộc thi báo Văn nghệ mà lại viết lách kiểu thế à!” hay “con bé ấy chỉ viết được có mỗi một truyện, các truyện khác vứt đi cả!”. Cách duy nhất để người khác khâm phục mình là ngày càng phải hoàn thiện hơn.

Bạn tâm niệm điều gì khi đến với văn chương?

Tôi còn nhớ một câu rất hay như thế này: “Người nào có thể làm mỗi giây phút đều tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình”. Tôi đến với văn chương rất đơn giản. Tôi không khát khao để lại công trình thế kỷ hay những phát kiến mới mẻ gì khiến người khác nhớ đến mình. Tôi chỉ mong một điều rất giản dị rằng những gì tôi viết ra có thể làm thay đổi tâm hồn một ai đó, lay động cảm xúc một ai đó dẫu chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi. Đối với một nhà văn, điều đó là điều hạnh phúc nhất.

Cảm ơn bạn về cuộc trò chuyện.

Nguồn: Văn nghệ trẻ

Trang 1 trong tổng số 68 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay774
mod_vvisit_counterHôm qua1782
mod_vvisit_counterTất cả274898

20 63
,
Hôm nay:26 - 5 - 2013
Hiện có 170 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: