Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Nhà văn trẻ Lê Hữu Nam: 'Trái tim tôi biết nhói đau khi một thân cây ngã xuống'

Nhà văn trẻ Lê Hữu Nam: 'Trái tim tôi biết nhói đau khi một thân cây ngã xuống'

Bị mắc bệnh tim bẩm sinh khiến Lê Hữu Nam không phát triển thể chất và mạnh khỏe như người bình thường, nhưng với ngòi bút trong tay anh lại là một người viết rất khỏe so với lứa tuổi.

NXB Hội Nhà văn và Saigon Books vừa ấn hành tập truyện viết về môi trường Cuộc phiêu lưu kỳ thú của ếch xanh. Thực chất đây là tập truyện “nối dài” với một số chỉnh sửa so với bản in năm 2013 mang tên Hành trình trở về. Tuy nhiên, với Lê Hữu Nam, mỗi cuốn sách viết về môi trường của anh được in là cả một niềm đam mê theo đuổi.

Lê Hữu Nam có cuộc trò chuyện với Thể thao & Văn hóa (TTXVN) trước khi anh ra mắt Cuộc phiêu lưu kỳ thú của ếch xanh vào sáng 26/11 tại Đường sách TP.HCM.

* Đa phần các tác giả trẻ bây giờ thường viết chuyện tình yêu đôi lứa hay chuyện đời sống đô thị, tại sao Lê Hữu Nam lại theo đuổi đề tài môi trường?

- Tôi cũng phải thừa nhận các tác giả đồng trang lứa với mình vẫn bám vào hai mảng đề tài chính, tình yêu và đời sống đô thị, bởi vì đó là những đề tài luôn hấp dẫn người đọc. Tình yêu và đời sống luôn là những thứ dễ chiều lòng người đọc bằng những cái vuốt ve cảm xúc.

Đề tài này đang là trào lưu cho những người viết trẻ thể hiện mình, mà trào lưu thì luôn hấp dẫn số đông, và tôi cũng là người thi thoảng có tham gia số đông ấy, nhưng không quá vội vàng, cũng không quá bị lôi cuốn.


Nhà văn trẻ Lê Hữu Nam

Tôi chọn lựa đề tài cho mình, với nhiều thử nghiệm khác nhau. Tôi viết về tình cha con, viết về quê hương, viết cả về tình yêu đôi lứa, và dĩ nhiên không thể không nhắc đến đề tài môi trường. Nói đến đề tài này là để xác nhận rằng, tôi đang sống ở thời đại nào. Mỗi một nhà văn, họ đều ý thức được thời đại họ đang sống thứ gì đang gây ra sự nhiễu nhương cho nhân loại, cho quê hương mình. Ngòi viết của họ là thứ ghi lại cũng là phương cách kêu gọi sự hợp lực để chống lại sự nhiễu nhương đó.

Tôi ý thức được vấn đề môi trường ngay từ nhỏ, trái tim tôi biết nhói đau khi một thân cây ngã xuống, một con thú bị tước đoạt sự sống.

* Năm 2015, tác phẩm Mật ngữ rừng xanh của Nam nhận giải của Hội Nhà văn TP.HCM dành cho tác giả dưới 30 tuổi. Trước đó, cuốn sách này dính vào vụ lùm xùm khi bị đơn vị làm sách in quá số lượng. Nam có nghĩ giải thưởng như một sự công bằng trả lại cho Mật ngữ rừng xanh sau những thiệt thòi?

- Vụ việc lùm xùm liên quan đến Mật ngữ rừng xanh đã khép lại ngay sau khi nhà phát hành nhận lỗi và bồi thường vào khoảng tháng 9/2015, từ đó tôi cũng không nghĩ đến nó nữa. Rồi cuối năm đó khi tôi biết mình được giải thưởng Nhà văn trẻ TP.HCM, tôi cũng chỉ nghĩ đơn giản rằng, nếu tác phẩm của mình xứng đáng thì đó là điều vui mừng, chứ cũng không nghĩ nhiều hơn. Đối với tôi, giá trị người viết không nằm ở giải thưởng hay các vụ ầm ĩ ngoài ý muốn mà làm thế nào phải tiếp tục cho ra tác phẩm xứng đáng hơn với sự kỳ vọng của độc giả.


Bìa cuốn "Cuộc phiêu lưu kỳ thú của ếch xanh"

* Tập truyện Cuộc phiêu lưu kỳ thú của ếch xanh do Saigon Books ấn hành lần này có khác gì Hành trình trở về in năm 2013?

- Đầu tiên phải kể đến sự đổi mới về hình thức, toàn bộ hình ảnh minh họa và bìa sách đều do họa sĩ Vân Quỳnh đảm nhận (người từng thổi hồn cho cuốn Mật ngữ rừng xanh). Tác giả cũng chỉnh sửa một ít về nội dung, ban biên tập lần này làm việc rất chuyên nghiệp nên không có nhiều lỗi như ở bản in năm 2013.

Điều đặc biệt trong bản in lần này có thêm phần phụ lục giải thích các kiến thức khoa học cho độc giả nhí hiểu thêm về thế giới tự nhiên và các phương thức bảo vệ môi trường nhằm mang đến cho các em nhỏ một cuốn sách bổ ích.

* Theo đuổi một đề tài như môi trường vốn đã khó, nếu viết mãi sẽ cạn, Nam có định hướng mình viết gì tiếp theo nếu “cạn nguồn” môi trường?

- Như đã chia sẻ, tôi luôn muốn trải nghiệm qua nhiều đề tài khác nhau. Đề tài môi trường là một trong những đề tài tôi sẽ viết thường xuyên hơn, là đề tài chủ lực trong đời sống sáng tác của tôi. Bên cạnh đó tôi còn viết các đề tài khác, tôi luôn thử nghiệm các đề tài mà mình có thể tiếp cận.

Cũng trong thời gian này, tôi vừa mới xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay có độ dày gần 500 trang mang đề tài tâm lý xã hội. Một cuốn tiểu thuyết có hơi hướm tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, nhưng nó mang những bi kịch cuộc đời hồ như ai trong chúng ta cũng có thể mắc phải.

Qua tác phẩm đó tôi muốn phác họa nhân cách những con người trẻ, từ bản chất đến hành động của họ. Đối với tôi, văn chương là một tinh cầu bao la để dấn thân, cho đến khi nào bạn không thể bước đi được nữa thì thôi.

Chủ nhân Giải Nhà văn trẻ TP.HCM 2015

Nhà văn trẻ Lê Hữu Nam, sinh năm 1986 tại TP Đà Lạt, Lâm Đồng; hiện sống và làm việc tại Sài Gòn. Tác phẩm đã xuất bản: Hành trình trở về (2013), Con đến như một phép màu (2014), Mật ngữ rừng xanh (2015), Xứ mộng hồn hoa (2016), Những gam màu hồi sinh (2016), Sài Gòn café ngọt đắng (2016, viết cùng tác giả Lưu Quang Minh).

Đặc biệt, vào năm 2015, Lê Hữu Nam đã đoạt Giải thưởng Nhà văn trẻ của Hội Nhà văn TP.HCM cho tác phẩm Mật ngữ rừng xanh. Bên cạnh viết báo và sáng tác, Lê Hữu Nam còn nhiệt tình tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.

Hoàng Nhân (thực hiện)
Thể thao & Văn hóa

Văn học của những người viết trẻ: Giải trí và nghệ thuật?

Văn học của những người viết trẻ: Giải trí và nghệ thuật?

Văn học trẻ và nghịch lý giữa chất và lượng

Bao giờ các tác phẩm đỉnh cao gọi tên văn học trẻ? Và cũng chưa bao giờ những người viết trẻ không băn khoăn khi đứng trước sự lựa chọn: Văn học giải trí và những tác phẩm văn học để đời. Một buổi tọa đàm mới đây “Văn học trẻ TP.HCM - Một góc nhìn” cho chúng ta nhiều suy ngẫm.

Không thể phủ nhận vài năm gần đây, thị trường văn học của những cây viết trẻ (gọi tắt văn học trẻ) TP.HCM có sự sôi động và phát triển nhất định. Có những tác phẩm trở thành best seller với hàng chục ngàn bản chỉ một thời gian ngắn sau khi xuất bản, thậm chí là tác phẩm thơ. Thế nhưng, trong chính sự sôi động đó, câu hỏi về sự khác biệt giữa sách bán chạy và dòng sách có giá trị nghệ thuật thì vẫn luôn được đặt ra. Bao giờ văn học trẻ mới gọi tên tác phẩm đỉnh cao? Để nó không còn rơi vào nghịch lý: Tác phẩm giàu số lượng nhưng lại ít về chất lượng? Người viết trẻ hôm nay đã và đang viết gì, có thực hiện sứ mệnh của một người viết văn chương chưa? Đây là câu hỏi và cũng là những điều trăn trở không chỉ của những thế hệ đàn anh đi trước mà còn của thế hệ những người viết văn trẻ hôm nay.

Buổi tọa đàm “Văn học trẻ TP.HCM - Một góc nhìn” do Hội Nhà văn TP.HCM phối hợp với Khoa Văn học- ngôn ngữ trường ĐH KHXH&NV tổ chức đã diễn ra với những băn khoăn và cả những tâm tư như thế.

Nhà văn Phan Hoàng thẳng thắn nêu ra một thực trạng “Không thể phủ nhận sự phát triển của thị trường văn học trẻ. Các tác giả đã mạnh dạn thể hiện tác phẩm, tựtin công bố tác phẩm trên mạng khi chưa hoàn thành. Sự xuất hiện nhiều cây bút trẻ là điều đáng mừng. Nhìn vào văn học trẻ hiện nay chúng ta nghĩ rằng có hai dòng chảy song song tồn tại bên nhau: Tác phẩm của những cây bút đề cao nghệ thuật, cố gắng tìm tòi những cái mới, đi sâu cuộc sống và nội tâm con người hiện đại. Nhưng số lượng sách xuất bản thường rất ít, chưa được độc giả đón nhận rộng rãi. Thứ hai lànhững tác phẩm của những cây bút trẻ có những tác phẩm giải trí, mì ăn liền dành cho tuổi mới lớn, được đông đảo độc giả đón nhận nhưng chưa nhận được giới phê bình đánh giá cao. Bất cứ tác giả nào khi xuất bản cuốn sách cũng muốn đứa con tinh thần của mình vừa có giá trị cao và được đông đảo độc giả đón nhận, chia sẻ. Thế nhưng nhìn vào đời sống văn học trẻ TP.HCM hiện nay, rõ ràng có sự khác biệt giữa dòng sách bán chạy và sách có giá trị nghệ thuật”.

Đồng quan điểm này, nhàvăn Phạm Sỹ Sáu – Phó chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM chỉ ra “Tác giả trẻ hiện nay đã mô tả được cuộc sống, môi trường TP.HCM. Tồn tại với nhiều giá trị khác nhau, phù hợp với đối tượng người đọc khác nhau. Cũng không thể cho rằng một tác phẩm bán chạy lại không có giá trị nghệ thuật và ngược lại. Nhưng phải thẳng thắn thừa nhận, trong thị trường xuất bản có những tác giảtrẻ bán vài chục ngàn bản. Nhưng khi đọc lại với tư cách người đọc bình thường nhất tôi cảm nhận: Dường như đọc cuốn sách xong chỉ cảm nhận rằng mình đã đi qua một giai đoạn nào đó chứ nói để lại điều gì chắc chắn là không có. Màvới những người làm xuất bản như chúng tôi luôn mong muốn làm thế nào để có những tác phẩm mà người trẻ sẽ nói được tiếng nói thế hệ mình. Tức là không xa rời thực tế, không đắp mền, trùm chăn. Khi đọc một số tác phẩm của một số tác giả trẻ, tôi cảm giác mình không sống ở đây ngay lúc này mà ở thế giới nào khác. Thế giới của phim ảnh của sự tưởng tượng. Dù đôi khi tác phẩm là sự tưởng tượng của bản thân tác giả. Nhưng ít ra nó phải viết ra với hơi thở đương đại. Cái điều chúng tôi thấy rất rõ nữa là trong văn học những người làm thơ thường thể hiện tư chất công dân của mình nhiều hơn là các bạn viết văn xuôi. Tư cách công dân nó vừa mang tính thời sự, đồng thời nó thể hiện sự gắn bó máu thịt của mình với quê hương, đất nước, con người… làm giá trị bản thân tác phẩm lan truyền nhanh hơn đến người đọc”.

Chọn hướng đi dòng văn học giải trí, mì ăn liền để có độc giả hay chọn hướng đi âm thầm với những “đứa con tinh thần” đủngày đủ tháng? Đây không phải là sự lựa chọn dễ dàng, nhất làt rong thời kì của công nghệ thông tin nhanh chóng. Anh Khang, tác giả trẻ của những đầu sách “hot” nhất thị trường văn trẻ TP.HCM cho rằng: “Ở thời đại công nghệ số, thông tin được cập nhật hằng ngày, hằng giờ, buộc cách tiếp cận của người viết văn hôm nay cũng phải thay đổi. Có những tác phẩm kiểu “fast food” để đáp ứng thị hiếu của người đọc hôm nay. Nhưng dù ở tâm thế nào thì người viết cũng phải có sự chân thành, chân thật với chính ngòi bút của mình thì tác phẩm sẽ đến với người đọc. Đây cũng chính là con đường đi của mỗi nhà văn trẻ”.

Rõ ràng, không thể phủ nhận nhiều tác phẩm của văn học trẻ ra đời đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận không nhỏ độc giả trẻ tuổi. Những câu chuyện “đánh” trúng tâm lý, tình cảm kiểu như “thay lời muốn nói”. Nhưng nó cũng mới chỉ dừng lại ở cảm nhận tình yêu, đau khổ, chia tay… mà thiếu đi những giá trị cần thiết hơn lồng vào một tác phẩm văn học. Mỗi người viết trẻ khi đã mang trên mình danh xưng nhà văn tức là mang trên vai trọng trách của người cầm bút. Những “đứa con tinh thần” dù ra đời trong hoàn cảnh nào cũng không thể cứ mãi dễ dãi kiểu “mì ăn liền”. Lợi thế của những người viết trẻ hôm nay chính là thông tin, là những câu chuyện sôi động đang diễn ra ngoài xã hội. Điều quan trọng là họ- những người viết trẻ chuẩn bị cho mình tâm thế, hướng đi và tầm nhìn như thế nào.

“Làm sao các nhà văn trẻ sáng tác những tác phẩm vừa có giá trị nghệ thuật, có sức sống bền lâu vừa được đông đảo bạn đọc đón nhận, có thể đại diện văn học VN khi bước ra sân chơi lớn trong thời kìhội nhập. Đi tìm lời giải cho câu hỏi này cũng chính là tìm tác phẩm đỉnh cao cho văn học”, là những điều trăn trở mà không chỉ nhà văn Phan Hoàng đưa ra mà còn của nhiều tác giả trẻ đang cầm bút hôm nay phải suy nghĩ.

H. Trần - Văn hóa online

'Văn học trẻ TP.HCM có bề nổi nhưng chưa có chiều sâu'

'Văn học trẻ TP.HCM có bề nổi nhưng chưa có chiều sâu'

Đó là ý kiến đánh giá của PGS Bùi Thanh Truyền, Đại học Sư phạm TP.HCM về văn học trẻ.

 

Sáng 12/11 đã diễn ra buổi tọa đàm Văn học trẻ TP.HCM - Một góc nhìn với sự tham gia của nhiều tác giả trẻ nổi tiếng như Phong Việt, Anh Khang, Thanh Vân... cùng các nhà nghiên cứu, phê bình văn học ở TP.HCM.

Phát biểu tại sự kiện, PGS Bùi Thanh Truyền, Đại học Sư phạm TP.HCM cho rằng khi đọc tác phẩm của các cây viết trẻ không tìm thấy sự đồng cảm. Theo ông, thế giới mà các bạn viết trong sách không mang hơi thở của cuộc sống mà như ở trong phim ảnh.

Nếu thế hệ 7X ghi dấu ấn với nhiều cây viết tiêu biểu như Phan Hồn Nhiên, Trần Nhã Thụy... thì đến thế hệ nhà văn 8X, 9X chưa có những tác phẩm, tên tuổi xứng tầm.

PGS đánh giá: "Văn học trẻ TP.HCM hiện nay có sự nổi ở bề mặt nhưng chưa có độ sâu".

PGS Bùi Thanh Truyền. Ảnh: Tiểu Vũ.

Chưa có nhiều dấu ấn nhưng nhiều cây viết trẻ lại sở hữu lượng độc giả trung thành, có những cuốn sách best-seller. Lý giải điều này Th.S Phương Thúy, Đại học KHXH&NV TP.HCM cho biết qua khảo sát của cô đa số học sinh trung học, phổ thông thích sách của tác giả trẻ.

Nếu trước đây, niềm yêu thích tác phẩm chỉ dựa vào tự thân của cuốn sách thì hiện tại, nhà văn có thể kết hợp với nhiều thứ khác ngoài sách như xây dựng hình ảnh, phát triển trang cá nhân. Vì thế khi độc giả yêu thích một Anh Khang có tài ăn nói cuốn hút hay Nguyễn Ngọc Thạch với lượng fan đông đảo trên facebook... thì họ sẽ bán sách dễ dàng hơn.

Đại diện cho các cây viết trẻ, nhà văn Anh Khang thừa nhận, thế hệ mình biết tận dụng sự tiến bộ của internet, tiếp cận khán giả qua mạng. Cũng vì thế mà bị đánh giá viết theo kiểu mì ăn liền.

Anh Khang phát biểu tại sự kiện. Ảnh: Tiểu Vũ.

Anh không dám nhận tác phẩm của mình có giá trị vì "giá trị thế nào để thời gian trả lời" nhưng khẳng định: "Thế hệ chúng tôi đã góp phần phát triển thị trường xuất bản sách".

Trước những câu hỏi về sứ mệnh của nhà văn trẻ, tác giả Buồn làm sao buông cho rằng không nên đặt áp lực lên nhà văn. "Tôi tin rằng khi viết bằng những rung cảm từ trái tim thì sẽ chạm đến trái tim độc giả", anh khẳng định.

Nhà thơ Phong Việt - người từng lập kỷ lục với tập thơ Đi qua thương nhớ tiêu thụ hơn 50.000 bản chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình sáng tác. Theo anh, nếu chạy theo số lượng thì tác giả khó viết được một tác phẩm hay. Bản thân anh nhận được nhiều lời mời hợp tác nhưng chỉ viết mỗi năm được một tập thơ.

Nhà văn, nhà thơ theo anh không nên chỉ gắn với một thể loại, đề tài nào. Cùng với sự trải nghiệm và am hiểu hơn thì người viết phải khai thác những đề tài gai góc, vĩ mô hơn. "Một tác giả thành công là tác giả lớn lên cùng với độc giả của mình", anh nhấn mạnh.

Nhà thơ Phan Hoàng, nhà văn Trần Nhã Thụy, nhà thơ Phong Việt. Ảnh: Tiểu Vũ.

Khép lại buổi tọa đàm, nhà văn Trần Nhã Thụy khẳng định danh xưng nhà văn không phải để làm sang mà đặt lên họ những trọng trách. Đạo đức của nhà văn không gì khác là viết nên một tác phẩm hay.

Bích Hằng- News.zing

Hành trình văn trẻ

Hành trình văn trẻ

Tọa đàm văn xuôi tại Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 9-2016.

Người trẻ nói về văn trẻ, bằng cái nhìn cùng trang lứa, thế hệ; với sự thẳng thắn, cởi mở và cả đồng cảm, sẻ chia. Đó là tinh thần bài viết của nhà phê bình văn học trẻ NGUYỄN THANH TÂM. Báo Nhân Dân xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Việc định danh nhà văn trẻ có lẽ chỉ nên được hiểu có tính tương đối về mặt tuổi tác, không hàm ý về năng lực chuyên môn. Như thế, những luận bàn về họ mới có được sự công bằng, khách quan. Người trẻ có một tài sản - như là thứ vốn của đời người, đó là tuổi trẻ. Tuổi trẻ là điều kiện, là yếu tố đầu tiên cho phép người ta có những ước mơ, dự định, hành động. Dám làm, có thể làm, có điều kiện để làm là khi người ta còn trẻ. Bởi vậy, nói về văn trẻ là nói về những việc làm trong sự hăm hở của tuổi trẻ trước các vẫy gọi của cuộc đời.

Nhìn nhận về văn học Việt Nam từ thế hệ các nhà văn trẻ, điều đầu tiên có thể cảm nhận được là sự nhập cuộc sôi nổi và tự tin. Tuổi trẻ luôn là lực lượng nòng cốt, tiên phong để tiến hành những kiến tạo xã hội. Trẻ, năng động, nhanh, hiểu biết xã hội, công nghệ,... họ sở hữu những kỹ năng, tri thức nền vượt trội các thế hệ cha anh. Chính họ tạo nên diện mạo của thời đại, thế hệ mình.

Văn trẻ Việt Nam đương đại đang đem đến những hy vọng cho tương lai của văn học nước nhà. Thế hệ trẻ hôm nay viết để hiện diện, đối thoại với chính mình và thế giới chung quanh. Họ cần phải viết như là một cách thức để cái tôi được thể hiện. Cũng chính trong khi viết, từ viết mà họ sống. Nguồn sống trẻ, điệu sống mới, nhịp đập khác khiến họ có những hiện diện và biểu đạt khác với các thế hệ cha anh. Họ khác với những người đi trước dù có thể vẫn rất truyền thống. Trong thơ, thấy lục bát của Nguyễn Thế Hoàng Linh vẫn giàu tính truyền thống nhưng lại mang hơi thở của giới trẻ đô thị - một dạng lục bát thị dân. Vi Thùy Linh khá dịu dàng, ý nhị ở Khát, Linh; táo bạo, mạnh mẽ, bung thoát ở Đồng tử, Vili in love, Phim đôi tình tự chậm. Đoàn Văn Mật suy tư mà chơi vơi trong Bóng người trước mặt. Lữ Thị Mai mượt mà, yếu đuối những mơ cảm với Giấc. Nguyễn Phong Việt gợi cho ta những mộng mơ học trò ở Từ yêu đến thương, Sống một cuộc đời bình thường. Lương Đình Khoa và những hoang mang, mơ mộng tuổi trẻ trong Ai rồi cũng phải học cách quên đi một người. Nguyễn Quang Hưng kín đáo, trầm tư cùng Chia ngũ cốc,… Trong văn xuôi, có thể gặp một Nguyễn Thị Kim Hòa giàu trắc ẩn, tha thiết; Đinh Phương huyền mị với lối viết “sương mù”; Hạnh Nguyên còn rất trẻ đã tạo dấu ấn riêng với những truyện ngắn nhiều ám ảnh về thế hệ mình. Các tên tuổi khác như Kawi Hồng Phương, Nguyễn Ngọc Thạch,… lại tìm thấy đời sống văn chương của mình trên mạng. Ở mảng lý luận phê bình, công chúng yêu văn học cũng đã quen biết với những tên tuổi như Cao Việt Dũng, Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Phan Tuấn Anh,… Họ được nhắc đến với sự tin tưởng về một thế hệ phê bình mới có thể đồng hành cùng sáng tác. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu để có thể hình dung đầy đủ hơn về văn học của người trẻ. Đó là những tác giả trẻ ở TP Hồ Chí Minh, các vùng miền trong nước và hải ngoại hay những hoàn cảnh xuất hiện khác mà chúng ta ít có may mắn được đọc, được gặp, thậm chí viết về họ. Vì thế mà bức tranh văn học trẻ Việt Nam được phác thảo ở đây còn ít nhiều khuyết thiếu.

Văn học trẻ tạo nên những dấu ấn rất đáng hy vọng. Tuy nhiên, nhìn vào thực tiễn sáng tác của nhiều cây bút trẻ, có thể thấy những thành tựu của họ cũng phản ánh rõ diện mạo, giai đoạn mà họ đang thuộc về. Phần lớn các tác phẩm nằm ở thể loại thơ và truyện ngắn, tản văn; tiểu thuyết chưa thật sự gây chú ý trên văn đàn. Điều đó cũng là lý do để chúng ta tin rằng họ vẫn đang trên hành trình. Mặc dù vậy, qua các thể loại thơ, truyện ngắn, tản văn, các tác giả trẻ đã nỗ lực nói lên khát vọng sống và sáng tạo nghệ thuật của mình. Không chỉ ưu thế hơn thế hệ cha anh về điều kiện học hành, người trẻ còn được sống đầy đủ trong không gian công nghệ của thế kỷ 21, nơi mà in-tơ-nét cùng các thiết bị kỹ thuật số đã làm thay đổi đời sống con người, thay đổi phương thức viết và thói quen đọc. Quan trọng hơn hết, các tác giả trẻ dần tiến đến mô hình công dân toàn cầu. Kỹ năng sử dụng in-tơ-nét, vốn ngoại ngữ; những trải nghiệm văn hóa, lịch sử, tri thức liên/xuyên không gian, thời gian, biên giới,… đã tạo những tiền đề hết sức quan trọng để họ có thể tiến xa hơn trên con đường sáng tạo. Mặt khác, bối cảnh đất nước đang từng ngày đổi mới, tạo những cơ hội rộng mở cho người viết. Người đọc bắt gặp những khung cảnh xa lạ trong sáng tác của Hạnh Nguyên (truyện ngắn Những thiếu thời lơ lửng). Có khi, lại là không gian lịch sử trong sự quay về trầm tư của Đinh Phương (các truyện ngắn Chiều ký ức phủ gai, Chuyến trở về của cỏ); Nguyễn Thị Kim Hòa (truyện ngắn Hương thôn dã,…).

Có thể nói, trong một hình dung rất khái quát, văn trẻ Việt Nam đang có một lực lượng hùng hậu, nhiều tiền đề thuận lợi để tiến hành những cuộc bứt phá, dấn thân trong sáng tạo nghệ thuật. Nhìn lại thành tựu của văn trẻ, hình dung đôi nét về chân dung - diện mạo của họ, chúng ta có thêm niềm tin về những giá trị còn ở phía trước.

Nhân dân

Truyện ngắn của Tru Sa: Mê cung

Truyện ngắn của Tru Sa: Mê cung

Tôi từ sớm để chuẩn bị cho ngày hôm nay. Để mọi chuyện thuận lợi, tôi đã phải bước đi thật rón rén, tránh những âm thanh quá lớn có thể đánh thức bà ta.

Minh họa: Nhím

Cơn ngái ngủ khiến cơ thể tôi ì ạch và tôi phải dùng chút nước lạnh để mình tỉnh táo lại. Tấm gương phòng tắm đặt nghiêng nghiêng, tôi lùi xa một chút để có thể nhìn thấy toàn bộ thân thể mình. Với cơ thể này thì chuyện cởi trần ra bãi tắm, dù là buổi đêm cũng là điều ngớ ngẩn. Nhiều năm rồi, các cơ bắp trên cơ thể tôi đã nhăn nhúm lại và cả cái thứ gắn với bản sắc đàn ông kia cũng đã trở nên xấu xí. Các ngón tay dài, thuôn thả cũng đã nhăn nheo và cứng nhắc như lớp vỏ cây. Tôi tiến gần hơn về phía gương, nhìn ngắm hồi lâu. Tiếng thở dài vang khe khẽ. Tôi đã từng nghĩ mình sẽ có lúc già nua nhưng thật tội nghiệp khi biết cơ thể mình sẽ dặt dẹo, ốm đói tới mức này. Gương mặt thanh tú với cái mũi cao và đôi mắt sâu thẳm có thể chôn vùi trái tim mọi thiếu nữ giờ tôi chỉ còn được thấy trong sự hồi tưởng thôi sao.

Bà vợ già có lẽ vẫn đang co quắp trên giường như con mèo hen. Tôi đã phải chịu đựng bà ta quá lâu rồi. Từ ngày nào tới giờ bà ta luôn quá quắt với tôi. Con người trải qua một quá trình tiến hóa lớn nhưng có lẽ người đàn bà cộc cằn kia lại đi ngược với tiến trình đó. Bà ta là sinh vật đã bị Thượng đế lãng quên và chẳng biết bằng cách nào lại lọt xuống nhân gian. Bà ta đã đeo một chiếc mặt nạ để gặp được tôi và giờ thì lớp tạo hình đó đã nhòa đi. Tôi đã bị xích chặt vào một ả đàn bà thô thiển. Bà ta chẳng cần biết Đức Thích Ca vì sao lại từ bỏ thân phận hoàng tộc để tham thiền khổ hạnh, Chúa Giêsu vì sao phải đóng mình vào thánh giá, bà ta luôn bĩu môi khi thấy những bức tranh mang tính tượng hình, nhạc thính phỏng chỉ khiến cơn ngáp vặt của bà ta mau đến, nghĩa trang hay lăng mộ với bà ta cũng chỉ là nơi chôn người.

Tôi bước ra ngoài, cố xua đi hình ảnh của bà ta. Vài ngày nữa tôi mới trở về. Người đàn bà đó sẽ tức điên lên và gào thét như con sói đã để vuột mất mồi. Tôi bắt đầu tưởng tượng ra gương mặt già nua, dày đặc những nếp nhăn kia khi bắt đầu nổi đóa. Các đường gân sẽ chạy quanh gò má mà nay đã hóp lại, trông xanh xao. Cơ thể bà ta sẽ run lên bần bật như sợi dây đàn, hai hàm răng bập lại, nghiến ken két. Nếu cơn nóng giận có lớn hơn và phần nào tác động đến chứng suy tim của bà ta thì thật là một điều đáng mừng.

Đi một đoạn, tôi dừng lại khi nhìn thấy chiếc Roll Royce màu trắng ngọc. Người bạn gì đến sớm hơn tôi nghĩ. Cửa xe mở khi tôi gõ vào mặt kính. Bên trong xe chỉ có mình Bound, tôi ngồi sau ông ta. Điều hòa được đặt ở chế độ trung bình nên khá ấm áp. Bound mặc một chiếc măng- tô kiểu Pháp, chiếc áo màu trắng và khá dày. Phát tướng lúc tuổi già khiến thân hình ông ta cân đối và hợp với chiếc áo vốn dành cho người có vóc dáng cao lớn này hơn.

“Bao lâu thì đến nơi?”

“Quá trưa là đến, nhưng ông phải ở lâu đấy.”

Bound nhấn ga, chiếc xe lao vút đi.

*

Lần gặp gỡ đầu tiên của tôi với Bound là vào hai tháng trước. Hôm đó tôi ra cửa hàng chim cảnh để mua một con. Tôi vốn không thích nuôi chim nhưng chẳng rõ tại sao về già tôi lại có sở thích này.

Cửa hàng rất vắng và tôi là vị khách duy nhất. Chủ quán giới thiệu các loại chim có trong quán để tôi lựa chọn. Tôi chẳng phải người sành chơi chim nên đã chọn một con chào mào có giá rẻ nhất. Trong lúc ông chủ vào buồng trong lấy thức ăn cho chim thì tôi ghé mắt vào lồng để nhìn con chim kỹ hơn. Con chào mào vẫn còn nhỏ và hơi gầy. Nó xòe đôi cánh, nhảy sang trái rồi nhảy sang phải. Thân hình bé nhỏ đó lay động khá lâu. Chợt, nó thò đầu ra phía kẽ hở của những thanh gỗ. Cái đầu nó lúc rúc nhưng chỉ cái mỏ bé con con là chui qua được chiếc lồng. Nó bỗng nhảy lên trên nóc lồng, đầu ngoảnh ra.

“Đang vùng vẫy đấy.”

Tôi nhìn sang thì thấy bên cạnh mình là một ông già. Tôi gần hơn sáu mươi. Ông ta chắc mấp mé bảy mươi. Chủ quán bước ra, đưa tôi một túi thức ăn cho chim. Nhìn sang ông già kia, chủ quán mừng rỡ, nói “Chào ông. Như trước chứ ạ.” Ông già kia gật đầu rồi vẫy tay, hai gã thanh niên lạ từ ngoài đi vào. Họ mang toàn bộ lồng chim trong cửa hàng ra chiếc xe tải đỗ bên ngoài. Phía trên xe tải là một chiếc Roll Royce màu trắng.

“Còn cái lồng chim này nữa.” - Ông ta nhìn sang con chào mào mà tôi mua. Lúc gã thanh niên chạm vào lồng, tôi ngăn lại.

“Xin lỗi, con chào mào này tôi đã mua rồi.”

“Ông bán lại cho tôi chứ - Ông ta nói.

“Tôi đã mua rồi!” - Tôi nói.

“Ông hãy ra giá, bao nhiêu cũng được!” - Ông ta nói.

Tôi quay đi, cầm lồng chim lên.

“Chiếc lồng sẽ giết nó.”

Ông ta nhìn tôi, khẽ thở dài rồi quay đi. Khi ông ta bước khỏi cửa, tôi gọi lại.

“Ông muốn mua nó thật chứ.” Ông ta quay lại, khuôn mặt không giấu được vẻ mừng rỡ. Tôi bán lại cho ông ta con chào mào. Tôi lấy đúng giá mà mình đã mua.

Tôi được biết thêm, ông lão lạ mặt kia lâu lâu lại tới các cửa hàng bán chim cảnh và mua tất cả với giá rất cao. Một lần khác, tôi vô tình gặp ông ta ở một cửa hàng nhỏ ở cuối phố. Lần này chúng tôi đã bắt chuyện với nhau và còn gặp lại khá nhiều lần.

*

Bound không phải là một người nước ngoài, ông ta có gương mặt và dòng máu của một người Việt. Theo những gì tôi nghe được thì từ nhỏ ông ta đã lưu vong bên Pháp. Ông ta chỉ có một mình, phải tay trắng lập nghiệp. Việc thay đổi quốc tịch không phải là điều Bound mong nhất, ông ta vẫn nói được tiếng Việt và vẫn là người Việt. Không gì thay đổi được dòng máu trong người Bound. Đó là chuyện của quá khứ và tôi không muốn hỏi nhiều về nó. Quá khứ luôn tàn nhẫn.

Bound và tôi đều là những người cô đơn. Tôi cô đơn trong căn nhà đó còn ông ta thì cô đơn ở cái xứ sở rộng lớn, khi mà phải ngồi trong bóng đêm, nói tiếng mẹ đẻ với bốn bức tường.

“Tôi ghét sự trói buộc. Nhưng tôi lại chẳng thể nhìn thấy sợi dây mà mình đã giăng ra để vây lấy bản thân.”

Có lần Bound nói với tôi như vậy. Lời nói chỉ dừng ở đó và tôi cũng không hỏi thêm. Tôi im lặng. Bound ngước nhìn lên bầu trời. Một thứ linh cảm nào đó trong tôi đã đọc ra Bound đang buồn phiền, cuộc sống sung túc ở phương trời xa vẫn chưa khiến ông ta quên đi những phiền muộn.

Ngày còn trẻ tôi thích đi lại khắp nơi, tôi quen biết nhiều người và nhiều cô gái đã ngã vào lòng tôi chỉ với vài lời tán tỉnh bâng quơ. Những cuộc chè chén luôn kéo dài. Nhưng mọi chuyện đã biến mất khi tôi gặp cô ta. Tôi không biết vì lý do gì nhưng rõ ràng khi gặp cô ta tôi đã không còn nhìn thấy thêm người phụ nữ nào nữa. Cặp mắt của tôi dành riêng cho cô ta. Suốt cả tháng trời tôi không đi đâu cả, mặc cho đám bạn hữu gọi cả trăm cú điện thoại. Tôi chẳng ăn uống gì và chỉ vẽ thôi. Tôi vẽ rất nhiều, có lẽ tới cả trăm bức. Những bức tranh đó đều mang khuôn mặt của cô ta. Gương mặt đó luôn lơ lửng trong tim tôi kể cả khi tôi không nghĩ tới nó vẫn hiện rất rõ. Sự nông nổi thời trai trẻ đã khiến tôi không nhìn ra cái sắc đẹp đó chỉ là phép phù thủy.

“Ông đã theo cái tình yêu đó.”

“Đúng!”

“Không ai ngăn cản?”

“Tôi bỏ ngoài tai.”

“Ông có từng nghĩ lại?”

“Tới giờ thì luôn luôn.”

*

Tôi ngừng vẽ và chuyển sang kinh doanh. “Đó chỉ là một giấc mộng thôi. Tình yêu của chúng ta không cần những giấc mộng viển vông đó. Anh nghĩ xem, thứ gì mới cần cho cuộc sống sau này, hơn cả việc chìm đắm vào trò vẽ vời”. - Cô ả nói vậy và tôi đã nghe theo như một mệnh lệnh. Cô nàng quăng hết tranh của tôi vào sọt rác. Tôi cũng cắt đi mái tóc bồng bềnh ngả rạp tới sau gáy. Giá vẽ cùng những lọ màu giờ có lẽ vẫn nằm yên trong nhà kho, lẫn vào bao thứ vật dụng lỉnh kỉnh thô tục. “Đó là một sự ngu muội”. Tôi đã giăng một tấm lưới lớn để tự bẫy mình. Người vợ đáng yêu đó quản lý mọi thứ. Cả tiền bạc, cả tự do của tôi. Sự dịu dàng biến mất quá nhanh. Thậm chí tôi đã tự cược rằng cái vỏ bọc mỹ miều mà tôi đã nghĩ rằng còn đáng giá hơn cuộc sống tự do và niềm say mê bên giá vẽ đã tan nhanh như một làn khói. Vài năm sau đó cô ta bắt đầu mắng nhiếc về lối sống luộm thuộm và sự bê trễ về thời gian của tôi.

“Ngày trước khi bà ta ngã bệnh, tôi đã quỳ trước bàn thờ mong bà ta tai qua nạn khỏi và xin thần linh hãy chuyển bệnh tật của bà ta sang tôi. Còn giờ thì ngược lại.”

“Ông kể nhiều về quá khứ. Là ông chưa có dịp kể cho ai hay không ai muốn nghe ông kể.”

“Tôi cần một người bạn.”

“Những người bạn ngày trước thì sao.”

“Chẳng ai trong họ còn muốn gặp tôi. Những chú chim chịu nghe tôi kể và luôn im lặng. Nhưng chúng mau chết quá mà tôi thì không thể thả chúng được. Chúng sẽ mãi lánh tôi.”

Bound thở dài, ông ta đặt tay lên vai tôi. Bàn tay ông ta rất ấm.

“Ông chẳng cần thiết phải nuôi chim làm gì. Ông hãy nói gì đi và tôi sẽ nghe hết. Phải rồi, khác với lũ chim, tôi có thể trò chuyện với ông.”

Bound mỉm cười. Bàn tay ông ta xiết chặt thêm. Hơi ấm trên tay ông ta tan dần vào tôi.

*

Bound thường đến các cửa hàng bán chim và mua bằng hết. Ông ta đem nó về khu dinh thự của mình và thả chúng ra ngoài. Có một lần ông ta nói với tôi.

“Tôi không hiểu nổi tại sao mấy người lại nhốt loài chim vào lồng.”

“Như vậy nó sẽ không bay đi đâu được.”

“Ông không thấy mình đang cầm tù nó ư.”

“Nhốt chúng thì tôi có thể kể với chúng nhiều hơn.”

“Các người chỉ biết tận hưởng sở thích của mình thôi. Ông hãy xem nhiều lúc con chim nhảy bên này nhảy bên kia và hót. Chẳng phải đâu, nó đang tìm lối ra. Tiếng chim trong lồng hoặc là lời cầu cứu hoặc là tiếng nguyền rủa kẻ độc tài.”

“Chơi chim là cái thú tuổi già.”

“Chơi ư? Tự do đâu phải trò tiêu khiển. Chơi chim là thú vui của kẻ độc tài.”

*

Tôi không muốn trở về nhà nữa. Tôi đã ở đó quá lâu rồi và cũng ngần ấy thời gian tôi chưa thể đi đâu được xa. Đã nhiều năm chung sống nhưng chưa lần nào bà ta chịu nghe tôi tâm sự. Đôi tai bà ta chỉ chăm chú hơn khi nghe tôi nói về số tiền thưởng cuối năm hay một công việc béo bở mà từ đó có thể giúp bà ta sắm thêm các bộ quần áo sang trọng. Nỗi buồn và cả niềm day dứt nó đã ở trong tim tôi quá lâu. Không ai chịu dừng chân thật lâu để nghe tôi nói. Các bóng hình lướt qua rất nhanh, tôi không thể khiến họ dừng lại. Đôi lúc, tôi tưởng đã chạm được và giữ lại được một bóng người nhưng rồi thứ ảo ảnh đó lại chạy vụt qua tôi, biến mất trong bóng tối. Tôi chỉ có thể đem nó kể cho những chú chim. Nhưng rồi chúng chỉ ở với tôi vài tháng. Tôi chăm chúng rất chu đáo nhưng chúng vẫn chết, hoặc không thì bà vợ cũng sẽ thả chúng đi.

Những hạt thức ăn cao cấp không thể cản được đôi mắt thôi hướng về phía bầu trời. Chúng chỉ có thể bay lượn trong chiếc lồng này. Còn tôi. Đôi chân tôi chỉ có thể đi lại trong bốn bức tường hoặc rộng hơn là đầu phố và cuối phố. Tôi cũng có nhiều dịp phải đi xa nhưng bà ta luôn theo sát. Những chuyến đi đó tôi chẳng còn thấy những cảnh đẹp, nó giống một cuộc đày ải hơn. Tiếng khóc, ông biết không, quá nhiều lần tôi đã muốn than khóc cho mình. Đáng ra tôi phải nhận ra tiệc cưới hôm đó vốn dĩ là một đám tang. Tự do và thanh xuân của tôi đã mất trong một người đàn bà phàm tục. Bạn bè tôi đã lánh mặt để ngăn những giọt nước mắt không rơi xuống. Họ đã cảnh tỉnh tôi quá nhiều vậy mà tôi vẫn bảo thủ đi theo thứ gọi là tình yêu, hẳn là lúc đó linh hồn tôi đã bị đánh cắp đi đôi mắt. Tại sao lúc đấy tôi không đủ tỉnh táo để thấy những bông hoa tôi tặng bà ta rồi sẽ tàn úa và nằm trong sọt rác. “Tôi đã từng nghĩ bà ta sẽ biến mất”. Ý nghĩ luôn hiện trong đầu tôi. Khi người đàn bà đó đi chơi xa, tôi đã cầu bà ta bị tai nạn hoặc giả sẽ vì một lý do gì đấy chịu ký vào tờ ly hôn mà giờ mối đã xông mục. Mỗi lần bà ta ngồi ở nơi nào đó, có thể là trong phòng khách, dưới nhà bếp, ghế đá công viên hoặc đâu đó trong các bữa ăn; tôi thường nhìn quanh, khi thì là chiếc quạt trần, cái bóng đèn lúc là bờ tường, trần nhà… tóm lại là bất cứ thứ gì lơ lửng trên đầu bà ta. Tôi luôn nghĩ chúng sẽ rơi xuống... Tôi thường mỉm cười khi tưởng tượng tới điều đó. Suy nghĩ đó không biết từ lúc nào đã bám rễ vào tôi, nó luôn ở trong đầu tôi, mọi lúc. Thậm chí khi tôi đã ngủ chúng vẫn hiện lên dưới hình dạng những giấc mơ. Không hiểu sao tôi không dứt nó ra được. Sự già nua và tù túng đã khiến linh hồn tôi dơ bẩn tới vậy ư? Bà ta rõ ràng là đáng ghét nhưng thực sự tôi chẳng nên vỗ béo mình bằng những suy nghĩ. Và cũng chẳng biết từ lúc nào tôi đã quên đi chuyện đứng trước gương quá lâu. Tôi luôn tránh điều đó vì biết đâu, vào một lúc nào đấy tôi lại bắt gặp một cặp sừng dài.

*

Mười hai giờ trưa, xe đến nơi. Điểm dừng là dinh thự của Bound. Dinh thự mà Bound đã kể với tôi ít nhiều tôi cũng đã có vài lần nghĩ đến. Cố nhiên là tôi đã tưởng tượng ra mọi hình dáng nhưng mọi thứ thật quá xa vời. Khu dinh thự này vượt quá sự tưởng tượng về mọi khu nhà sang trọng. Phải gọi là một lâu đài mới đúng. Lâu đài không xây theo kiểu cổ điển, cũng không theo dạng tân kỳ, tôi không thể nói rõ được nhưng hình như nó được xây dựng theo kiến trúc tổng hợp. Tôi có thể thấy rõ những nét cao quý của điện Nga Hoàng, sự diễm lệ, gấp khúc của Vạn lý trường thành. Đây chẳng phải lâu đài cổ. Các lớp gạch vẫn chưa có dấu hiệu rêu phong. Các bậc thang ở lâu đài xây theo dạng uốn, nhìn từ xa lâu đài như một cái vỏ ốc khổng lồ. Phần đỉnh lâu đài có xây một tòa tháp cao. Mũi tháp nhọn như một mũi kiếm. Phần mũi của ngọn tháp hướng lên cao và dường như đã chạm tới những đám mây. Lâu đài không quá đồ sộ bởi đứng lùi ra quãng gần vài trăm mét tôi có thể thu nó gọn vào tầm mắt. Không có dấu ấn lịch sử nào ở thứ công trình này, nó mang tính cá nhân nhiều hơn, nhưng dù thế nào thì cũng quá xa hoa khi tự xây cho mình một cơ ngơi to lớn thế này. Dinh thự của Bound nằm dựa vào một cánh rừng rộng bạt ngàn. Dù vẫn ở xa nhưng tôi vẫn ngửi thấy mùi lá thông, hoa oải hương và cây chà là.

3 giờ chiều, Bound dẫn tôi ra ngoài. Ông ta mặc một chiếc sơ-mi mỏng cộc tay. Hai bên cổ tay của ông ta lộ khỏi lớp áo và tôi thấy rõ ở hai cánh tay không hề có dấu vết nào của sự già cỗi. Da thịt ông ta săn chắc và còn có vẻ rất cứng cáp. Quản gia lái xe đưa tôi và Bound lên khu rừng. Quản gia ở lại canh chừng chiếc xe. Tôi cùng Bound đi lên trên. Tiếng chim hót văng vẳng bên những bụi cây. Tôi không nghĩ khu rừng này lại rộng tới vậy. Những cây thông mọc thẳng đứng, đan xen chằng chịt, lá thông nhuộm xanh rì cả một góc rừng. Gió thổi mang theo mùi hương của những bông hoa. Tôi hít một hơi thật sâu, không hẳn chỉ là mùi thơm của những bông hoa, còn có mùi gỗ thơm và một thứ mùi là lạ mang đặc trưng của tự do.

“Ông thử nhìn bên kia.”

Tôi nhìn ra, ở cuối ngón tay của Bound là một cây phong, lá ít nhiều cũng đã rụng. Có một đôi chào mào bay lượn trên cành cây đó. Chúng bay vòng quanh, đậu xuống cành cây rồi lại cất cánh.

“Nơi này mới thực sự cần cho chúng. Ông nghe mà xem, âm thanh du dương này mới là tiếng hót. Chỉ ở nơi này đôi cánh chúng có được sự tự do. Chúng sẽ bay tới mọi nơi.”

*

Bound đã xây cả một cánh rừng rộng như vậy cho chúng. Những chú chim đó sẽ chẳng muốn nhớ tới cái lồng khum khum đó nữa, đôi cánh của chúng hoàn toàn tự do. Chúng bay thành bầy, bay thành cặp, đôi lúc thì cô đơn một mình. Tôi thật không rõ trong đó đâu mới là con chào mào Bound mua lại của tôi. Nó đang ở trước mắt tôi, ở đâu đó trong khu rừng hay đang bay lượn tìm mồi cho đàn chim non mới nở. Bound có vẻ rất vui khi dẫn tôi vào khu rừng. Khuôn mặt ông ta nhũn nhặn. Chốc chốc ông ta lại dừng chân để ngắm thật kĩ khu rừng. Tôi và Bound đi rất lâu trong rừng. Tiếng chim hót như gần ngay bên tai tôi, ngân vang như tiếng dương cầm. Đám thỏ đuổi nhau dọc theo con rừng và khi nhìn thấy tôi chúng giật mình, chạy núp vào một chiếc hang gần đó. Bầu trời vừa ráo mưa nên trong xanh lạ kì, các gợn mây đang chảy dần về phía chân trời. Mây trôi rất chậm, đủ để tôi nhìn ngắm và liên tưởng ra đủ điều. Tôi quên hẳn căn nhà ọp ẹp cùng người vợ già kia. Tôi dạo trong rừng mà không hề nghỉ chân. Cách một đoạn đừng lại có những hồ nước nhỏ xây hình bán nguyệt. Hồ không có bệ chống nên tôi có thể múc nước rửa tay hoặc sắn quần, thọc hai chân xuống nước. Có một đôi bướm rượt nhau trên mặt hồ, vài con nhện nước bơi trên đó tạo thành những vòng tròn nhỏ.

Bound đứng cách tôi một đoạn. Ông ta châm thuốc và hút một hơi thật sâu. Tôi tựa lưng vào một tảng đá nhìn lên bầu trời. Mây đen đã tan từ lâu và như một quy luật ở đằng xa đã xuất hiện cầu vồng. Những sắc màu lộng lẫy uốn cong trên bầu trời. Ánh mắt tôi đăm đắm nhìn lên trên, bỗng nhiên tôi thấy các nếp nhăn trên khuôn mặt đã lặn đâu mất. Cái lưng hơi khòm xuống vì tuổi già cũng đã có thể duỗi thẳng. Đôi mắt tôi không còn phải nheo nheo để nhìn rõ một vật quá xa nữa. Tôi sờ ra sau thấy mái tóc mình đã dài trở lại. Trước mặt tôi hiện ra một giá vẽ. Tờ giấy dó đã đặt sẵn trên giá. Chiếc cọ vẽ uốn khúc và các gam màu trong hộp vẽ lần lượt chạy đều trên trang giấy. Từng đường bút đều khiến tinh thần tôi phấn chấn. Tôi như rơi vào một cõi nào đó, mọi thứ xung quanh dần mờ đi và bắt đầu tan biến. Chỉ còn mình tôi bên giá vẽ. Những màu sắc khi trùng lặp, khi rời rạc, lúc lại đơn lẻ. Phải rất lâu sau tôi mới hoàn thành bức vẽ. Tôi buông bút, ngắm nghía hồi lâu. Chỉ là một bức phong cảnh. Những khoảng màu trùng lặp, nhiều khi rối loạn chắp vá. Bức tranh dù có chỗ phối màu rất đặc nhưng nhìn tổng thể thì tất cả đều nhàn nhạt, nửa kín nửa hở. Khung cảnh chỉ nhỏ gọn ở vài cái cây, dòng sông và ít mây trôi nhưng nhìn chúng đều rất thoáng và tôi cảm thấy mỗi chiếc lá trên cành cây đang động đậy, những đám mây đang chậm chạp trôi đi.

“Quác!”

Tôi khẽ giật mình. Giá vẽ cùng bức tranh biến mất. Dáng dấp của bức tranh vẫn hiện chập chờn trong đầu tôi. Tôi nhắm mắt và cố nhớ lại bức tranh đó. Hình ảnh chỉ mang máng.

*

Ngày hôm sau trời mưa nên tôi không thể ra ngoài.

*

Bữa tối hôm qua Bound nói sắp tới sẽ trở về Pháp. Quá nhiều việc phải cần tới ông. Bound dù khỏe khoắn, minh mẫn hơn tôi nhưng vẫn già hơn tôi. Tuổi của ông ta cần phải được nghỉ ngơi hơn là ngồi một chỗ và vùi đầu vào đống văn thư dày đặc chữ nghĩa. Phải rất lâu nữa ông ta mới trở về Việt Nam, cũng có thể sẽ chẳng bao giờ. Tôi thả khăn mặt vào chậu, vò hồi lâu rồi lau mặt. Tôi lau qua người rồi bước ra, cô bé giúp việc đợi sẵn bên ngoài để sau đó sẽ đưa tôi tới phòng ăn. Gần chiều Bound sẽ cho người lái xe đưa tôi về và vì vậy chúng tôi phải ăn sáng thật nhanh để từ giờ tới chiều chỉ đi dạo trong rừng. Bound có nói hôm nay sẽ đưa tôi đi hết cả khu rừng. Ông ta đã định lái xe chở tôi đi nhưng tôi từ chối. Khu rừng vẫn còn rất rộng. Đường sẽ còn rất xa, tôi cũng đã không còn là một trai tráng nữa. Có lẽ tôi sẽ rất mệt nhưng dù thế nào tôi vẫn muốn đi hết cả khu rừng, bằng chính đôi chân mình.

Tôi và Bound giờ đã ở trong rừng. Nền đất ẩm ướt, đôi chỗ nước mưa đọng thành những vũng nhỏ. Trên những chiếc lá vẫn còn chút nước đọng lại, hạt nước nho nhỏ lấp lánh dưới ánh mặt trời nom như những viên trân châu. Tiếng chim hót văng vẳng trong những tán cây. Tôi và Bound chầm chậm đi, đôi lúc dừng lại hít một hơi thật sâu để ăn món khí lành. Nơi này rất yên bình, không gian thanh bạch đủ để xua đi mọi sự dơ dáy trong tâm hồn. Nếu tôi gặp Bound sớm hơn thì thật tuyệt. Người vợ già đó, tôi chẳng còn thấy bà ta đáng ghét nữa. “Bà ta luôn gây chuyện, nhưng chẳng phải lúc mình nằm viện bà ta cũng đã chăm sóc rất chu đáo đó ư?” Người vợ tôi đã si mê từ thời trai trẻ và chỉ khi đã luống tuổi tôi mới thành kiến với bà ta. Không có quá nhiều điều tốt đẹp ở bà ta nhưng tôi cũng không hoàn mỹ gì. Ký ức mà nhiều lần nghĩ đến tôi luôn muốn cầm cuốc đập nhiều nhát bỗng trôi đi rất mau. Trong đầu tôi chúng chỉ còn nhàn nhạt và chắc rằng chúng cũng như khối băng trôi về lục địa, đang tan chảy dần trước khi biến mất và trở thành một phần của Đại Dương.

Bound đi cạnh tôi, trán ông ta mồ hôi đã đổ lấm tấm. Tôi bảo “Nghỉ chân chút nhé”. Bound nhìn tôi, mỉm cười rồi đi tiếp. Bước chân ông ta chậm đi nhưng chẳng có vẻ gì là sẽ dừng lại. Ông ta vẫn đi cạnh tôi. Chúng tôi đi qua vài nơi, những cây thông ít đi và tôi thấy những bãi cỏ lớn, đám sóc nô đùa trên những cành cây, tiếng chim hót râm ran, vào sâu bên trong tôi thấy thêm loài hươu và những chú khỉ.

“Quác!”

Tiếng vang từ lùm cây phía xa.

“Tiếng gì vậy.”

“Chắc là bọn người làm đã đánh động lũ chim.”

“Chà, họ cũng thích đi rừng nhỉ?”

“Có lẽ chúng đi săn, trong rừng có thú hoang…”

Vẻ mặt Bound bình thản nên tôi cũng bớt lo. Tôi và ông ta đi tiếp.

“Ông không về đây nữa thì dinh thự này sẽ rất trống trải.”

“Biết bao giờ tôi mới có thể trở lại.”

“Ông lớn tuổi rồi, đã tới lúc cần được nghỉ ngơi.”

“Bây giờ tôi đang nghỉ ngơi.”

“Ông có thể về hẳn đây, vợ con ông cũng sẽ hiểu.”

“Sẽ chẳng ai hiểu cho tôi đâu.”

“Cởi bỏ áo giáp, sẽ nhẹ và được đi hơn.”

“Không dễ đâu…”

*

Tôi đã ra khỏi khu rừng. Bên ngoài là chiếc xe bốn chỗ, quản gia đứng đợi sẵn. Tiếng chim thánh thót vẫn văng vẳng phía sau níu tôi lại. Bound nhìn tôi, ánh mắt đầy vẻ nuối tiếc. Tôi gật đầu, mắt hết nhìn Bound lại nhìn về phía khu rừng.

Quản gia mở cửa xe. Lúc chuẩn bị lên xe tôi nghe thấy một tiếng kêu. Thứ tiếng đứt đoạn nửa chừng nhưng đủ lớn và đủ sắc để cắt tai tôi. Một vật từ trên không rơi xuống. Tôi giật mình khi thấy một con chào mào. Không có tiếng đạn. Con vật trúng đạn, ngay tim. Cơ thể con chim gần như vỡ toác. Máu ngấm đỏ bộ lông. Tôi nhặt con chào mào lên, đặt nó vào lòng bàn tay. Máu trên người con chim rỉ xuống tay tôi. Con chào mào run rẩy, mắt nó nhìn lên bầu trời, đôi cánh vẫy vẫy như muốn bay lên. Được một lúc thì tắt thở.

Nhìn quanh, tôi thấy Bound cầm súng. Đầu súng gắn giảm thanh. Lửa mắt tôi nguội đi và buốt lạnh như bị đông thành băng tuyết.

“Tại sao…”

“Nó đã bay khỏi khu rừng.”

Tôi thành tuyết vì giọng của Bound.

“Ông nói vậy… Không lẽ những tiếng kêu mà tôi nghe được đều là…”.

“Tôi đã vì sự tự do của chúng mà làm cả cánh rừng rộng lớn. Chúng có thể bay lượn thoải mái. Thế giới ngoài kia quá nguy hiểm.”

“Bắn chết chim vì chim bay đi ư?”

Bound chẳng đáp, chẳng gật. Lặng lẽ nhét khẩu súng vào túi. Tôi choáng váng như bị bổ một búa.

“Đây là tự do mà ông nói ư? Ông nghĩ khu rừng này sẽ cho chúng tự do.”

“Phải!”

“Từ bỏ chiếc lồng nhỏ để bước vào chiếc lồng lớn hơn ư.”

“Không có chiếc lồng nào ở đây cả. Tiếng hót thánh thót là hạnh phúc.”

“Nếu đã hạnh phúc thì sao còn muốn bay đi.” Tôi ôm mặt - “Ông chỉ coi đám chim như một trò tiêu khiển.”

“Là ông nghĩ thế thôi. Tôi yêu chúng.”

“Khu rừng này sẽ cho chúng tự do, vậy tại sao chúng vẫn muốn bay khỏi đó. Tự do đâu chỉ giới hạn trong một bầu trời. Ông nói với tôi ghét sự trói buộc, vậy tại sao ông không tìm một con dao để cắt những sợi dây đó ra. Hay là… Ông vẫn muốn đứng một chỗ và đòi tự do trong ngục tù mình nắm quyền.”

Bound im lặng, khuôn mặt tỏ vẻ khó chịu.

“Sai cả rồi. Hai ta đều là những kẻ ngu muội. Chúng ta đã tự nhốt mình vào lồng mất rồi!” Tôi cười lớn. - “Muốn tự do sao không tự tìm lối…”.

Tôi nhét con chào mào vào túi áo ngực, và đi.

“Để tôi đưa ông về.” - Tiếng Bound ở sau.

“Phá lồng mà ra đi thôi.”

“Khoan đã…”.

Tôi cứ vậy đi. Bound nhìn về con đường. Ông ta nhìn rất lâu. Cánh rừng sau lưng ông ta. Những đôi cánh loay hoay trong đó. Quản gia đứng ở ngoài xe. Ông ta đang đợi một cái gật đầu để đưa chủ nhân của mình về.

Phía xa vẫn thấy cái chóp tòa dinh thự. Chóp cao như một ngọn tháp khuấy chọc trời xanh. Ngọn chóp cao hơn mọi thứ ở đây, nhưng dù dinh thự có to lớn hơn và đỉnh chóp được xây thêm, nhô đến những vì sao thì nó vẫn chỉ có thể đứng bất động một chỗ. Chân tòa dinh thự chôn sâu dưới đất và mãi đứng yên.

*

Quản gia dìu Bound lên xe và nổ máy. Bound với tay về sau. Bàn tay Bound huơ hoắng trên không, cứ thế với, cứ thế với. Cánh rừng ở xa quá rồi. Dinh thự đang gần kề trước mặt.

“Đứng lại…” - Bound nói. Xe dừng lại, một lúc, rồi chạy theo lệnh Bound.

“Đứng lại…” - Bound lại nói. Xe lại dừng, cũng một lúc, rồi chạy theo lệnh Bound.

“Đứng…” - Bound lại nói. Xe lại đi, cũng một lúc, rồi vẫn chạy theo lệnh Bound.

Sau nhiều lần ấn phanh, rồi lại thả phanh, xe đứng khựng lại. Trục trặc gì đấy liên quan đến động cơ. Quản gia vã mồ hôi, len lén nhìn chủ mình và thì thào rằng sẽ sửa lại xe. Bound lẩm bẩm. Quản gia nghe không rõ tiếng lẩm bẩm.

Quản gia mở cửa xe, lần tìm cốp xe cái gì đấy.

Bound còn trong xe. Bounb vẫn lẩm bẩm, ông lần tay vào túi ngực.

Súng cướp cò.

T.S
(TCSH332/10-2016)

Làm truyện tranh khó trăm bề

Làm truyện tranh khó trăm bề

Sau nhiều năm hội nhập về xuất bản, giữa những người sáng tác truyện tranh trong nước và những cơ quan xuất bản vẫn chưa gặp được nhau.

Một trang truyện Mèo Mốc tập 3 (trái) và một trang bản thảo của Truyện cực ngắn - hai trong những tác phẩm được cộng đồng sáng tác/đọc truyện tranh nhắc đến gần đây như những dẫn chứng về cái khó của làm truyện tranh - Ảnh: L.ĐIỀN

Sự kiện tập 3 truyện tranh của Mèo Mốc (Đặng Quang Dũng) - Mèo Mốc: Hành trình tới Singapore - vừa bị chính NXB Dân Trí thu hồi sau khi phát hành cả tháng làm dấy lên những lo ngại trong giới sáng tác truyện tranh.

Bằng chứng là vào thời điểm truyện bị thu hồi, những người đã đọc qua tác phẩm này khi được hỏi đều bày tỏ ngạc nhiên rằng “không đáng bị thu hồi”, vì thật ra chỉ là câu chuyện dí dỏm có chút hời hợt của độ tuổi teen.

Theo tác giả, trang 15 với hoạt cảnh Mốc trong nhà vệ sinh và trang 68 Mốc nói từ “ị” cũng được cho là phản cảm. Chúng tôi có hỏi qua điện thoại với giám đốc NXB Dân Trí thì câu trả lời là nội dung cần phải chỉnh sửa rồi mới được phát hành trở lại.

Không thể cứ nhìn mãi vào truyện tranh như là một sản phẩm dành cho trẻ con được

DƯƠNG THANH HOÀI

Húc đầu vào chỗ khó

Kể từ khi Công ty Phan Thị cho ra đời bộ truyện tranh Thần đồng đất Việt kèm hàng loạt hoạt động khơi dậy tinh thần sáng tác truyện tranh Việt, những bạn trẻ đam mê lĩnh vực này tìm được nguồn động viên đầy cảm hứng để theo đuổi.

Cùng với sự phát triển của mạng Internet, các cộng đồng sáng tác, chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về truyện tranh trên mạng dần hình thành. Từ đó ra đời một số dự án kêu gọi nhau chung tay sản xuất truyện tranh, điển hình là cộng đồng truyện tranh Việt Nam Comicola với chương trình sáng tác/sản xuất truyện tranh Long Thần Tướng.

Tuy nhiên, họa sĩ Khánh Dương - một trong những thành viên sáng lập Comicola - mới đây cũng bức xúc chia sẻ trên trang mạng cá nhân thông tin về hành trình gian nan để được xuất bản truyện tranh Long Thần Tướng. Khánh Dương trưng ra cụ thể ba khung hình trong Long Thần Tướng tập 1 để mọi người thấy “lưỡi kéo xét duyệt” truyện tranh ở ta hiện như thế nào.

Gian nan, nhưng nhiều tác phẩm vẫn còn may mắn hơn cuốn truyện tranh Truyện cực ngắn (Truyện trên trời) của họa sĩ Đào Quang Huy. Hơn một năm gõ cửa khắp nơi xin giấy phép và tác giả cũng mất sáu tháng để chỉnh lại những chi tiết trong truyện cho “vừa ý” các NXB, nhưng đến giờ truyện vẫn chưa tìm được cách nào để có thể ra mắt.

Dự án gây quỹ xuất bản cuốn truyện tranh này đã nhận được sự ủng hộ từ hơn 700 người - những độc giả đã đọc qua một nửa nội dung sách trên mạng, nhưng họa sĩ đang phải hoàn lại tiền bởi việc “chạy vạy” xin giấy phép xuất bản không thành.

Những lý do được các NXB từ chối cấp phép đưa ra hầu như đều giống nhau rằng nội dung truyện không phù hợp với thiếu nhi, “xuyên tạc”, “bóp méo” truyện cổ tích...

Chia sẻ với PV Tuổi Trẻ, họa sĩ Đào Quang Huy cho biết: “Tôi thấy kiểm duyệt xuất bản ở VN còn quá mù mờ, không có hạng mục quy định cụ thể và quyết định “sinh - sát” đầy cảm tính. Có phải đề tài “cổ tích” (nói chung) là gần nghĩa với “nhạy cảm”?...”.

Nói một cách không ngoa, trong tình hình xuất bản hiện nay những ai dấn thân vào lĩnh vực sáng tác/sản xuất truyện tranh cũng như húc đầu vào chỗ khó.

Ông Dương Thanh Hoài, phó giám đốc Công ty Nhã Nam, cho biết Nhã Nam hiện có đến mấy dự án truyện tranh, nhưng đang không triển khai được do lẽ chưa tìm thấy sự chia sẻ từ các NXB.

Cần có bảng giới hạn độ tuổi truyện tranh

Nguyên nhân của tình trạng khắt khe với truyện tranh như vậy, theo giới xuất bản, là bởi cái nhìn của những người biên tập và cấp phép xuất bản sách ở nước ta vẫn chưa thay đổi mấy. Trong khi truyện tranh hiện nay đã phát triển phục vụ cho cả người lớn, thì nhiều người vẫn còn giữ lối nghĩ truyện tranh là dành cho trẻ em.

Ông Dương Thanh Hoài cho biết phản xạ lâu nay của giới cấp phép xuất bản đối với truyện tranh vẫn là dè chừng các yếu tố thuần phong mỹ tục quy định tại Luật xuất bản. Trong khi như thế nào là “nóng”, là vi phạm thuần phong mỹ tục đến nay vẫn chưa được định lượng chính thức từ các cơ quan pháp lý về xuất bản.

Biên kịch Khánh Dương cũng cho rằng trong vụ việc Truyện cực ngắn chưa xin được giấy phép xuất bản là do biên tập viên không hiểu được sự hài hước của tác giả. Đồng thời, một nguyên nhân khác dẫn đến những câu chuyện trên là do ở VN đang tồn tại quan điểm “truyện tranh cho trẻ con”.

Khánh Dương đề xuất khẩn thiết: “Trước mắt, Cục Xuất bản, in và phát hành nên có một buổi trao đổi với đại diện những đơn vị làm truyện tranh ở VN, để đi đến việc “giải phóng” cho truyện tranh của người Việt bằng việc đưa ra bảng giới hạn độ tuổi”.

Bạn đọc Thanh Tùng (26 tuổi) cũng đồng tình rằng nếu chỉ quan niệm truyện tranh dành cho trẻ con thì thật là sai lầm. “Khác với truyện cổ tích, thế giới trong truyện tranh cần được hoạt hóa, được vẽ rộng mở nhưng có yếu tố hài hước, kết cấu chặt chẽ, nội dung phong phú và không dễ đoán mới tạo nên sức hút. Đọc truyện tranh cũng là để giải trí, có thêm yếu tố hài hước mới thật sự được giải trí”.

Độc giả Thư Đỗ (23 tuổi) cho biết dù đã đi làm nhưng phòng của chị vẫn đầy ắp tủ truyện tranh: “Truyện tranh VN hiện giờ vẫn còn quanh quẩn ở bước khởi đầu, các tình tiết còn khá đơn giản. Nhưng nếu để các họa sĩ tự do sáng tạo, khai phá nhiều khía cạnh thì không biết chừng có thể ngang tầm khu vực”.

Bên trọng bên khinh?

Dù “truyện nội” còn nhiều gian nan, nhìn vào thị trường truyện tranh ngoại nhập tại nước ta hiện nay thì những nét vẽ phóng khoáng, các lớp cảnh “thoáng” của truyện tranh độ tuổi 16+, 18+ đều được cấp phép dịch và phát hành trong nước.

Ông Nguyễn Thành Nam, phó giám đốc NXB Trẻ phụ trách mảng truyện tranh, cho biết những truyện tranh mua bản quyền từ nước ngoài thì không thể tùy tiện cắt bỏ nội dung hoặc tranh vẽ, nên NXB Trẻ chọn giải pháp “đóng mác” quy định độ tuổi cho từng dòng truyện.

Theo đó, truyện tranh có ba độ tuổi: thiếu nhi, thiếu niên, trưởng thành. “Đóng mác tuổi cho truyện tranh đang là một giải pháp để đưa các bộ truyện tranh dành cho người lớn ra thị trường.

Chẳng hạn vừa rồi NXB Trẻ có nhập một bộ truyện của Nhật và đóng mác 16+ nhưng sau đó Cục Xuất bản nhắc nhở, yêu cầu đóng mác 18+ thì mới được phát hành” - ông Nam cho biết.

Họa sĩ Vũ Đình Giang, phụ trách mảng truyện tranh của NXB Kim Đồng tại phía Nam, cho biết dòng truyện tranh kiếm hiệp các nước khi nhập về VN để dịch và xuất bản cũng phải đóng mác tuổi vì nội dung có nhiều nét vẽ thiên về bạo lực.

Chia sẻ với tình trạng “bên trọng bên khinh” giữa truyện tranh trong nước và truyện tranh ngoại nhập, ông Giang cho rằng hiện nay các khó khăn thường phát sinh ở khâu biên tập của các NXB, “chứ cách nhìn của Cục Xuất bản đã ít nhiều thông thoáng so với trước kia”.

L.ĐIỀN

LAM ĐIỀN - VŨ VIẾT TUÂN - Tuổi trẻ

Thượng Đế sinh ra con người còn nhà văn sáng tạo ra bản sao của Thượng Đế

Thượng Đế sinh ra con người còn nhà văn sáng tạo ra bản sao của Thượng Đế
Tham luận tại Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX tại Hà Nội

Các đại biểu tại Hội nghị viết văn trẻ lân thứ IX

Một cách nói khác như nhà văn Nguyễn Trọng Tạo: “Chính chúng ta, những người trực tiếp làm văn nghệ, cũng góp phần thắt chặt thêm sợi dây trói buộc bản thân mình”. Là ước mơ, mong muốn thực hiện một quyền năng tạo hóa ban tặng: “quyền sáng tạo”. Bất kỳ một văn nghệ sĩ nào khó có thể chối bỏ sự ban tặng ngọt ngào đó, thay vào đó là sự theo đuổi, phụng hiến bằng tất cả ước mơ, đam mê và sức lực chúng ta sở hữu. Với những người trẻ, sự chọn lựa con đường/ nghề nghiệp/ mơ ước táo bạo hơn và dĩ nhiên niềm hy vọng luôn được dành chỗ.

Trong tuổi trẻ ngắn ngủi của mình, Hàn Mặc Tử đã dựng nên một cõi thơ riêng mình, đọc thơ Hàn là chạm vào trăng rực rỡ, vào tình yêu đắm đăm và nỗi đắng cay vô thường. “Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng...”, ấy là cái “sướng” của thi nhân vậy Những bài thơ Hàn “hổn hển như lời của nước mây” xuất phát từ thái độ phụng hiến như tuyên ngôn: “Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình Yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến gần đứt cả Sự Sống”.

Và nếu như chúng ta làm thơ, chúng tôi thật sự tâm đắc một tràng bút diễn của Chế Lan Viên: “Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”.

Và đây, con phượng hoàng của thi ca Pháp và thế giới - Rimbaud chỉ thực sự đến với thơ trong vỏn vẹn ba năm từ năm 16 đến năm 19 tuổi với vài bài thơ đăng báo và một tập thơ duy nhất “Một mùa địa ngục” xuất bản để không bao giờ ra mắt người đọc trừ mấy ấn bản gửi cho bạn bè. Arthur Rimbaud (1854 - 1891) với tuổi đời ngắn ngủi, thời gian làm việc không mấy gì dài dẳng đã bao trùm cái bóng thi ca khổng lồ của mình gần một phần tư thế kỷ 19, suốt thế kỷ 20 và có lẽ cho tới tận hôm nay.

Rimbaud với tư cách một thi sĩ cách tân “Phải tuyệt đối hiện đại” và táo bạo “Hãy kính trọng kẻ bị nguyền rủa tột bực, tôi đã thét điều đó trên trái đất. Tất cả ham muốn thi ca đó để đạt “tới cái chưa biết” bằng sự “rối loạn lập luận mọi giác quan”. Thi sĩ phải biết khai thác những ảo giác, và phải bắt giác quan đi chệch ra ngoài những lối mòn rốt ráo để đạt được “cảnh giới”: “Triệt để phá lệ mọi cảm nhận”.

Qua những tấm gương điển hình trên, người viết trẻ chúng ta cần minh định thêm những vấn đề sau:

1. Luận về thái độ viết

Thái độ viết quyết định sự nghiệp của chúng ta, sự thành bại của tác phẩm. Các nhà khoa học đã chứng minh thái độ làm việc mới là yếu tố tiên quyết dẫn tới thành công trong công việc chứ không phải là sự thông minh. Thái độ của con người thành công là thái độ “nhận thức phát triển” (growth mind), là hành trang làm việc đích thực, tâm huyết đến cùng. Trong địa hạt văn chương, mọi thứ phụ thuộc vào thái độ của bạn chứ không phải năng khiếu của bạn để quyết định vị trí của bạn trong cuộc sống, trên văn đàn.

Chúng ta là những người viết trẻ, có những bạn ở đây đã thành danh, có sự nghiệp, thuơng hiệu; có những bạn viết đang chập chững vào nghề. Nhưng dù là ai đi chăng nữa chúng ta cần nhận thức rằng không thể có được những điều chúng ta muốn ngay lập tức, ví như bạn muốn rằng tên tuổi của bạn được mọi người biết đến, bạn là một nhà văn lớn trong tương lai. Hãy tin rằng, cứ tiếp tục hình dung giấc mơ của bạn, tin tưởng vào nó, sống như thể nó đã là của bạn thì chẳng bao lâu sau, trước khi bạn nhận thức được, sự nghiệp sẽ xuất hiện ngay trước mắt bạn. Thái Khắc Lễ nói về “Nội lực tự sinh” và chúng tôi nghĩ rằng hãy đánh thức nó, mở ra cánh cửa mới cho văn học. Nội lực sáng tạo quyết định hành trình sáng tạo.

Nhìn lại phong trào Thơ Mới, mà đặc biệt là Trường thơ loạn đã bộ lộ sự dấn thân của mình trong hành trình sáng tạo. Họ tạo ra một cuộc nổi loạn thi ca, xưng danh cái đẹp dưới góc nhìn của những thi sĩ theo một cảm quan mỹ học đặc sắc. Thái độ thơ của Hàn Mặc Tử kia chẳng phải là minh chứng cho vầng trăng siêu thực tỏa sang trên bầu trời thơ Việt đấy sao. Và Rimbault “Triệt để phá lệ mọi cảm nhận” đã vươn đôi cánh phượng hoàng, tỏa rạng những đốm lân tinh soi sang cho bao lớp thế hệ thơ trên khắp thế giới. Thái độ tận hiến ấy, dù ngắn ngủi nhưng đã huy hoàng chói rỡ.

Trên hành trình của mình, một bản đồ chỉ đường cho chúng ta cần phải lập ngay bây giờ, là chiến lược phát triển, chiến lược viết. Dù không hoàn thành tất cả mọi ước mơ, kế hoạch nhưng trong nỗ lực làm việc và khả năng cho phép của chúng ta, thì đó cũng là một thành công chấp nhận. Tuy nhiên, hành tranh của một nghiệp viết, không dừng lại ở ước mơ, chúng ta phải chuẩn bị cho mình những “bảo bối viết” cần thiết. Các nhà văn tiền bối đã chỉ cho chúng tôi kim chỉ nam của sự sáng tạo trong bốn chữ: “Đi – học  - đọc – Viết”. Đi khắp nơi, đi tất cả, đi nơi mình thích, đi lúc nào có thể đi, đi một mình, như Đại văn hào Voltaire: “Niềm hạnh phúc to lớn nhất của mọi cuộc đời là sự cô độc bận rộn” vì được đi. Trong số những bạn văn chúng tôi biết, Văn Thành Lê là một người chịu khó đi, hầu như có cơ hội anh đều tự “điền dã” đến những nơi danh lam, thắng cảnh, địa chỉ văn hóa để lấy tư liệu, cảm hứng, nguồn dữ liệu vô biên của sự viết. Học những gì có thể học, bất kỳ lĩnh vực nào, học các bạn trẻ, những nhà văn lớn, học những ai có thể học. Điều này nhiều bạn văn đã đi rất xa như Hoàng Công Danh, Vũ Văn Song Toàn, Trịnh Sơn, Nguyễn Thị Kim Hòa… Đọc gần đọc xa, đông tây kim cổ, trong nước, nước ngoài, văn học, ngoài văn học, đọc để kiến văn mở rộng, đọc sâu, đọc sát, đọc chuyên, đọc triệt. Đinh Phương, Phan Tuấn Anh… là những người mê sách, chơi sách mà chúng tôi biết và sự đọc của họ đáng để chúng ta học hỏi. Và cuối cùng mới là sự viết khi sự hoài thai đã đến độ viên mãng sau những hành trình trên. Nguyễn Kim Hòa là minh chứng cho sự đam mê viết, khó nhọc viết và những những thiệt thòi về sức khỏe không ngăn cản được chị. Nguyễn Văn Học, Văn Thành Lê, Meggie Phạm, Vũ Thị Huyền Trang… là những cây bút trẻ sức viết dồi dào. Sự tìm tòi lối viết, chúng ta còn có thể thấy trong những trang văn của Lê Minh Phong, Đinh Phương, Nhật Phi, Nhụy Nguyên, Trịnh Sơn… Nhiều bạn văn khác chứng minh thành quả trên giá sách, được các giới trẻ đón nhận nồng nhiệt như Anh Khang, Hamlet Trương, Hồng Sakura…

Thi sĩ giang hồ Nguyễn Bính dành hầu hết tuổi trẻ của mình cho sự đi, phiêu du góc bể chân trời để phục vụ cho sự viết. Gabriel J.G Márquez đã dành rất nhiều thời gian chuẩn bị cho nghiệp viết của mình qua hành trình di chuyển giữa hai châu lục Âu – Mỹ và cuối cùng lấy Mỹ La tinh làm nơi cứu rỗi cho “những điều huyền thoại đang bị nguội lạnh”. Nếu chúng ta ngồi một chỗ, chúng ta sẽ trở thành những biến thể văn nghệ salon. Nếu chúng ta không học, chúng ta sẽ trở thành con ếch trong cái giếng của chính mình. Nếu chúng ta không chịu đọc, sự hóa hoang sẽ đến rất nhanh với con chữ. Và việc Viết, là sự chuẩn bị tất cả những tốt nhất có thể của Đi – học  - đọc, là sự đối mặt can đảm với cô đơn sáng tạo và hành trình nhảy qua cái bóng của người khác và khó hơn là cái bóng của chính mình. Hãy “khơi những nguồn chưa ai khơi”, để tạo nên một dòng suối riêng cho mình.

2.  “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”

Chữ có linh hồn, chữ đầy quyền năng sống. Từ những trang viết, chúng ta hãy xác định văn cách là kim chỉ nam đầu tiên của sự viết. Chẳng phải Phạm Quỳnh đã nói “văn là người”, tâm bấn loạn làm sao chữ tròn đầy. Đại thi hào Nguyễn Du mở vế “thiện căn ở tại lòng ta”, lấy chữ thiện làm đầu của tâm, là dây cung nâng mũi tên sang tạo bay xa. Tâm phát xuất từ bản chất thuần lương vốn có của con người: “bản lai vô nhất vật” hay “nhân chi sơ tính bổn thiện”, không lí gì chúng ta lại đi trật đường ray của chân lí.  Con người là nhân lành của Trời Đất, thực hiện chi tiết sanh tồn mà tiến hóa. Gom gọn gọi là Tiểu vũ trụ, tiểu thiên địa. Gốc gác của ta là thanh tịnh. Tâm thanh tịnh, chữ sáng trong.

Với thơ, nhà thơ Pháp Paul Géraldy từng nói rằng: “Thơ ví như một vị thần, gồm hết cả những cái đẹp ở đời, đáng yêu đáng mến, người thơ phải ra sức mà phụng sự vị thần ấy cho thành tín”. Ở một cực độ của đam mê, thơ cần sự trung thành không mặc cả, sự thủy chung vẹn toàn với chữ, với tứ, với “ngôn chí” người thơ theo đuổi. Thơ đẩy con người đến độ mộng tưởng, phiêu diêu với thơ hóa thân mình trong cuộc bay không giới hạn. Ở một diễn đạt khác, thể tính thơ được ví như “Thơ là một thứ tôn giáo không có giáo chủ. Ở đấy các tín đồ của nó đều được mặc khải về sự bi hoan trần thế và năng lực sẻ chia những nỗi niềm thân phận” mà nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch từng lụy giải. Đó là cái tâm của thi sĩ vậy.

Con đường sáng tạo lắm chông gai và cũng đầy hương mật. Chữ nghĩa dễ làm con người ta si mê bao nhiêu thì “con quỷ” kiêu mạn lớn thêm bấy nhiêu. Chúng ta rất dễ bỏ rơi những đứa con tinh thần của mình, là hồn cốt, da thịt của chúng ta, thay vào đó là chạy theo những tấm thẻ màu mè, tạm bợ. Gốc sáng tạo được quyết định bởi độ trong trẻo của tâm. Mọi thứ đều do tâm tạo. “Tâm có thể là ảo tưởng, nhưng nó là sáng tạo - nó tạo ra mơ” khiến ta sai lạc. Đa phần tha nhân sống vì mơ, sống như mơ, mơ là thật, mơ sinh thơ. Con người là trung tâm thế giới, như sông bắt nguồn từ suối khe, gió bắt nguồn từ sự chuyển động của không khí, lá bắt nguồn từ cây… Tâm ta và thế giới chính là đối thể của nhau, thế giới này còn tồn tại chừng nào tâm ta chưa biến mất. Tâm trí tạo ra thế giới này và thế rồi thế giới lại tạo ra tâm trí. Những người viết trẻ chúng ta phải truyền tải thông điệp tích cực cho mọi người. Truy bản thể của Văn, nguyên nghĩa là vẻ đẹp, tại sao không lau của Tâm mình sạch bụi để cảm được giọt sương tinh khiết ban mai kia. Chẳng phải Nguyên Hồng đã từng khóc với những nhân vật của mình, Nam Cao đã sống chết với trang viết đầy ẩn ức của mình đó ư. Tài năng có thể giúp chúng ta vươn lên đỉnh thành công một cách nhanh chóng, nhưng nó không thực sự giúp người ta nhớ đến bạn cũng như giúp bạn giữ được thành công của mình bằng “văn cách” đạo đức của bạn.

3.  Hệ định tư tưởng, vượt thoát lề cũ

Những người trẻ, chúng ta phải sống cùng sức mạnh dẻo dai của mình trên trang viết. Việc hệ định lại những giá trị tư tưởng để chúng ta phụng hiến có thể là những quyết định lịch sử của chính chúng ta. Các thể tài văn học để có “sức công phá” lớn đều phải xây dựng, bồi đắp quanh mình hệ thống lý luận, hệ tư tưởng định hình cho phương pháp sáng tạo. Trong thời đại ngày nay, toàn cầu hoá là xu hướng chính của mọi nền văn chương trong thế kỷ 21. Chúng ta bằng mọi giá phải tiệm cận được những chuyển động,  thành tựu  của văn học thế giới và tìm một chỗ đứng tương xứng với thể tính dân tộc. Tạp chí Sông Hương những năm 80 thế kỉ trước từng xây dựng chủ trương về văn học của mình: “Cái cũ phải sâu sắc, cái mới phải mạnh mẽ và nhìn ra thế giới”, đó cũng là sự tiệm cận đến những giá trị sống, vận động của văn học.

Phải chăng từ cốt cách văn hóa, xuất phát điểm dân tộc và những nội lực khác chưa nhuần nhị để nhào nặn nên những tên tuổi “khổng lồ”. Chúng tôi quan tâm đến  việc xây dựng một “tự sự về đất nước” (narrative of the nation) dưới ánh sang văn học mà Stuart Hall và một số chuyên gia về văn hoá hậu thuộc địa nhìn thấy trong chủ nghĩa dân tộc. Đành rằng việc đào xới tất cả những câu chuyện, hình ảnh, phong cảnh, biến cố lịch sử, di tích và phong tục có khả năng tượng trưng cho sự đoàn kết dân tộc… đã, đang làm nên một cuộc tạo dựng thành công, quy mô về “tự sự về đất nước” và sẽ mở ra những chiều kích táo bạo, thănh hoa hơn nữa.

Những người viết trẻ chúng ta cần thiết góp mặt mình trong những “tự sự về đất nước” thay vì những mục đích nào khác. Chính chúng ta góp phần trưng dẫn và phát huy Việt tính trong dòng chảy Toàn cầu hóa. Sự tôi luyện đủ cứng cáp để diễn trình thứ “hiện thực thậm phồn” bằng tiếng Việt, mà chúng tôi nghĩ nó sẽ làm rạng danh cho xứ sở. Một thực tế rằng chủ nghĩa hiện thực không còn giữ địa vị của một khuynh hướng sáng tác chủ đạo. Chúng ta không thể đánh giá cao vẻ đẹp của một tác phẩm nếu chúng ta không chịu tìm kiếm cái gì khác bên trong nó và tại sao chúng ta chỉ giới hạn lại việc thấu hiểu một cảm giác hiện thực.

Nhà phê bình trẻ Đoàn Huyền đã nói về thực tế này “…quán tính và áp lực mạnh nhất của văn học Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại vẫn là ám ảnh về hiện thực và quán tính phản ánh hiện thực trên những khuôn nền cũ”. Và tác giả cũng chỉ ra thứ “tinh thần phản hiện thực - phản hiện thực truyền thống của văn học Việt Nam. Tinh thần phản hiện thực muốn tách rời khung hiện thực trước mắt và mở rộng “biên độ” của hiện thực được phản ánh. Đó cũng là lối đi mới cho văn chương mà những người viết trẻ chúng ta nên chú tâm. Những “khung cửa hẹp” khác đã mở ra và ngày càng rộng thêm, như thành tựu của dòng văn học hiện thực huyền ảo, văn học hậu hiện đại hay những kiểu lục bát cách tân, thơ Tân hình thức và vô số sự tự do khác trong văn học… đã cho chúng ta thấy sự tiếp biến, phát triển và là vận hội để bàn tiệc văn học thêm đa sắc màu.

Những người trẻ cần tự do, tự do sống, tự do suy nghĩ, tự do luận, tự do đi, tự do đọc, tự do học, tự do viết, tự do trong tất cả những thứ cần được tự do. Chẳng phải Albert Camus đã nói “Tự Do không là gì, nhưng là một cơ hội để trở nên tốt đẹp hơn”. Tuổi trẻ đang cho chúng ta cơ hội, chúng ta phải nắm chặt. Theo cảm quan riêng của chúng tôi, còn có thêm sự “tự do lạnh” cần thiết bổ sung cho những khoáng lượng tỉnh táo, riêng biệt của văn học. Mượn lời tác giả Linh Sơn – Cao Hành Kiện về nền văn chương lạnh, ở mức độ nào đấy, những người trẻ có thể vịn vào “Văn chương lạnh cần thoát ly để sống sót; nó là thứ văn chương từ chối bị bóp cổ bởi xã hội để tìm đến sự cứu rỗi tinh thần...”. Hẳn nhiên, các yếu tố tâm lí dân tộc – thời đại, hoàn cảnh lịch sử xã hội, thời tiết chính trị, những ham thích của các giá trị thị trường… ít nhiều tác động đến sự “tự do lạnh” ấy. Nếu một nền văn chương không có tự do đích thật, nền văn chương ấy sớm trở thành tiếng hót của loài chim nhại.

Tuổi trẻ rồi sẽ qua mau, tài hoa rồi cũng lụi tàn trước thời gian.  Nếu nghĩ rằng chúng ta không đủ rủng rỉnh thời gian để phụng sự văn học, chúng ta phải chạy đua với thời gian, với sự tỉnh táo của trí tuệ, sức khỏe dần mối mọt theo nhịp kim đồng hồ. Không gì đo được thời gian, nhưng thời gian đo được cuộc sống đang hiện hữu, đo được nghiệp viết chúng ta đang theo đuổi. Đại văn hào William Faulkner trong “Âm thanh và cuồng nộ” đã nói lên hết tất cả những gì con người không thể tri nhận được về thời gian qua một đoạn văn ngắn: “Này Quentin ạ, cha cho con đồng hồ này, cha cho con nấm mồ chôn hết tất cả hy vọng và tất cả ham muốn… con sẽ dùng đồng hồ này để qui hết tất cả kinh nghiệm loài người vào chỗ phi lý… tất cả nhu cầu của đời con sẽ không bao giờ được thỏa mãn, cũng như tất cả nhu cầu của những người chung quanh con, của cha con cũng thế. Cha cho con có cái đồng hồ này không phải để con nhớ đến thời giờ, mà để con có thể quên nó trong một khoảnh khắc để con đừng hì hục mệt nhọc cố gắng chinh phục nó.”

Con người bị động trước thời gian, không thể tự chủ để cưỡng đoạt những gì thời gian lấy đi. Chúng ta đừng bỏ phí thời gian cho những cuộc ngoài văn học, thay vào đó là sự dấn thân, phụng hiến cho văn học mới mong gặt một chút nắng trong bóng câu.

Nghiệp viết suy cho cùng là cái duyên phú, là sự phân công của xã hội để giữ lại hồn cốt, tâm lý, thể tính của thời đại chúng ta đang sống. Chúng ta may mắn sống trong hòa bình, nhiều cơ hội, thuận lợi được mở ra cho văn chương. Ngoài kia, “những chân trời không có người bay” vẫn đương chờ chúng ta gặt mây và hái nắng. Trong sự lang thang cùng con chữ, “tìm giới hạn” và “chỗ đứng một và chỉ một” của chúng ta khả dĩ “mua vui cũng được một vài trống canh” ấy là đã là vượt thoát khỏi vũ môn- cái tôi nhỏ bé của mình rồi.

Lê Vũ Trường Giang

(Nguồn: Tạp chí NV&TP)

HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ LẦN THỨ IX: Nhập cuộc, truyền thống, cách tân

HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ LẦN THỨ IX: Nhập cuộc, truyền thống, cách tân
TINH GỌN, THỐNG NHẤT ĐƯỢC NHỮNG VẤN ĐỀ CỐT LÕI CỦA THẾ HỆ

Trong hai ngày 28, 29 tháng 9, Hội nghị Đại biểu những người Viết văn Trẻ toàn quốc lần thứ IX đã diễn ra sôi nổi hào hứng với 120 tác giả tham dự.  Đến dự có nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Chủ tịch cùng các Phó chủ tịch, các Ủy viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam; ông Nguyễn Thế Kỷ - Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; ông Đào Duy Quát, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Phê bình VHNT TW cùng nhiều nhà văn lão thành.

Trong Diễn văn khai mạc, nhà thơ Hữu Thỉnh có một nhận định khiến cả hội nghị râm ran: “Ở bất cứ thời đại nào, cuộc sống cũng tìm cách sinh ra các nhà văn. Đó là trí khôn của lịch sử. Hội nghị đại biểu những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX là hình ảnh thu nhỏ của đội ngũ đông đảo các nhà văn trẻ đầy say mê, tự tin, tài năng đã tham gia vào đời sống văn học trong nhiều năm qua.” Diễn văn cũng kỳ vọng vào một thế hệ trẻ, mới và khác trên nền tảng tư tưởng“chưa từng có” mà nếu không ý thức rõ thì văn chương sự nghiệp chưa biết rồi sẽ vinh nhục thế nào: “Theo cách nhìn văn hoá học, cuộc sống mà chúng ta đã đang trải nghiệm mang một ý nghĩa đặc biệt đó là sự chưa từng có. Võ công oanh liệt đời nào cũng có và rất đáng tôn vinh. Nhưng xây dựng một đất nước công nghiệp, hiện đại nhịp bước cùng nhân loại thì đây là lần đầu tiên trong lịch sử. Nó sẽ làm thay đổi đến tận gốc rễ số phận của cả cộng đồng đến mỗi cá nhân, tạo nên một bước ngoặt lịch sử về trình độ phát triển và bậc thang giá trị. Cấu trúc xã hội, quan hệ con người, nguyên tắc ứng xử, cho đến nhịp sống, ham muốn, sở thích sẽ hoàn toàn thay đổi. Trong xã hội hiện đại, lý trí sẽ can thiệp rất sâu vào mọi lĩnh vực. Thêm vào đó khoa học, công nghệ trở thành lực lượng sản xuất quan trọng bậc nhất. Xu hướng lý tính hoá đã đẻ ra những đứa con vô cảm là có thật. Dưới tác động của ba đặc điểm của xã hội hiện đại là thị trường, dân chủ và vai trò của cá nhân, mọi khuôn thước sẽ bị tháo tung ra, mở đầu cho một cuộc trở dạ về văn hoá vô cùng nhọc nhằn và phức tạp.”

Báo cáo Đề dẫn Hội nghị của nhà văn Nguyễn Bình Phương, Ủy viên BCH, Trưởng ban Công tác Nhà văn trẻ cũng nhiều khái quát, đặc biệt là hình dung 3 điểm trong sự nghiệp văn chương trẻ qua hình tượng Thánh Gióng: 1: Sự vươn vai lớn mạnh không đợi đến tuổi già: “…tất cả các nhà văn lớn thoạt tiên cũng là những cây viết trẻ. Như vậy có nghĩa người viết trẻ nào cũng có thể trở thành nhà văn lớn.”  2: Sự nhập cuộc vào đời sống, tựa hẳn vào dân tộc vững chãi như Thánh Gióng ăn từng nong cơm cà của dân làng để tạo thành thế đứng trong xu thế hội nhập vào thế giới phẳng và 3: Trước khi thành anh hùng khổng lồ, Thánh Gióng có ba năm im lặng – các nhà văn hãy nên có những ba năm im lặng, những khoảng tĩnh lặng để suy tưởng như là một tiền đề của lớn lao.

Sự xuất hiện và bước lên diễn đàn của nhà thơ Phạm Phú Thang, đại biểu dự Hội nghị Viết văn trẻ lần đầu tiên năm 1959 khiến Hội nghị rất xúc động. Ông, như là hiện diện của dòng chảy văn học liên tục, âm thầm nhưng mãnh liệt của chúng ta; lúc đó ông mới 24 tuổi và hiện vẫn tiếp tục sáng tác với phương châm: “Mỗi ngày không viết một trang/ Thì tôi đã chết lâm sàng từ lâu”.

Nhà phê bình trẻ Nguyễn Thanh Tâm mở đầu tham luận với tên bài “Phác thảo văn trẻ” nêu những vấn đề định danh văn trẻ, sự nhập cuộc với đời sống, tự tin tạo nên diện mạo của văn chương đương đại. Nhà văn Văn Thành Lê (đại biểu tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) trình bày tham luận “Văn chương tôi đã bước vào và tôi đang thấy”. Nhà vănNông Quốc Lập (Cao Bằng) chia sẻ “Những khó khăn đối với người viết văn xuôi trẻ ở miền núi Cao Bằng trong đời sống hiện nay”. Nhà thơ Ngô Thị Thanh Vân (đại biểu tỉnh Gia Lai, sinh năm 1980), tham dự Hội nghị lần thứ 3 với tham luận “Văn học trẻ Tây Nguyên – dòng chảy chậm”, chị nhận xét: Chất Tây Nguyên đang nhạt dần trong sáng tác của người viết trẻ ở vùng đất này. Đa số người viết trẻ ở Tây Nguyên không phải người dân tộc thiểu số, điều này khiến cho những trang viết về phong tục, tập quán, đặc tính của người bản địa không sâu sắc. Nhà phê bình Thy Lan (Thanh Hóa) đọc tham luận: “Lý luận phê bình văn học trẻ - một vài cảm nhận”.

Nhà văn Chu Lai – Chủ tịch Hội đồng văn xuôi hùng hồn phát biểu: “Sáng tạo, sáng tạo, đổ máu vì sáng tạo. Hãy luôn tỉnh táo khi nhảy xuống biển văn chương; tập sống cô đơn, nhà văn chỉ có thể sáng tạo trong nỗi cô đơn thẳm sâu; cuộc đua văn chương là cuộc đua khắc nghiệt nhất trong các cuộc đua của loài người. Hãy yêu thương con người đến tận cùng, yêu thương đàn bà đến rớm máu. Chấp nhận luật bù trừ: nói nhiều sẽ viết ít, sắc sảo ngoài đời thì văn chương thường ngu ngơ.”

Nhà thơ Vũ Quần Phương với bài viết “Ôn chuyện cũ”, nhắc đến giai đoạn các nhà văn “lột xác” để thay đổi điệu tâm hồn của mình. Chẩn đoán bệnh “buồn” của thơ Mới là không sai nhưng chưa chuẩn, đó là sự lột xác. Phải biết tìm ra mình mới biết rùng mình. Sự lột xác hay tìm ra mình là bài học cho các bạn viết trẻ ngày hôm nay.

Nhà văn Lê Thành Nghị có “Mấy lời tâm sự với người viết trẻ”...

Buổi chiều ngày 28 – 9, các nhà văn trẻ thăm Bảo tàng Văn học Việt Nam.

Đã hẳn, muốn cho các thế hệ trẻ học hỏi ông cha là mục đích của những người lập nên Bảo tàng và cũng là một nội dung Hội nghị của Ban tổ chức; điều đáng nói ở chỗ nó thật sự có ý nghĩa đối với hành trang của các nhà văn trẻ. Chưa phải là tất cả, nhưng có thể nói, những kết tinh từ nguồn năng lượng sáng tạo 10 thế kỷ lưu giữ ký ức của dân tộc ở đây vừa nuôi dưỡng cảm xúc vừa xác định hướng đi và đích đến của họ. Bảo tàng hiện có 4 tầng, mỗi tầng đều có không gian hiện thực của văn hóa xã hội – đó chính là cái nôi, là tã lót và bầu sữa của thời văn chương. Bảo tàng được xây trên những cột trụ vạm vỡ, đủ sức cơi nới cho nhiều thế hệ nhà văn trong tương lai cũng như bổ sung những khuyết thiếu từng thời, vùng, miền. Vả lại, Bảo tàng không chỉ là nơi chưng cất, mà còn là nơi chưng cất không ngừng. Cùng với thời gian, Bảo tàng Văn học Việt Nam lắng lọc lại, hoán đổi vị trí cùng các thứ bậc giá trị văn chương.

Hình như mỗi nhà văn trẻ đều vang vọng một câu hỏi: Mình sẽ ở đâu trong ngôi nhà này? Một trăm năm nữa, ai còn ở lại cùng vua Trần Nhân Tông, các cụ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du?

Một câu hỏi rất đỗi tích cực! Thuật đến đây, tôi sực nhớ bài thơ Lữ Huy Nguyên:

Maia trên bàn từng nghe

Những câu thơ tôi vụng dại

Ức Trai trên tường nhìn tôi như hỏi

Sự nghiệp văn chương sự nghiệp làm người?

Cuối buổi chiều, Hội nghị có cuộc Giao lưu với báo Nhân dân. Tổng biên tập báo, ông Thuận Hữu (Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam) đã giới thiệu các ấn phẩm để mời viết bài, cảm ơn các nhà văn đã từng cộng tác, có những bài góp làm nên thương hiệu về giá trị văn hóa của bản báo. Và thật bất ngờ, các nhà thơ nhà báo đã đàn hát, đã đọc thơ cho nhau nghe. Đêm thơ – đã trở thành đặc sản truyền thống của Hội nghị Viết văn trẻ tại đảo hồ Thiền Quang hôm ấy hóa ra bắt đầu tại 71 Hàng Trống. Tình người thân thiện, giào giạt, đắm say. Thực ra, đến độ tinh hoa, văn hóa và chính trị đã không còn ranh giới.

Đó quả thật là một bắt đầu tốt đẹp cho Dạ hội thơ trẻ mang tên “Bản hòa tấu tháng Chín” diễn ra ngay sau đó như một điểm nhấn đẳng cấp của Hội nghị IX.

Buổi sáng 29 – 9 Hội nghị chia làm hai diễn đàn thảo luận sâu về văn và thơ.

VĂN TRẺ: NHẬP CUỘC VÀ SÁNG TẠO

Diễn đàn này do Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Trí Huân chủ trì cùng các nhà văn Phong Điệp và Nguyễn Xuân Thủy. Nhiều ý kiến đồng cảm với Đề dẫn của nhà văn Nguyễn Bình Phương:“Một đặc điểm sáng tác rất cần được nhắc tới, đó là thái độ nhập cuộc có ý thức trách nhiệm của người viết trẻ với thời tiết chính trị và xã hội. Hầu như văn trẻ có mặt trong tất cả những sự kiện, những biến động của đất nước. Những nhà văn trẻ đã có mặt ở Trường Sa, đã lên biên giới, đã lặn lội vào các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để chứng kiến, trải nghiệm và phản ánh hiện thực. Kết quả là một số lượng dồi dào các tác phẩm đã ra đời, được độc giả mọi tầng lớp đón nhận và có tác động không nhỏ tới đời sống tinh thần xã hội. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra vô số vấn đề về kinh tế, về đạo đức, về văn hóa, thậm chí là về cả lý tưởng. Hơn bao giờ hết, xã hội cần những tác phẩm đề cập một cách ráo riết, kiệt cùng tới số phận con người, cũng như cần những cắt nghĩa, những cảnh báo…”

Cần coi ghi nhận trên đây của Trưởng ban Nhà văn trẻ là một bước tiến mới của thế hệ các nhà văn trẻ 5 năm qua. Văn trẻ không còn “Thêu thùa cho cá nhân thì khéo và đẹp mà may vá cho xã hội cộng đồng thì thô vụng” như nhận định chính xác của nhà thơ Hữu Thỉnh tại Hội nghị VIII.

Nhà văn trẻ Nguyễn Văn Học nhấn mạnh: “Cuộc sống đang đặt lên vai chúng ta trách nhiệm, đòi hỏi chúng ta phải nghĩ khác và sống khác, phải có những hy sinh cá nhân cho mục tiêu chung. Tôi không cổ vũ những sáng tác xa rời hiện thực cuộc sống đang diễn biến vô cùng mau lẹ, phức tạp và đầy ngổn ngang. Tôi không cổ vũ những sáng tác mang quá nhiều yếu tố thị trường, với những tình cảm sướt mướt, ủy mị.”

Nhà phê bình trẻ Ngô Hương Giang nói: “Nhập cuộc tức là tham gia cuộc chơi, cuộc đối thoại văn hóa - một sự nhập cuộc mang tính thời đại, tính thế hệ. Muốn nhập cuộc sâu rộng thì buộc anh phải nhận thức một cách đầy đủ nhất bản chất của nó, phải nhập cuộc với tâm thế hoàn toàn chủ động, và đặc biệt là anh phải phát huy, khẳng định được cá tính, bản sắc của mình. Văn trẻ những năm gần đây tuy xuất hiện nhiều nhưng có vẻ nhạt nhòa, ít cá tính”.

Nhà phê bình trẻ Nguyễn Nhật Huy và dịch giả trẻ Nguyễn Thị Minh Thương gặp nhau ở nhận xét lịch sử văn học thường phát triển về phía nó thiếu hụt. Sau một thời gian dài do có chiến tranh, văn học với vai trò “tải đạo”; nay thời bình, nó nghiêng về phía “mua vui.” Bộ phận văn học này phải được đặt bình đẳng trên mặt sân các giá trị trong đời sống văn học nói chung. Chúng tôi tưởng cần làm rõ khái niệm “bình đẳng”, đạt đến Truyện Kiều  thì “mua vui” và “tải đạo” đã không còn ranh giới; nhưng các quan hệ văn học cần tôn trọng sự “mua vui” thì đúng rồi. Trong tham luận của mình, Nguyễn Thị Minh Thương quan chú đến mảng văn học mạng, “âm bản”, như là sự “trồi lên” từ các tường bao đã đâu vào đấy cả của văn học dương bản truyền thống. Cần thấy ở đời sống văn học mạng tính sôi động, sinh thành, hồn nhiên cũng như các giá trị của nó. Ghi nhận và lắng lọc như một giá trị lớn, bổ sung, làm đầy một thực thể văn chương thời đại.

Lê Vũ Trường Giang: Tuổi trẻ phải đi, không thể tự đào giếng và tự biến mình thành ếch. Thượng đế sáng tạo ra con người còn chúng ta sáng tạo ra thế giới, ra các nhân vật của mình. Cót cách dân tộc, tự hào Việt và làm rạng danh xứ sở. Văn học cần lạnh trước thị trường, chúng ta hâm nóng thị trường chứ đừng để nó mua chuộc.

Chu Thùy Anh, một tiến sĩ Vật lý nói mình từng đọc các tác phẩm văn chương nước ngoài, thấy văn trẻ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung có không ít tác phẩm không thua kém gì về chất lượng, chiều kích so với mặt bằng văn chương bên ngoài, có điều có thể do không lợi thế về mặt ngôn ngữ nên chưa được nhiều bạn bè thế giới biết đến mà thôi. Có lẽ nên tìm ngôn ngữ thích hợp cho văn Việt chứ nó đã hội nhập là câu chuyện không phải bàn cãi.

Nhật Phi: Quyền năng của văn chương, có đấy, nhưng bây giờ không phải thời của nó. Tâm trạng yếm thế sẵn có của nhà văn, chúng ta không thể làm gì được, chỉ với 1000 bản sách. Nhưng vui vẻ thôi, đời mà.

Trần Quỳnh Nga: Văn Hà Tĩnh như đang già đi. Hội nghị 9 có tôi, nhưng 5 năm sau thì không biết chắc sẽ còn ai nữa? Hội VHNT Hà Tĩnh năm nào cũng tổ chức bồi dưỡng lớp văn hè cho các cháu học sinh giỏi văn, nhưng có vẻ như đất của quê cụ Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ đã ngừng “phát”?

Nguyễn Thị Kim Hòa: Ninh Thuận là nơi có rất nhiều cái đáng viết, may là ít người viết nên em có thể viết nhiều.

Hữu Thỉnh: Đêm qua tôi đọc tập truyện ngắn của Chu Thùy Anh, tôi thao thức không ngủ được, thao thức trong giàn nhạc cụ của những con chữ tạo ra âm thanh không âm thanh. Văn hay là thế, nó tạo nên vang vọng, làm huyên náo tâm hồn. So với thơ, tôi thích văn trẻ hơn. Tôi cũng tán thành với đề dẫn của các bạn, tri thức không quan trọng bằng trí tưởng tượng. Văn xuôi trẻ đang đúng đường. Có ý kiến văn trẻ còn thưa thớt, xin nói ngay, số lượng văn học không nói lên điều gì ghê lắm, xin hãy viết một truyện Kiều thôi vậy.  Quy luật lượng chất trong văn học hổ vờn bóng và hổ vác một tạ trên lưng. Để vờn được bóng, con hổ đổ ra một năng lượng lớn gấp nhiều lần so với việc vác một tạ.

Hồ Ngọc Đại: Anh Thỉnh nói văn phải có tư tưởng, đúng vậy. Tôi đọc 48 tác phẩm của Marx, nhận ra một tư tưởng vĩ đại trong luận điểm “mua ngang giá bán ngang giá, làm sao có lãi?” Ở chỗ này Marx khẳng định lao động làm ra lãi, lao động là hạt nhân của lịch sử phát triển. Đó là tư tưởng vĩ đại của Marx. Văn là đi bằng tư tưởng, không đi bằng đôi chân thịt.

Hữu Thỉnh: Nhân anh Hồ Ngọc Đại nói về lao động, xin dẫn câu cách ngôn của Tagore: “Văn học là thặng dư của tính người.”

Hoàng Công Danh: Tôi làm vật lý (tiến sỹ) văn học đối với tôi là tay ngang. Hôm nay tôi đến để thỉnh giáo các bạn về kinh nghiệm viết văn và tạo nên cho riêng mình một phong cách?

Văn Chinh: Bạn Hoàng Công Danh, bạn chả việc gì mà hỏi ai giúp bạn phong cách, bạn nói bạn đã đọc cuộc tranh luận giữa Phật tử Ricar Mattheu với TS NASA Trịnh Xuân Thuận, Phật và Vật lý chẻ đến cùng vạn vật thì đều đến hạt, từ hạt nhân ấy sinh sôi ra vạn vật, vạn phong cách khác nhau, kinh nghiệm làm nên cái bèo không thể giúp làm nên con cá. Xin hãy cứ đi đến cùng kiệt con người thì đến được văn chương. Sáng qua tôi nghe bạn Nông Quốc Lập nói về sự ghẻ lạnh của xã hội bây giờ với văn chương, tôi lại vừa nghe Nhật Phi thì thào về sự bất lực trước ghẻ lạnh ấy. Đó là câu hỏi lớn, làm thế nào mà cô hoa hồng bé nhỏ với 4 cái gai lại có thể chống đỡ với cái lạnh ghê rợn ấy? Một câu hỏi lớn cho hết thảy nhà văn, chúng ta cứ đi thôi.

Khép lại buổi tọa đàm, nhà văn Nguyễn Trí Huân phát biểu: Nhập cuộc là một khái niệm mở. Ngày xưa, nhập cuộc có thể là đi chiến trường, là đi “ba cùng” với nhân dân qua mỗi bước thăng trầm của lịch sử; ngày nay, nhập cuộc, với những người viết văn, là sống hết mình với dân tộc, với văn chương chữ nghĩa. Tôi rất thích thuật ngữ của một đại biểu: Văn học trải nhận, có lẽ chúng ta cần làm rõ thêm về khái niệm này ở một Hội nghị khác…

THƠ TRẺ: TRUYỀN THỐNG VÀ CÁCH TÂN

Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều chủ trì Diễn đàn cùng nhà thơ Nguyễn Thụy Anh và Nguyễn Quang Hưng.

Lê Hưng Tiến (Ninh Thuận) bày tỏ nỗi trăn trở thường trực của anh trong suốt quá trình sáng tác: Mới là bản chất của sáng tạo, tôi luôn mong có nhiều tác phẩm mới đi cùng thời đại, chảy chung với dòng chảy văn học, trào lưu sáng tác mới. Các nhà trường nên có nhiều tiết học ngoại khóa, tự chọn về văn học cho học sinh các cấp để tác phẩm của người viết hiện nay đến gần hơn với người đọc trẻ. Nhà thơ có cần tìm hiểu, va chạm với lí luận không?...

Nguyễn Trọng Tạo: Sự xuất hiện của thơ ca như nhu cầu của tâm hồn. Nhà thơ như người kể chuyện tâm hồn cho nhiều người nghe. Thơ phải có tình (cảm), có tính (cách) và có tài. Tài là trời cho nhưng cũng phải rèn luyện. Nói về truyền thống và cách tân, trường hợp Nguyễn Du là một ví dụ, ông lấy thơ lục bát của dân gian để làm nên kiệt tác của mình. Khởi đầu là bắt chước và sau đó bằng tài năng thì mỗi nhà thơ tạo ra cái của  mình. Cách tân vẫn là câu chuyện sáng tạo. Đối với các giá trị, càng bị dìm xuống lại càng nổi lên. Trẻ là giới hạn tuổi tác nhưng sức sáng tạo mới là điều quan trọng. Trong sáng tạo làm sao cho gần gũi với cuộc đời thì thơ mới đi được vào rất nhiều trái tim. Dù tân hình thức hay hậu hiện đại thì chúng ta vẫn luôn hướng tới sự sáng tạo.

Phan Tuấn Anh (Thừa Thiên – Huế) phát biểu với tư cách một người vừa sáng tác thơ vừa làm công tác nghiên cứu lí luận phê bình (LLPB): “Hình như thơ của chúng ta đang dần dần được đẩy từ vị trí trung tâm ra ngoại biên. Người làm thơ hiện nay rất nhiều nhưng sách bán trên thị trường hầu như rất ít, có lẽ vì tính giải trí của thơ thua văn xuôi. Thời đại của giải trí lên ngôi thì thơ lại càng ít thu hút. Thơ và lí luận phê bình ngày càng xa nhau, những người làm LLPB ít quan tâm đến tác phẩm của người cùng trang lứa, lí do là ít đọc sách của nhau, nếu có đọc thì chủ yếu là do quan hệ cá nhân (được gửi tặng sách). Điều này tạo ra hệ lụy không tốt. Thời gian vừa qua các nhà thơ trẻ được phát hiện bởi các nhà thơ lớp trước chứ không phải người cùng thế hệ. Để LLPB và thơ xích lại gần nhau thì người làm thơ trẻ cần nâng cao tính lí thuyết và tầm tư tưởng trong thơ của mình; các nhà LLPB trẻ cần quan tâm nhiều hơn đến bạn viết thế hệ mình; các cơ quan báo chí cần có những chuyên trang cho LLPB, tạo sân chơi cho nhiều người nghiên cứu văn học; có cuộc thi cho LLPB để khích lệ những người làm nghiên cứu.

Hồ Huy Sơn: Hội nghị là cơ hội để người viết trẻ gặp gỡ và chia sẻ với bạn bè. Điều tôi quan tâm là những người viết trẻ có sống được để viết hay không? Chúng ta đưa thơ đến công chúng như thế nào? Tôi muốn lắng nghe các nhà thơ thế hệ trước có kinh nghiệm quảng bá thơ đến người đọc rộng rãi như thế nào?”

Nguyễn Đức Mậu: Thế hệ chúng tôi đã có những tập thơ in đến 25.000 bản. Đến nay tôi vẫn được các nhà xuất bản ưu ái nhưng sang năm tới chắc sẽ phải chuẩn bị tiền để tự in thơ. Dường như mỗi nhà thơ đều có một định nghĩa về thơ, dường như mọi định nghĩa về thơ đều khập khiễng...

Lương Đình Khoa (Hà Nội) nói về kinh nghiệm đưa thơ đến với công chúng của chính mình: “Một mình nhà thơ không thể tự làm nên sự thay đổi cho thơ một lối đi huy hoàng hơn mà cần có sự “hợp lực” của nhiều phía: người đọc, người làm công tác giảng dạy văn học, các hội VHNT... Đưa thơ sang một dạng thể hiện khác (trình diễn, phổ nhạc, chuyển sang video...) để thơ đến gần với công chúng hơn. Mỗi nhà thơ nên học cách làm truyền thông cho tác phẩm của chính mình để tạo sức hút với các nhà đầu tư.

Đặng Thiên Sơn nêu ý kiến về vấn đề sáng tác và tác quyền: “Làm thế nào để mang thơ đến công chúng? Một vài ý kiến của người làm xuất bản: có những lí do khiến thơ không đến được với bạn đọc, luật tác quyền đang luẩn quẩn, chồng chéo; nhuận bút thấp; báo chí, truyền thông PR cho thơ chưa thực sự công bằng; các trung tâm, cơ quan chuyên về bản quyền đã làm hết chức năng của mình để bảo vệ tác phẩm chưa? Trước hết người sáng tác phải làm tốt việc bảo vệ tác phẩm của mình. Mỗi tác giả trẻ phải ý thức được công việc tác quyền thì mới mong có sự thay đổi về xuất bản, phát hành và nhuận bút.”

Ngô Gia Thiên An (học sinh lớp 12): “Trong chương trình học không có tác giả đương đại mà chỉ có các tác phẩm thời kì văn học trung đại, thời kì 1930 – 1945, sau đổi mới cho đến những năm 1990, còn lại các thầy cô không nhắc đến giai đoạn văn học sau này mặc dù rất nhiều nhà văn nhà thơ viết mới và hay. Đây là một sự thiếu tôn trọng đối với văn học và những người đang sáng tác. Tôi biết mình cần phải tự sửa đổi bản thân để ngoài việc học ở trường còn tiếp thu thêm nhiều sáng tác mới của văn học đương đại.

Lương Kim Phương (Hải Phòng) chia sẻ cách đưa văn chương đến với học sinh: “Sách giáo khoa ngữ văn trong trường THPT hiện nay phần cập nhật về văn học đương đại mới đưa đến Ma Văn Kháng, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Minh Châu, Lê Minh Khuê... Chỉ khi học đến cao học thì mới được các thầy cô đưa dòng chảy văn học đương đại đến với học viên. Các giáo viên chỉ đưa đến học sinh những giá trị văn học đã được định hình. Nỗi lo giới hạn “giáo làng” khi làm thơ khiến tôi ngập ngừng. Sự cách tân hay truyền thống nào cũng dựa trên cảm xúc của nhà thơ.

Hà Thị Vinh Tâm (giáo viên cấp 3 ở Nghệ An) đưa ra một số giải pháp giảng dạy văn học đương đại (thơ) trong trường phổ thông: hội VHNT địa phương tổ chức trình diễn thơ để các nhà thơ đương đại đến với các em nhiều hơn. Để thơ trẻ đến với bạn đọc cũng như các nhà LLPB trẻ thì các nhà thơ chia sẻ với các nhà LLPB; người sáng tác nên có độ trầm tĩnh, độ lắng nhất định khi đưa ra đứa con tinh thần của mình; các cơ quan báo chí, xuất bản nên tổ chức các cuộc thi dành cho LLPB.

Anh Ngọc: Muốn làm thơ hay hơn thì phải làm thế nào? Bài thơ là cách phát biểu tốt nhất của nhà thơ. Tôi tôn trọng hoàn toàn sự sáng tạo của các bạn, nhưng cần phải đối diện với một sự thật là các bạn trẻ hiện nay ít người đọc lắm vì các bạn đều tồn tại trên các thực từ ngữ nghĩa. Ông đọc bài thơ “Buổi chiều nhân thế” – một bài thơ nói về nỗi cô đơn để chứng minh cho sự truyền thống và cách tân.

Trần Đăng Khoa bình bài “Buổi chiều nhân thế” của Anh Ngọc một cách hóm hỉnh: “Đây là nỗi bất lực của người già chứ không phải nỗi cô đơn...”

Trương Trọng Nghĩa: Lập website Thơ trẻ để vinh danh, có cuộc thi thơ online, mới chỉ là một danh xưng, chưa là thương hiệu. Thơ trẻ chưa thuyết phục công chúng. Các nhà thơ phải trả lời câu hỏi, độc giả mua thơ của anh thì họ được cái gì. Ai cũng có thể làm thơ, Xuân Diệu có thời cả nước đọc thơ, bây giờ chỉ có nhà thơ đọc thơ.

Đoàn Văn Mật: Các người trẻ đang lảng tránh, chỉ có các nhà thơ đi trước nói về thơ. Tôi muốn được nghe người đi trước cũng như các bạn trẻ nói về việc đang làm thơ như thế nào?

Khúc Hồng Thiện: In thơ bằng tiền của mình cũng là một cái hay, tự tin. Công tác truyền thông có nhiều mặt của nó, quá sa đà vào mặt nào đó, những tác phẩm sẽ bị nhạt nhòa đi, xóa mờ thật giả. Hôm qua Nông Quốc Lập có nói một câu đau xót, với số đông hiện giờ: Nhà thơ tán gái, nhà văn nói láo. Vấn đề nhà thơ với cuộc đời, cuộc đời với nhà thơ. Nó là một nghề bình thường, sáng tác là góc riêng.

Nguyễn Việt Chiến: Những bài thơ hay muôn đời vẫn là điều bí ẩn của sáng tạo. Nhà thơ phải hội đủ: kiến văn sâu rộng, tài năng đích thực, phẩm chất thi sĩ mới có được những bài thơ hay. Bài thơ hay sẽ vượt lên trên tất cả những yếu tố truyền thống hay cách tân. Làm thế nào để người đọc vừa thấy được tác phẩm vừa nhớ được tác giả.

Nguyễn Quang Thiều: Hôm nay các nhà thơ lớn tuổi phát biểu mạnh mẽ và chân thực nhưng các nhà thơ trẻ thì lại rụt rè và lưỡng lự mặc dù tác phẩm của các bạn luôn mới mẻ, tự do, thậm chí liều lĩnh... Câu chuyện mà các bạn kể với người khác (bằng thơ hay văn xuôi) chỉ có thể lan tỏa khi nó chứa đựng đầy tính nhân văn. Nhiệm vụ của thi sĩ là làm cho đời sống sinh sôi và đầy hi vọng. Nếu nhà thơ rời bỏ lòng nhân ái lớn lao thì thơ ca chấm dứt và nhân loại sẽ không còn tồn tại. Thơ cũng cần sự khác biệt. Ở Mỹ, một tờ báo bình chọn một nhà thơ tiêu biểu trong năm và khi lặp lại, bạn đọc cho rằng như thế thơ đã chết? Thơ đã chết khi sự khác biệt không còn!

Hữu Thỉnh: Khi nào mệt mỏi, hạ cánh xuống cánh đồng văn xuôi. Những con mãnh sư và những con đại bang thường đi một mình. Chúng ta làm mọi việc cần để những con đại bàng bay lên trời xanh, đủ sức đi một mình. Văn xuôi là tạc những tượng đài trên cát; thơ tạc tượng đài trên đá kim cương; gần danh ngôn châm ngôn. Vì vậy thơ nhọc nhằn. Đọc thơ là thưởng thức tâm hồn, làm nảy nở tâm hồn. Thơ trẻ đang bung phá, là lực lượng tìm kiếm mạnh mẽ nhất của văn học. Cách tân thời nào cũng khởi từ thơ, hồi đầu thế kỷ XX, Thơ Mới rồi mới đến Văn xuôi Tự lực. Chống Pháp cũng thơ trước văn sau. Thơ tiên phong của mọi nền văn học. Thơ trẻ đang nghiêng về cách tân, đó là ddieeeuf dễ hiểu và đáng mừng. Nhưng Xuân Diệu nói, đừng chê chúng tôi cổ, chúng tôi cổ để trở thành cổ điển. Anh Chiến nói hay, mọi hiện đại đều trở thành cổ điển, nếu hay. Nguyễn Quang Thiều nói rất đúng: Toàn bộ văn học tạo nên giá trị bổ sung, không phải để thay thế. Lê Thành Nghị cũng đúng khi nhấn mạnh không cần chỉ 1 Nguyễn Du, nhiều giá trị khác nhau. Mỗi người hãy vét cạn cá nhân để tạo nên giá trị bổ sung. Thơ không cần những giá trị giống nhau. Giữa trang này với trang khác trong tuyển thơ Bản hòa tấu tháng chín là những chân trời khác nhau. Hội nghị không phát hiện một bài thơ, mà phát hiện một tác giả thơ.

Nguyễn Quang Thiều: Các bạn rời khán phòng này, có thể bỏ lại nhiều thứ, nhưng nhất thiết các bạn phải mang theo lời nhắn nhủ mà lớp cha anh kỳ vọng ở các bạn là làm ra giá trị mới để bổ sung, đầy hơn, nâng cơi kích thước thơ Việt.

Viết về dù chỉ 1 căn phòng, nhưng phải lan tỏa. Nhà thơ Ba Lan Nobel văn học Wislawa Szymborska có bài thơ Tháp đôi, câu kết là những người chết đang bay; không viết câu cuối cùng nói về các thân thể dập nát; sinh ra từ lòng nhân ái bao la, đầy hy vọng. Thơ lan tỏa chậm như từng cánh hoa nở trong bầu trời nhân ái.

Lê Văn Đồng (Bình Định, nói ở hành lang): Các nhà thơ già thì băn khoăn làm thế nào để thơ cách tân mà vẫn truyền thống còn các nhà thơ trẻ thì hỏi làm thế nào để bán thơ và để nổi tiếng nhanh?

Tường thuật của PV NV&TP và Phong Lan

(Nguồn: Tạp chí NV&TP)

Trang 3 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1029
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519067

20 146
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 500 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: