Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Văn trẻ - "ồn ào và lặng lẽ"...

Đến hẹn lại lên, hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc do Ban Nhà văn trẻ - Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức 5 năm một lần lại sắp sửa diễn ra tại Hà Nội. Đây thực sự là một ngày hội được các cây bút trẻ trên mọi miền đất nước đón đợi với tâm thế hứng khởi, háo hức.

Văn trẻ mùa này vắng những ồn ào

Những người viết văn trẻ, đúng như danh xưng của họ, nhiều táo bạo, dũng cảm trong tìm tòi, thể nghiệm, quyết liệt trong “đi tìm mặt” nhưng cũng nhiều “nổi loạn”, và cả không ít “phá bĩnh”. Lấy Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ VII tổ chức tại Hội An năm 2006 để so chiếu chẳng hạn, thì Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ IX sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào đầu quý IV năm 2016 này đội ngũ đại biểu tham dự chắc hẳn sẽ “hiền lành” hơn về cá tính, “trầm lặng” hơn về tiếng tăm. Hội nghị VII quy tụ những gương mặt “đình đám” (có trường hợp được bồi trợ thêm bởi những “sự vụ”, yếu tố ngoài văn chương) như Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận, Đỗ Hoàng Diệu vớiBóng đè, Đỗ Bích Thúy với Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Vi Thùy Linh với KhátĐồng tử, Phan Huyền Thư với Nằm nghiêngRỗng ngực, Ly Hoàng Ly với Lô lô, Nguyễn Vĩnh Tiến với thơ - nhạc, rồi các tên tuổi xuất thân từ các hội bút nức tiếng trước đó như Hương đầu mùa trên báo Hoa học trò, Vòm me xanh trên báo Mực tím, rồi nhóm Ngựa Trời với Dự báo phi thời tiết bừng bừng tinh thần “nổi loạn”… Đành rằng, người đọc đủ tỉnh táo, thông minh để nhận diện đâu là văn chương đích thực, và thời gian đủ sức, đủ nhanh để thải loại những gì là phi/phản văn chương, tuy nhiên, thiết nghĩ, một ít “ồn ào” đôi khi cũng có tác dụng khuấy động đời sống văn học, thu hút nhiều hơn sự chú ý của công chúng về phía văn chương, khi mà các loại hình giải trí nghe nhìn đang bành trướng không gian văn hóa đương đại. Những hiện tượng có khả năng gây tạo chú ý theo kiểu này kiểu kia như thơ của nhóm Mở Miệng, tiểu thuyết dịch Xin lỗi, em chỉ là con đĩ của Trang Hạ, tiểu thuyết tự truyện Người tình New York của Hà Kin, tiểu thuyếtSợi xích của Lê Kiều Như, tập thơ Anh ngủ thêm đi anh/ Em phải dậy lấy chồng của Nồng Nàn Phố… thời gian này đột nhiên đi vắng, chưa “tái xuất”. Văn học mạng, sau kỳ cao trào với nhiều ồn ào thì lúc này đang đi vào thoái trào, trầm lắng.

Một ít ồn ào nếu có trong không gian văn trẻ hiện nay là thuộc về dòng văn học của các tác giả còn rất trẻ như Anh Khang, Hamlet Trương, Phan Ý Yên… với nhiều ấn phẩm có số lượng phát hành từ vài chục ngàn đến hàng trăm ngàn bản. Người thì cho đây là “văn học thị trường”, “văn học thời trang” chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí nhất thời, chỉ là sản phẩm “cận văn học”, người thì bảo những ấn phẩm ấy phải có cái gì, phải như thế nào hơn thế thì mới được giới trẻ đón nhận như thế, chứ có phải cứ muốn là được đâu…

Như vậy, nhìn một cách tổng quan, có thể nói, hiếm khi văn trẻ lại chuyển động trong một mùa có vẻ bình lặng như mùa đang diễn ra này.

“Lặng lẽ viết là cách thể hiện ồn ào nhất”

Phát biểu này của nhà văn trẻ Văn Thành Lê xem ra không chỉ đúng với riêng trường hợp của anh mà còn đúng với cả một thế hệ văn chương mới, thế hệ  8x, 9x - những cây bút được định danh là “trẻ”, xét về độ tuổi.

Về văn xuôi, đó là Nguyễn Thị Kim Hòa (Ninh Thuận) - quán quân cuộc thi truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội2013-2014, giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học thiếu nhi 2013-2015 thuộc Dự án Hỗ trợ văn học thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch do Nxb Kim Đồng phối hợp với Hội Nhà văn Đan Mạch tổ chức, đã xuất bản 6 đầu sách, mà gần đây đáng chú ý là tập truyện ngắn Đỉnh khói; là Nhật Phi (Hà Nội) - quán quân cuộc thi Văn học tuổi 20 lần V (2014) với truyện dài Người ngủ thuê. Ngoài ra là Đinh Phương, Dương Giao Linh (Quảng Ninh), Lê Minh Nhựt (Cà Mau), Cao Nguyệt Nguyên, Linh Lê, Lý A Kiều, Nguyễn Văn Toan, Nguyệt Chu, Hương Thị, Chu Thùy Anh, Dương Hằng, Nguyễn Văn Học (Hà Nội), An Khang, Hamlet Trương, Phan Ý Yên, Hồng Sakura, Tiểu Quyên, Văn Thành Lê, Vũ Văn Song Toàn, Lưu Quang Minh (Tp. Hồ Chí Minh), Nhụy Nguyên, Lê Minh Phong, Lê Vũ Trường Giang, Meggie Phạm (Huế), Trác Diễm (Quảng Bình), Chu Thị Minh Huệ (Hà Giang), Kiều Duy Khánh (Sơn La), Chu Thanh Hương, Nguyễn Luân (Lạng Sơn), Vũ Thị Huyền Trang (Phú Thọ), Hoàng Công Danh (Quảng Trị), Trần Quỳnh Nga (Hà Tĩnh), Trịnh Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nông Quốc Lập (Cao Bằng)… - những cây bút giàu nội lực, đang dần định hình phong cách, nhiều người trong số này cũng đã được vinh danh tại những cuộc so tài văn chương danh giá, sang trọng.

Có một nghịch lý khá thú vị là, những người viết văn trẻ đang thực hành nghề nghiệp trong thời đại được định danh là thời của fastfood, cái đọc, cái viết theo đó cũng hướng đến tiêu chí nhanh và tiện, nhưng hiện tại, những cây bút truyện ngắn đã thành danh như Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Đình Tú, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Phan Hồn Nhiên… thì rẽ sang hướng tiểu thuyết, những cây bút truyện ngắn mới nổi lên như Tống Ngọc Hân, Đinh Phương… cũng nhanh chóng bập vào tiểu thuyết, những tác giả rất trẻ như Meggie Phạm, Trác Diễm… thì chọn trình làng những tác phẩm đầu tay cũng là tiểu thuyết. Phải chăng, vì những cái viết ngắn đến lượt lại không đủ thỏa mãn bộ phận người đọc tinh hoa muốn được phiêu lưu dài hơi trong sự đọc, sự nghĩ, sự thưởng ngoạn thẩm mĩ? Hay vì những người viết văn trẻ muốn tìm đến tiểu thuyết để vừa thử sức, vừa bung trỗ, khẳng định sức vóc văn chương của chính mình?

Về lý luận - phê bình, văn đàn đang chứng kiến sự trình hiện ấn tượng của một lực lượng phê bình trẻ đông-và-mạnh (chứ không phải mỏng-và-yếu như một mặc định cửa miệng của những người quan liêu không đọc, không quan sát, chỉ biết hoặc phán bừa, hoặc nói theo người khác). Có thể nói được rằng, văn chương đang đi vào thời của phê bình trẻ, bởi vài năm trở lại đây, giới chuyên môn nói riêng, người yêu văn chương nói chung thích thú trước sức trỗi dậy của ý thức và trình độ phê bình khi những công trình phê bình của các tác giả trẻ liên tục được công bố. Đó là Đoàn Ánh Dương với Không gian văn học đương đại, Đoàn Minh Tâm với Văn học trẻ như tôi hình dungVăn chương nhìn từ Nhà số 4, Nguyễn Thanh Tâm và Ngô Hương Giang với Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác, Nguyễn Thanh Tâm với Loại hình Thơ mới Việt Nam (1932-1945), Ngô Hương Giang với Chân lý và hư cấu, Nguyễn Mạnh Tiến với Những đỉnh núi du camột lối tìm về cá tính H'mông, Phan Tuấn Anh với Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại, Hoàng Cẩm Giang với Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI - cấu trúc và khuynh hướng, Nguyễn Đức Toàn với Văn xuôi Việt Nam đương đại - hiện tượng và bút pháp… Ngoài ra là những tiếng nói phê bình trẻ khác đang dần khẳng định năng lực chuyên môn, uy tín nghề nghiệp như Trần Ngọc Hiếu, Mai Anh Tuấn, Trần Thiện Khanh, Đỗ Thị Hường (Hà Nội), Trần Việt Phương (Hòa Bình), Nguyễn Nhật Huy (Thái Nguyên), Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Thuấn, Thái Phan Vàng Anh (Huế), Nguyễn Văn Huy (Đà Nẵng), Hồ Tấn Nguyên Minh (Phú Yên), Hoàng Phong Tuấn, Hồ Khánh Vân (Tp. Hồ Chí Minh)… Họ là những người được đào tạo bài bản, đa phần đã nhận học vị tiến sĩ văn học.

Về dịch thuật, đó là những gương mặt ấn tượng đủ cơ sở để giới chuyên môn cũng như bạn đọc nói chung tin tưởng vào một “phiên đổi gác” dịch thuật sắp sửa, như Nham Hoa, Minh Thương, Cao Việt Dũng, Thiên Thai, Nguyễn Huy Hoàng, Trần Ngọc Hiếu, Thiên Lương, Lê Nguyên Long, Nguyễn Đào Nguyên, Phạm Phương Chi, Trần Trọng Dương, Trần Quang Đức, Trần Nhật Mỹ, Lê Nguyễn Lê, Hoàng Anh, Đoàn Hương Giang, Hoàng Phương Thúy, Ngô Hà Thu, Lương Việt Dũng (Hà Nội), Nguyễn Vũ Hưng, Hoàng Phong Tuấn, Hoàng Long (Tp. Hồ Chí Minh)…

Về thơ, mặc dù trầm lắng hơn nhưng cũng không khó để điểm danh những cây bút đang làm nên diện mạo của thơ trẻ như Phạm Vân Anh, Lữ Thị Mai, Đoàn Văn Mật, Nguyễn Quang Hưng, Lý Hữu Lương, Đào Quốc Minh, Nguyễn Thị Kim Nhung, Du Nguyên, Lương Đình Khoa, Viễn Hải (Hà Nội), Nguyễn Phong Việt, Trần Võ Thành Văn, Từ Hồng Sơn, Kai Hoàng (Tp. Hồ Chí Minh), Nguyễn Minh Cường (Bắc Ninh), Phạm Văn Vũ (Thái Nguyên), Ngô Thị Thanh Vân, Lê Vi Thủy (Gia Lai), Lương Kim Phương, Trần Ngọc Mỹ (Hải Phòng), Nguyễn Hồng (Nghệ An), Hoàng Chiến Thắng, Phùng Thị Hương Ly (Bắc Kạn), Hoàng Anh Tuấn (Lào Cai), Võ Mạnh Hảo (Long An), Lê Hòa (Lâm Đồng), Nguyễn Đức Phú Thọ, Lê Quang Trạng (An Giang), Ngô Thị Thục Trang (Quảng Nam), Kiều Mai Ly (Ninh Thuận)… Họ đang điềm tĩnh đi giữa lằn ranh của truyền thống và hiện đại. Họ biết lắng lọc để chỉ học hỏi, tiếp thu những yếu tố tích cực nơi những thực hành cách tân thơ nhiều khi ồn ào, thái quá của những người đi trước.

Hãy cùng tin tưởng và hy vọng

Đành rằng không có hội nghị Những người viết văn trẻ thì những cây bút trẻ vẫn cứ viết theo đam mê, bằng nội lực của riêng mình. Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò, khả năng “tạo cú hích”, “tiếp lửa” đối với những người viết văn trẻ của 8 kì hội nghị đã lần lượt diễn ra. Không nên đặt quá nhiều kì vọng vào những “thể loại” hội nghị hội thảo, nhưng chắc hẳn hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX sẽ là không gian tinh thần rộng mở cho những người viết văn trẻ cả nước quy tụ, gặp gỡ, giao lưu, là dịp để điểm danh, biểu dương lực lượng, xốc lại đội ngũ, là cơ hội để cùng nhìn lại và nhìn về phía trước. Mong rằng tại đây, các cây bút trẻ mạnh dạn cất lên tiếng nói của họ, khát vọng của họ về văn chương, cuộc sống và con người.

Không chiến thuật, chiêu trò gây “sốc”, từ chối những chủ ý gây tạo ồn ào bên ngoài trang viết, những người viết văn trẻ đang lặng lẽ cần mẫn gieo cấy trên cánh đồng chữ nghĩa. Với sự lựa chọn tâm thế văn chương này, văn trẻ đang đi những bước điềm tĩnh nhưng chắc chắn, không vấp váp, sa ngã, không chệch đường, lạc đường. Đây là cơ sở để chúng ta tin tưởng và hy vọng vào một mùa văn chương mới.

Hoàng Đăng Khoa - Vanvn.net

Nhật ký người sưu tầm trăng

Nhật ký người sưu tầm trăng

1.
Có một dạo, Y rất năng đi lễ nhà thờ, mặc dù như lời hắn nói thì hắn và gia đình không hề theo đạo. Mỗi sáng chủ nhật, Y dậy sớm, ăn mặc chải chuốt và đạp xe lên nhà thờ Phủ Cam. Nhìn Y không có vẻ gì bỡn cợt hay báng bổ như thói quen của hắn. Tôi thắc mắc lắm, đôi lần hỏi dọ, tôi đoán là hắn quen em gái nào đó theo đạo, nhưng Y lắc đầu rất nghiêm túc.

- Không hề.

- Vậy thì tại sao?

- Có nói mày cũng không hiểu đâu. Mày cứ yên tâm lo cuộc đời của mày đi, đừng chõ mũi vào cuộc đời kẻ khác.

Y nhìn tôi, rít thuốc, lên giọng trịch thượng. Tôi chỉ muốn đấm một cái cho vỡ toác cái vẻ kẻ cả đó.
- Hay là mày định cải đạo? À, mà mày có theo đạo nào đâu. Cái thứ như mày, chả Chúa hay Phật hay Thánh Allah nào dung được.

Tôi cay cú trả đũa. Y cười nhạt.
- Cái này mày nói đúng. Nhưng, Z ạ, mày có một nhầm lẫn rất lớn. Tao cho rằng cái sự nhầm lẫn của mày đáng để trao giải Nobel đấy.

- Gì? Tôi nổi khùng.
Y vẫn vẻ khinh khỉnh, tiếp tục rít thuốc. Mùi thuốc lá Khánh Hội, thứ thuốc rẻ tiền dành cho người lao động và lũ sinh viên nghèo xộc vào mũi  khiến tôi càng thêm cáu.

- Chúa hay Phật hay Allah… Allah hay Aladin? À, Allah. Z ạ, cả ba tên ấy chẳng cứu chuộc được bất kì ai đâu.

- Mày đứng có báng bổ.

- Không, tao hoàn toàn nghiêm túc đấy. Xin mày, Z ạ, mày cũng lớn rồi, tập suy nghĩ cho nó nghiêm túc đi, đừng hùa theo lịch sử và đám đông xuẩn ngốc. Không ai có thể cứu chuộc cuộc đời kẻ khác. Cái điều đơn giản ấy rất nhiều người hiểu. Nhưng cũng có vô số kẻ không hiểu hoặc khiến người khác không hiểu, từ đó đẻ ra tôn giáo và những câu chuyện vừa nghiêm trọng vừa trẻ con vừa rẻ tiền của kinh sách.

Tôi không muốn sa vào cuộc tranh luận này. Mỗi lần tranh luận với Y, tôi luôn đuối lí, mặc dù biết nó đang tung ra những lí lẽ hết sức mơ hồ và hắc ám.

- Vậy thì bình thường mày tụng kinh Kim Cang và cả chuyện đi lễ nhà thờ nữa, để làm gì?

- Ừm, khó nói nhỉ. Đối với tao, nó cũng như một món thể dục tinh thần thôi. Không có gì ghê gớm cả. Mày đừng nghĩ tao sùng đạo, tội nghiệp tao.

Y nhìn tôi chế giễu. Có lẽ lúc đó hắn mới thấy tôi đang nổi cáu nên hắn xuống nước:
- Đùa thế thôi. Đi café nào.

2.
Y và tôi trọ trong một ngõ hẻm trên đường Điện Biên Phủ. Đầu con hẻm có một ngôi chùa. Thường ngày đi qua, mỗi buổi sớm, có một nữ tu rất trẻ hay quét sân. Thế nào tôi cũng phải liếc qua người ấy.
Đẹp và buồn.

3.
- Không hiểu sao mỗi khi đi lễ nhà thờ, tao thấy mình đàng hoàng hơn. Tao nói thật đấy. Tao không tin chuyện Mẹ Maria đẻ ra Jesus mà vẫn còn trinh, cũng không tin cái chuyện ông ta phục sinh và vô khối chuyện hoang đường khác. Nhưng mỗi khi vào đó, cảm nhận đầy đủ cái không khí nghiêm cẩn của thánh đường, tao cảm giác mình sạch sẽ hơn. Mày cũng nên đi một lần cho biết.

Minh họa: Thành Chương


Tôi nhìn Y nghi hoặc.
- Mày không ăn bánh thánh đó chớ?

- Không. Cái này mày yên tâm. Tao sợ đau bụng lắm. Mày biết mà, dạ dày tao rất yếu.

Cuối cùng, vào một buổi sáng chủ nhật đầu tháng tư, tôi theo Y đi lễ nhà thờ. Buổi sáng sớm, Huế sạch và yên tĩnh như thiền đường. Những cánh bằng lăng rụng sau cơn giông đêm qua trải lên mặt đường một nỗi buồn tím ngát. Tôi ngồi sau xe đạp, không hiểu mình làm cái quái gì mà phải đi nhà thờ.

Buổi lễ đó cũng chả khiến tôi ấn tượng mấy, kể cả bài thánh ca trong trẻo mà tôi nghe chả hiểu được gì. Nhưng có một cái được, thậm chí rất được, là tôi đã quen một người, trong buổi lễ ấy.
Đó là chú Dịu.

Hai thằng tôi ngồi ở dãy ghế cuối cùng, vì sẽ ít người để ý đến hai kẻ ngoại đạo, cứ câm như thóc khi mọi người xung quanh đang đọc thuộc lòng những câu kinh, câu nguyện. Một lát sau thì chú vào. Nhẹ nhàng và thành kính. Ngồi ngay cạnh tôi. Tôi có một cảm giác rất lạ lùng. Cứ như đang ngồi bên một mặt hồ mênh mông mát lạnh.
Sau buổi lễ, đang đứng chờ Y dắt xe ra thì chú đến bên cạnh tôi:
- Lần đầu cháu đi lễ hả?

Giọng Huế nhẹ bẫng.
Tôi cười.

- Chú là Dịu.

- Dạ, cháu là Z.

- Z?

Tôi lại cười.
Thấy Y đã dắt xe ra, tôi chào:
- Cháu về chú nhé.

Chú Dịu cười gật đầu, rồi hỏi với theo:
- Khi nào rảnh gặp chú nhé. Cháu đã sưu tầm trăng chưa?

4.
- Sưu tầm trăng à?

Y ngớ người nhìn tôi khi tôi kể lại việc chú Dịu bắt chuyện.

- Ừ.

Y lắc đầu quầy quậy.

- Tao nghi lắm. Dạo này rất nhiều kẻ có vấn đề về giới tính. Tao nghi lắm. Mà thằng cha đó thẩm mĩ kém thật, mày có gì để thích? Con gái thấy mày cũng ngán, thằng cha đó thích gì ở mày?

Tôi không nói gì. Bình thường thế nào tôi cũng cự lại mấy câu khiêu khích đó của Y, nhưng hôm nay thì không. Cái chuyện sưu tầm trăng mà chú Dịu nói khiến tôi nghĩ mãi.

Sưu tầm trăng. Là sao? Mà tại sao lại là tôi?

Việc gặp gỡ và câu hỏi của chú Dịu khiến tôi có cảm giác như mình được lựa chọn để tham gia vào một câu chuyện lạ lùng nào đó, mà dù muốn hay không thì tôi cũng không thể chối từ.

Sáng chủ nhật kế tiếp, tôi lại cùng Y đi lễ. Chủ yếu là để gặp lại chú Dịu, và giải quyết mớ bòng bong trong tôi về chuyện sưu tầm trăng. Nhưng hôm đó chú Dịu không đến nhà thờ.

Lần thứ ba tôi đi lễ, chú Dịu vẫn vắng mặt. Cứ như một trò trêu ngươi. Lần thứ tư, lần thứ năm cũng thế. Mất nguyên cả một tháng trời, chú Dịu vẫn bặt tăm, như bốc hơi khỏi Huế.

Cho đến một chiều thứ sáu, khi tôi ở giảng đường về đến nhà trọ, thì thấy chú Dịu đang ngồi trước hiên nhà. Chú cười:
- Tối nay Z rảnh không?

Tôi ngơ ngác nhìn, chưa kịp hỏi vì sao chú biết nơi tôi trọ, thì chú đã nói tiếp:
- Đi sưu tầm trăng.

Hôm đó là ngày rằm.

5.
Chú Dịu ở trong một xóm nhỏ bên sông Ngự Hà. Nhà cửa thưa thớt. Xung quanh còn lau lách um tùm. Căn nhà thấp lè tè, tối om. Khi chú Dịu bật điện, tôi nhìn lên bàn thờ. Một tấm hình phụ nữ trẻ đẹp.

- Đó là vợ chú.

- Dạ. Cô bệnh gì mà mất sớm vậy chú.

- Không bệnh. Cô chết đuối.

Tôi im lặng. Chuyện này không nên nói nữa. Nhưng chú Dịu vẫn tiếp:
- Cô mất mấy tháng sau khi cưới. Chưa kịp có con. Hôm đó rằm. Cô đòi chú lấy thuyền chở cô đi ngắm trăng. Chú ngồi đầu này chèo, cô ngồi mũi thuyền ngắm trăng. Cứ nhẩn nha chèo đến khuya. Đêm đó trăng thanh lắm. Gió rười rượi. Đến khuya thì chú neo thuyền lại giữa dòng, nằm ra ngắm trăng. Cô vẫn ngồi ở mũi thuyền. Hát. Cô hát hay lắm. Đang hát thì cô dừng lại.

- Anh ơi.

- Gì em?

- Trăng rơi kìa.

Chú ừ hử. Thi thoảng cô vẫn vậy, rất trẻ con.

- Em vớt trăng nhé. Thấy rơi thương quá.

Chú cười.

- Anh nằm một tí rồi về nhé. Khuya rồi.

Không nghe cô nói gì, chú làm thinh, nhìn trăng.

- Em à.

Vẫn không nghe cô nói gì.

- Em?

Chú ngồi dậy. Cô không còn trên thuyền nữa. Chú kêu cứu rồi nhảy xuống dòng. Một lát sau mấy thuyền nữa bơi ra, mấy thanh niên cùng xuống lặn. Nhưng cả đêm đó không tìm thấy. Sáng hôm sau người ta vớt được cô ở cửa sông Đông Ba.

Chú Dịu ngồi lặng nhìn ảnh vợ. Tôi không biết nói gì. Một cảm giác khó chịu tràn ngập cơ thể.

- Rồi từ đó…

- Chú sưu tầm trăng?

- Ừ.

- Ở đâu? Làm thế nào mà sưu tầm được?

- Mọi nơi. Rồi cháu sẽ thấy.

6.
Cơm tối xong, chú Dịu bảo tôi lên thuyền. Chú cứ thả đò xuôi lững thững dòng Ngự Hà. Tôi ngồi trên đò, uống trà đến khàn cả giọng mà vẫn không thấy chú đả động gì đến việc sưu tầm trăng. Tôi ngờ mình bị lừa. Có khi chú bị bệnh hoang tưởng cũng nên. Cuối cùng, sốt ruột quá, tôi lên tiếng:
- Chú…

Không để tôi kịp nói, chú Dịu tỏ dấu im lặng, rồi bảo:
- Đến lúc rồi.

Chú nhìn chăm chăm xuống đáy sông, rồi cầm một cái lọ, nhảy ùm xuống. Tôi hoảng đến mức ngồi thừ cả ra. Một lát sau, chú Dịu lóp ngóp ngoi lên, cười lấp lánh:
- Được rồi.

Chú trèo lên, đưa cái lọ cho tôi xem. Thật kì lạ, tôi sởn cả gai ốc, không tin vào mắt mình: bên trong lọ nước là một mảnh ánh sáng dập dềnh.
- Gì vậy chú?

- Trăng đó. Hai tháng rồi mới sưu tầm được.

Chú Dịu nhìn tôi tỏ vẻ thích thú.
- Cháu tin rồi chứ?

Rồi hai chú cháu chèo thuyền về. Đến nhà, chú Dịu dẫn tôi ra sau hè, có một ao nước. Chú đổ lọ nước sông xuống ao. Trước ánh mắt dò hỏi của tôi, chú bảo:
- Phải sưu tầm rất lâu mới đủ một vầng trăng. Đến giờ chú mới được bảy mảnh.

Tôi nhìn mãi xuống ao, ngoài mặt nước đang phản chiếu vầng trăng trên trời, chả thấy thêm được gì.
- Giờ cháu chưa thấy được đâu. Chỉ khi nào sưu tầm kha khá mới thành hình, cũng như trăng trên trời vậy mà. Thôi, vào nhà.

Chú Dịu đi thay đồ, rồi soạn rượu và thức nhắm ra ngoài sân. Hai chú cháu ngồi dưới thứ ánh sáng huyễn hoặc của vầng trăng khuya. Một con chó ở đâu sủa ma ăng ẳng. Một cánh chim bay qua thảng thốt.

- Làm sao chú có thể vớt ánh sáng của trăng được?

Tôi phá tan im lặng. Nói như thế có đúng không nhỉ? Vớt ánh sáng của trăng, nghe cứ như chuyện trẻ con.

- Chú không biết. Nhưng nó có từ sau ngày giỗ đầu của cô. Đêm đó mơ thấy cô, cô bảo anh đi vớt trăng giùm em, thấy trăng rơi, thương lắm.

- Có ai biết chuyện này không?
- Không. Cháu là người duy nhất.

- Nhưng tại sao lại là cháu?
- Chú cũng không hiểu. Nhưng chú đoan chắc là sau này chú phải nhờ cháu giải quyết tất cả những chuyện này.
- Giải quyết? Tất cả?

- Ừ. Thôi uống đi. Giờ còn quá sớm để nói về mọi chuyện. Dần dà cháu sẽ rõ.

Đêm đó về phòng trọ, tôi không tài nào chợp mắt được. Thằng Y thấy vậy, bảo tôi:
- Ngủ đi. Đời còn nhiều thứ kì lạ lắm. Mày mà cứ như thế thì sao sống được hả con?

Tôi chẳng thèm đôi co với hắn, vẫn nằm thừ nhìn trần nhà. Hình ảnh lọ nước đựng ánh trăng chập chờn ma mị.

Y thở dài:
- Mày đã nhúng vào chuyện đó thì sau này chính mày phải giải quyết. Ngủ đi, đừng suy nghĩ nữa.

Tôi định hỏi Y hắn nói vậy có ý gì, nhưng rồi lại lười, không muốn nói. Giấc ngủ đêm ấy như con thuyền trên sóng, cứ chòng chành mãi.

7.
Người nữ tu đó vẫn vậy, sáng nào cũng lặng lẽ ra quét sân chùa, như không hề biết đến việc tôi luôn nhìn nàng.
Tim tôi thắt lại mỗi lần như thế. Y không nói gì, chỉ thở dài.

8.
Cạnh phòng trọ của tôi và Y là phòng của một cậu sinh viên Đại học Khoa học, tên Khôi. Cao ráo, trắng trẻo, đẹp kiểu thư sinh, ăn nói từ tốn. Ở chung dãy trọ, cùng nhậu nhẹt chơi nhởi thành ra thân. Khôi là người xứ đạo ở Nghệ An, nghe Khôi nói là cậu đã được xứ đạo quy hoạch là cha xứ, học xong đại học sẽ đi học thần học thánh học gì đó. Tôi nghe rất ngạc nhiên, tôn giáo cũng có chuyện quy hoạch à? Khôi bảo em được chọn từ nhỏ, gia đình, xứ đạo và nhà thờ giáo xứ đều kì vọng. Vì vậy ngay từ khi biết cảm xúc trước con gái, Khôi phải luôn tiết chế tình cảm, tuyệt đối không có mối quan hệ nào với con gái mà để ảnh hưởng tới chuyện quy hoạch đó. Tôi cười:
- Vậy là kính Chúa thì không được yêu con gái à?

Khôi cười hiền từ:
- Chỉ những người như em thôi.

Tôi ừ. Tự hỏi vì sao mình nói một câu có vẻ cay nghiệt như vậy.
- Vậy đến giờ Khôi vẫn không có bạn gái?

Tôi không tin vào điều này. Một gã trai như Khôi, con gái không rung động thì một là không có trái tim, hai là đồng tính. Khôi cười hiền lành:
- Em có. Học cùng lớp. Đồng hương.

Rồi Khôi im lặng lúc lâu:
- Em không biết phải làm sao, anh ạ. Chọn theo Chúa hay chọn theo mình? Nàng thương em lắm. Nếu tụi em chia tay, em nghĩ nàng sẽ không sống được nữa.

Một bữa trăng sáng, Y đạp xe đi đâu không rõ, Khôi qua phòng gọi tôi:
- Anh Z ơi, nhậu nhé. Em mới nhận tiền nhà.

Hai anh em trải chiếu ra ngồi trước sân dãy phòng trọ. Xóm đêm yên ắng lạ. Câu chuyện vẫn xoay quanh đạo Chúa và chuyện quy hoạch của Khôi. Tôi muốn hỏi nhiều vì không biết lắm về cái đạo lớn nhất nhì nước này. Cho đến giờ, tôi vẫn nhớ như in câu nói của Khôi đêm đó:
- Đạo của Chúa cũng như mặt trăng, khi mờ khi tỏ, khi khuyết khi tròn, khi vằng vặc giữa trời, khi bị bóng mây bóng mưa làm chìm khuất. Nhưng em biết đạo của Chúa luôn có, luôn ở đó.

9.
Đó cũng là dạo Y vẽ một loạt tranh bằng bút chì, kiểu như một thử nghiệm cho giai đoạn mới của hắn. Những bức tranh nhỏ trên giấy khổ A4, đủ đề tài, được đóng lại thành tập hoặc vứt lung tung cả phòng hoặc bị vứt vào sọt rác. Rất nhiều bức không hiểu ý tứ của hắn là gì, thậm chí tôi còn cho rằng Y bị tẩu hỏa nhập ma, cách nói sang chảnh của từ “điên”. Bức vẽ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đeo headphone, khuôn mặt cau có. Bức vẽ một vị thánh Thiên Chúa giáo vật tay với Bồ Đề Đạt Ma, hai vị mồ hôi đầm đìa. Bức vẽ một ông tăng cởi trần mặc quần đùi, nằm ngoáy lỗ mũi, khuôn mặt lim dim thỏa mãn. Bức vẽ một loạt nữ tu khỏa thân chạy trên bờ sông, thả diều. Đại khái là không nuốt trôi những bức tranh báng bổ đó. Đặc biệt có một bức làm tôi lạnh cả người, Y đặt tên hẳn hoi, theo tên một cuốn tiểu thuyết: Khiêu vũ giữa bầy sói. Cũng là tranh chì trên giấy khổ A4. Bối cảnh là một gian phòng lớn, đông nghịt người, nhìn vào là thấy rất nhiều người tu hành. Họ đứng quây thành một vòng tròn, phía ngoài, trên những chiếc ghế cao, nhiều kẻ tò mò trèo lên nhìn vào vòng tròn ấy, vỗ tay hoặc reo hò. Bên trong vòng tròn, một con chó sói cụp đuôi, cong lưng, đầu gằm xuống đất.

Tôi hỏi, Y nhìn vẻ ngơ ngác.

- Sao?

- Mày không nên vẽ như thế.

Y nhìn tôi như thể sinh vật lạ.

- Tao không hiểu ý mày.

- Thì những bức tranh tôn giáo đó, mày đừng vẽ như thế nữa, mang tội lắm, Y ạ.

- Ơ, thằng này hay nhỉ. Mày ấm đầu à. Tôn giáo nào?

- Thì Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, vị thánh Thiên Chúa, Bồ Đề Đạt Ma… Không phải tôn giáo thì là gì?
Y cười phá lên:
- Ra thế.

Rồi hắn châm thuốc, nói trong hơi khói:
- Ai bảo mày đó là Quán Thế Âm Bồ Tát, vị thánh Thiên Chúa, Bồ Đề Đạt Ma…? Tất cả chỉ là những đường nét bút chì của tao, tạo ra những hình dạng bất kì. Tao có ghi tên cho hình dạng nào đâu?

- Nhưng nhìn thì ai cũng biết.

- Mày nhầm. Bảo đảm tranh của tao khi đưa cho một thổ dân da đỏ thì họ sẽ thấy không vấn đề gì. Còn mày, và những kẻ đầu óc chứa đầy kiến thức hỗn tạp như mày, sẽ thấy tranh có vấn đề.

Tôi muốn cãi, Y cắt lời:
- Z ạ, chúng ta nhìn thế giới theo cách chúng ta nghĩ, như cách chúng ta muốn. Thực ra không phải thể. Tao không vẽ về tôn giáo, chỉ do mày nhạy cảm với vấn đề đó nên mày suy luận ra vậy. Ai bảo với mày đó là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hay Bồ Đề Đạt Ma hay… Mày gặp họ rồi à?

Tôi đuối lí.

- Mày chỉ phóng tác hình ảnh của họ trong tâm trí mày khi mày đọc các sách tôn giáo. Chẳng ai chứng minh được các vị đó hình dạng như thế. Mày không nhớ câu nói của thằng cha triết gia nào đó à, nếu con vật biết vẽ thì chúa của nó chắc cũng sẽ là loài vật đó.

Tôi không biết nói gì, đành quay qua vặn bức cuối:
- Thế còn Khiêu vũ giữa bầy sói, rõ ràng…

Không để tôi nói tiếp, Y cắt lời:
- Cũng vẫn là khái niệm. Suốt đời mày bị cầm tù trong những khái niệm do kẻ khác tạo ra. Mày có dám chắc “bầy” là số nhiều hay số ít không? Mày có dám chắc loài sói gọi chúng ta là “người” không?

Y lại rít thuốc, vẻ mặt chán nản:
- Mà thôi. Nói chuyện đó làm gì. Tranh tao tao vẽ, đời mày mày vẽ. Chẳng ai can thiệp được sao mày lại vẽ đời mày như thế.

10.

Cứ đến tuần trăng là chú Dịu lại rủ tôi đi sưu tầm. Nhưng không phải lúc nào cũng được. Suốt cả mấy tháng sau đó, tôi và chú không thêm được một mảnh nào. Nhưng chú Dịu không hề sốt ruột hay nản chí. Chú nhìn khuôn mặt thất vọng của tôi, cười nhẹ:
- Không dễ gì tìm đủ một vầng trăng đâu, Z ạ. Có khi đến cuối đời chú cũng chưa được.

- Vậy…

Tôi bỏ lửng câu hỏi, mơ hồ nghĩ đến lý do mình tham dự câu chuyện này. Chú Dịu nhìn tôi, ánh mắt rất lạ.

- Có thể, chú sẽ phải nhờ cháu tiếp tục.

Tôi không nói gì, lặng lẽ châm thuốc. Bỗng dưng có cảm giác cuộc đời mình là sự phi lí không thể nào thoát được.

Một đêm, tôi ở lại với chú Dịu đến khuya. Hai chú cháu ngồi uống rượu bên ao. Trong nhà, chú Dịu mở một đĩa nhạc, giọng ca sĩ Lệ Thu hư hư thực thực: “Ai ngắt đóa quỳnh hương dưới trăng. Đêm lắng mơ hồ tai gió nghe dạt về, tiếng mưa buồn rơi có khi tình cờ giữa dòng trí nhớ…”

Rượu, trăng và bài hát khiến tôi tưởng mình đang trôi bập bềnh cuối bến xa nào đó. Nhìn qua, thấy chú Dịu khóc. Những giọt nước mắt lấp lánh trong đêm rằm.

11.
Một buổi chiều, tôi đi học về thì thấy Y và Khôi đang ngồi uống rượu trong phòng. Nhìn nét mặt của cả hai là biết có chuyện không vui. Tối đó tôi lại có hẹn với mấy đứa bạn cùng lớp nên không muốn sà vào cuộc rượu. Nhưng Y bảo:
- Uống với Khôi một li đi mày. Nó buồn.

Tôi ngồi xuống, nhìn Khôi dò hỏi. Khôi im lặng.

Y rót rượu cho tôi, bảo:
- Nó mới chia tay con bé.

Tôi im lặng, chạm li với Khôi. Khôi vẫn cúi mặt, như đang cố không khóc. Cả ba im lặng uống rượu. Chừng nửa tiếng sau, không chịu nổi nữa, tôi lên tiếng:
- Mày và Khôi uống đi. Tao có hẹn với lớp, đi thăm cô chủ nhiệm bị ốm nặng. Lát về tính sau.

Xong việc, tôi đạp xe lang thang bên Thành Nội, chưa muốn về phòng trọ, sợ không khí u ám buồn của câu chuyện Khôi. Đến khuya tôi mới về. Y vẫn còn chong điện vẽ. Tôi hỏi Khôi sao rồi. Y bảo nó say quá dìu về phòng rồi. Tôi ừ hử. Y lại bảo, con bé kia chắc không sống nổi đâu. Mà nó chết thì thằng Khôi lại thêm lí do để đi tu. Tôi thở dài. Tình yêu là gì mà khiến nhân loại khổ sở đến vậy hả trời?

Y dọn dẹp giá vẽ, nhìn tôi:
- Rồi mày cũng khổ vì đàn bà mà thôi.

Tôi nằm im lặng, nghĩ đến người nữ tu đó. Trong lòng cồn lên nỗi nhớ đến mức đau đớn. Đêm nay, trong chiêm bao, nàng mơ những gì? Có bao giờ giấc ngủ đạo hạnh của nàng bị vẩn đục bởi hình bóng trần tục của tôi?

11.
Suốt mấy ngày sau đó, tôi tìm cách dọ hỏi về cô bạn gái của Khôi. Khôi bảo điện về nhà của bạn gái thì ba mẹ cô ta bảo cô ta không muốn gặp ai. Tôi thở phào, vậy là cô gái ấy còn sống. Mọi việc cũng không quá bi đát.

Một buổi chiều, tôi rủ Khôi đạp xe đi lang thang cho khuây khỏa. Hai thằng ghé mua ít thức nhắm và rượu. Đạp loanh quanh mãi rồi lên đàn Nam Giao, xuống đồi thông ngồi uống rượu. Khôi vẫn chưa hết sốc vì cuộc chia tay. Tôi cố tìm chuyện để nói, Khôi vẫn không vui lên tí nào. Lúc nắng chiều sắp tàn, đang nâng li lên thì Khôi làm rơi, mặt Khôi tái mét, miệng méo xệch đi. Tôi hoảng, sợ Khôi trúng gió.

- Sao vậy. Đau chỗ nào.
Khôi chỉ lắc đầu. Mãi một lúc sau mới nói được, từng tiếng một, đau đớn:
- Nàng chết rồi, anh Z ơi.

12.

Hôm sau, ba thằng đón xe đò ra Nghệ An. Quê Khôi ở một huyện miền núi. Buồn và nghèo.

Đám tang đầy nước mắt. Khôi ngất lên ngất xuống. Nghe kể phải lặn mấy ngày mới vớt được xác cô gái. Tự trầm mình trên sông Lam.

Suốt hai ngày ở đám tang, tôi để ý thấy một vị cha xứ, cứ ngồi trầm ngâm, ra dấu thánh liên tục.

Trước khi chúng tôi đón xe vào lại Huế, vị cha xứ có nói chuyện gì đó với Khôi. Tôi và Y không được nghe, chỉ thấy Khôi im lặng và gật đầu liên tục.

Trên chuyến xe Khôi không mở miệng một lời. Và cũng không khóc nữa. Chỉ thấy ánh mắt Khôi rất khác, như thể được chiếu vào một thứ ánh sáng nào đó mà tôi chưa từng biết, không thể biết.

13.

Sau đám tang người yêu Khôi, bẵng đi một đợt lâu chú Dịu không hề liên lạc với tôi. Không thấy đi lễ nhà thờ. Tôi lên nhà cũng không gặp. Nghe hàng xóm bảo thấy chú mang hành lí đi đâu đó, cả tháng rồi chưa về. Tôi đoán là chú đi sưu tầm trăng ở một phương trời khác.

Lúc đó gần cuối hè. Bằng lăng đã qua mùa, chỉ sót lại vài cây lưa thưa, buồn lẻ loi như những lời kinh rụng.
Khôi trở thành một người khác hẳn. Ít nói ít cười. Đêm về chong điện đọc sách. Thi thoảng lắm mới uống rượu cùng hai thằng tôi, nhưng không chuyện trò như trước.

Có nhiều buổi chiều, Y rủ tôi đạp xe ra sông Hương, đoạn gần cầu Bạch Hổ. Hai thằng ngồi trên bãi cỏ, nhìn ráng chiều nhuộm tím góc trời tây. Dòng Hương trôi mệt nhoài như hơi thở dài. Tôi thường cố lắng nghe vài tiếng ve cuối mùa, ngân lên đâu đó trong những tán lá, báo hiệu sự hấp hối của khung trời hạ. Nhiều lúc nhìn qua Y, thấy thằng bạn mình cách xa vời vợi, như thể hai tiểu hành tinh trên cùng một thiên hà đang đến kì giãn nở cực đại, mỗi lần ngoái lại là một biệt li hàng ngàn năm ánh sáng.

14.

...
Tôi dừng xe trước cổng chùa. Nàng nhìn. Ánh mắt đốt tôi cháy vụn. Trong bộ áo lam, nàng mỏng như vệt khói. Tôi run run tiến đến gần, và lấy hết sự can đảm tích trữ bấy lâu nay, tôi nắm tay nàng. Nàng vẫn nhìn tôi, như hóa đá. Bàn tay nàng mềm ấm. Chợt như nhận thức được điều đang xảy ra, nàng lắc đầu sợ hãi và đau đớn:
- Không được, không được, Z ơi.

Nàng vội thu lại bàn tay, quay người vào chùa, đi như bay. Tôi sững ra một lát, rồi chạy theo. Đến khi tôi chạm vào được vạt áo nàng, thì nàng bay lên, biến thành vệt khói, tan giữa không gian. Đúng lúc đó, tiếng chuông chùa ngân vang kì dị. Tôi ngã sấp xuống mặt đất, khóc òa như con trẻ.
...
- Gì vậy, Z?

Tôi choàng tỉnh. Thằng Y đang ngồi bên cạnh, nhìn tôi đầy xót xa. Tôi không biết nói gì, chỉ biết đưa tay lên lau nước mắt. Cơn mộng này không biết bao giờ mới xong.

15.
Vào lại năm học được chừng hai tuần thì chú Dịu tìm tôi. Đúng như tôi đoán, chú đi rất xa để sưu tầm trăng.
Đêm đó hai chú cháu lại uống rượu ở sân nhà chú. Chú Dịu bảo đã thêm được hai mảnh nữa. Nhìn chú rất vui. Cuộc rượu và kết quả chuyến đi của chú khiến tôi khuây khỏa được nhiều.

Đến khuya, chú Dịu nhìn tôi một lúc lâu, như định nói điều gì nhưng không nói được. Tôi sốt ruột:
- Có chuyện gì hả chú?

Chú Dịu gật đầu, rồi lại im lặng nhấp rượu. Tôi ngồi chờ. Mãi chú mới khẽ khàng bảo:
- Chú vừa biết một điều.

Tôi cũng nhấp chén rượu, tôi biết điều chú sắp nói có ý nghĩa gì đó rất quan trọng. Bỗng dưng tim đập thình thịch, tay chân bủn rủn.

- Chú sẽ là mảnh cuối cùng, Z ạ.

Ngụm rượu nghẹn lại trong cổ. Tôi bỏ li xuống, nhìn chú trân trối.

- Đúng vậy, Z ạ. Sau chuyến đi dài vừa rồi, chú mới biết rằng chú phải là mảnh cuối cùng cần phải sưu tầm để hoàn chỉnh vầng trăng đó. Chỉ có điều chú chưa biết đến lúc nào.

Tôi muốn hỏi chú vậy thì tôi có ý nghĩa gì trong câu chuyện này, nhưng lại thôi. Tôi lặng lẽ châm thuốc. Chú Dịu cũng châm thuốc, rồi nhìn tôi:

- Rồi sẽ đến lúc cháu hiểu, cháu tham gia vào câu chuyện này để làm gì.

16.
Đợt vừa rồi tôi có chuyến công tác ra Nghệ An. Xong việc, tôi đón xe lên quê Khôi, mong tìm lại người bạn cũ. Quê Khôi vẫn vậy, hầu như không có nhiều thay đổi sau ngần ấy năm. Vẫn buồn và nghèo.

Loanh quanh cả buổi chiều vẫn không biết được nhiều gì về Khôi. Chỉ biết sau khi tốt nghiệp đại học, Khôi về quê rồi cùng cả gia đình di cư vào Nam. Có người bảo vào Sài Gòn, có người bảo ở Biên Hòa, lại có người nói đi định cư ở nước ngoài. Có người bảo Khôi vào học thần học rồi ra tận huyện biên giới phía Bắc để tu. Có người lại khẳng định Khôi đã có vợ con đề huề, hiện đang kinh doanh ở miền Nam. Đại khái là thông tin loạn cả lên, chẳng biết nghe ai.

Cuối chiều, tôi tìm đến mộ bạn gái Khôi để thắp nén nhang. Trong bóng tối nhập nhoạng, tấm chân dung cô gái trên bia mộ cứ nhìn tôi khắc khoải. Vì sao vậy anh Z? Tất cả những chuyện này, vì sao?

Xong, tôi lững thững ra sông Lam. Ngồi một mình giữa những bãi ngô xào xạc gió, nhìn nước sông Lam chảy miết, tôi tự hỏi, tất cả họ, những người đi qua đời tôi trong thời hoang vắng ấy, giờ trôi về đâu?

17.
Đó là một buổi sáng chủ nhật. Dạo đó thằng Y đã thôi đi lễ nhà thờ và không vẽ tranh báng bổ (như tôi nghĩ) nữa. Hai thằng đang ở phòng trọ thì có một người chạy xe máy đến, báo tin chú Dịu đã mất.

Tôi nghe tin ấy, vừa bàng hoàng, vừa thanh thản. Một cảm giác rất kì lạ.

Hai thằng đạp xe qua nhà chú Dịu. Lúc đó đã khâm liệm rồi.

Sáng đó, người ta vớt được chú dưới ao.

Đám tang chú Dịu xong, người ta đưa tôi một bọc vải, ngoài ghi “Gửi cháu Z”. Tôi và Y ra về. Suốt đám tang cho đến lúc đó, thằng Y không hỏi một lời. Chỉ đến lúc trên đường về hắn mới mở miệng:
- Mày nghĩ vầng trăng đó đã hoàn chỉnh chưa?

Tôi không dám chắc. Nhưng theo những gì chú Dịu nói thì tôi mong là đã hoàn chỉnh. Không biết bây giờ, ở một phương trời nào, có một vầng trăng nào đang tỏa sáng?

Chú Dịu để lại cho tôi một tập ghi chép, bên ngoài đề “Nhật ký người sưu tầm trăng”. Nét chữ vô cùng thanh thoát.
Tháng 6/2016
Hạo Nguyên - VNQĐ

Ổ khóa định mệnh

Ổ khóa định mệnh

Hôm qua mẹ đi làm đồng, lũ bạn lẻn qua nhà nháy mắt bảo hôm nay phải có tiền đi chơi. Đến lượt Phúng chi. Trên tay chúng còn bưng mấy quả bưởi trộm được ở ngôi nhà sát mương nước cạnh đồng Bưng. Cô bạn gái ưỡn ẹo dẻo mỏ đòi thêm quà sinh nhật. Trên đó có pha trộn một ít lì lợm, chút ăn chơi và cả chút bàng bạc của những lần thâu đêm la cà quán xá. Phúng ong ong đầu từ sáng đến cuối chiều. Bí quá. Làm gì để có tiền đây? May thay đến tối, mẹ bảo hôm sau sẽ lên phố huyện gửi thư cho anh trai đang làm nhiệm vụ ngoài biển đảo và thăm người họ hàng xa. Bụng bảo dạ, đó là một dịp hiếm có để cuỗm tiền. Chỉ có mình ở lại với căn nhà, làm chủ chiếc hòm thóc, ổ khóa và gia tài của mẹ.

Đâu phải lần đầu tiên Phúng mở khóa hòm thóc móc tiền từ cái túi vải của mẹ. Phúng đã làm chuyện đó quá nhiều lần. Bao năm trời mẹ vẫn dùng ổ khóa cũ, đen kịt và nhẵn bóng. Chỉ cần dùng mũi chiếc liềm lá lúa xọc vào, ngoáy vài cái là ổ khóa kêu đến “tách”, mở ra. Mẹ cứ thận trọng ra khóa vào khóa, mà không hề biết ổ khóa đã mòn, chẳng có tác dụng giữ an toàn. Còn cậu con trai giữ bí mật về một ổ khóa vô tác dụng cho riêng mình. Mẹ an tâm những đồng tiền được dồn từ mấy đồng bán rau, ổ gà con, hay lứa lợn sẽ an tâm nằm trong đó. Những đồng tiền nhàu nhĩ ấy mẹ trang trải cuộc sống, phần còn lại tiết kiệm phòng lúc cuộc sống bất trắc. Ổ khóa, cùng với cách của mình, Phúng đã có cả một kho tàng. Cậu gọi đó là ổ khóa kỳ diệu. Nó cứu cậu bao vụ thua trông thấy trước lũ bạn. Nó cho cậu tiền thết đãi bạn bè, cùng những đêm lao đầu ra phố huyện ăn tiêu rồi sớm sau mới khật khừ trong màn sương bàng bạc, đạp xe về. Không có tiền thì quê mùa quá, lũ bạn khinh thường dè bỉu. Có tiền thì chát chúa ăn chơi, ngọt ngào khen ngợi. Không ít lần đứng bên ngoài, Phúng thấy mẹ moi chiếc túi vải ra từ hòm thóc, nhấp nước bọt từ miệng đếm đếm, rồi ngẩn ngơ suy nghĩ điều gì. Phúng nhủ lòng: “Thôi kệ, chắc mẹ không phát hiện ra đâu”. Chỉ người mẹ là khổ. Bà không hề biết có thằng con đốn mạt, phụ lòng khoai sắn quê mùa, phụ lòng người mẹ tảo tần. Lưng cậu con cứ dài ra, dài thêm như nỗi lo của mẹ chẳng bao giờ chịu ngắn lại. Độ này mẹ còn ốm nữa, tiếng ho quất vào đêm đen, tiếng ho cứ rơi rụng xuống góc vườn, lẫn vào tiếng con chim hót, tiếng nhát cuốc bập sâu xuống đất. Phúng nhận ra mẹ đã quá già để vất vả, nhưng cậu cho phép mình không được mủi lòng trước những điều ấy. Cậu tự bảo mình phải chai lì hơn. Nếu chùn tay mình sẽ khổ. Mẹ khổ rồi, khổ thêm chút có sao đâu. Mình thì được phép sướng. Mình phải thảnh thơi mà chơi. Nhiều lần mẹ bỏng họng nhắc nhở, nặng hơn là mắng nhiếc. Thế thì sao chứ! Không nghe. Cứ để tai này lọt sang tai kia. Mẹ nói lắm thì nghe nhiều. Tội gì giữ lại trong đầu cho nhọc. Nghĩ thế nên dù mẹ thức khuya dậy sớm, trong lòng Phúng chẳng biểu lộ cảm giác gì. Đúng hơn, cảm giác hay lòng thương mẹ từng nhú mầm, rồi cậu đã cố tình nhổ bỏ ra khỏi lòng, chỉ để trơ lại tảng đá ích kỷ. Để mầm thương và mầm sẻ chia sẽ không bao giờ mọc nổi trong đó nữa.


Ảnh minh họa (tinmoi)

Cha mất khi đứa em út lên ba, bỏ ba đứa con cho mình mẹ tất tưởi làm lụng nuôi nấng. Giờ đứa em gái đã vào Nam làm công nhân, anh cả đi bộ đội. Mỗi người đều nung nấu ước vọng của riêng mình và biết thương mẹ. Chỉ Phúng, từ ngày trượt thi đại học ở nhà, đỡ đần mẹ thì ít, quậy phá phiền hà, ba trợn ba trạo thì nhiều. Mỗi lần mở khóa lấy trộm tiền, cậu vục tay xuống thóc, moi lên chiếc túi vải có dây rút và kiểm kê. Cậu không nhớ mình đã mở khóa bao nhiêu lần. Từ năm học lớp 10, trong một lần nghịch thử, cậu làm một động tác là dùng mũi liềm thử mở khóa. Quả nhiên nó đã nghe lời, từ đó đến nay đã bốn năm. Có một điều cậu để ý, chiếc túi vải đựng tiền mà mẹ tự dùng kim chỉ khâu ngày càng nhầu nhĩ, từ màu thâm nhạt đã chuyển sang màu thâm đen. Chắc mỗi lần mẹ bỏ ra, đút tiền vào đó, hay lấy tiền đi tiêu thì mồ hôi thấm thêm vào, rồi két lại. Hay cũng có thể những đồng tiền lẻ đã cõng mồ hôi, ướp vị mặn mòi vào túi vải. Có một lần Phúng chợt rùng mình, tự cười vào mặt mình. Chưa bao giờ mình làm ra đồng tiền để góp vào chiếc túi vải đó của mẹ. Xong, cậu cười xòa: quái quỷ gì trong đầu ấy nhỉ?

***

Sáng, mẹ đóng lại bao thư tối qua tỉ mẩn viết từng chữ, cho vào chiếc túi ni-lông rồi buộc vào xe đạp. Chiếc xe đạp tòng tọc trơ trơ cái khung sắt. Phúng ngồi dựa vào gốc cây sung ở mé ao. Thi thoảng những quả sung chín rơi bòm bọp, gõ mình vào mặt nước rồi nổi nênh cùng sóng nhẹ. Cậu chờ mẹ đi khỏi sẽ mở khóa. Trong phút chốc, cậu thấy mẹ sao mà nhân hậu. Mẹ cứ rù rì đi về sớm nắng chiều mưa. Mẹ làm thay phần cha, để đến nỗi có vụ mùa ê ẩm đau, mẹ toài cánh tay ra phía sau, nắm chặt bàn tay lại đấm cho bờ vai đỡ mỏi. Mẹ chẳng than phiền lấy một câu sao đời mình khổ thế. Nhưng Phúng thì than phiền cả nghìn lần. Có lần cậu phũ phàng hỏi sao chúng con khổ, mẹ chỉ có rau dưa nuôi chúng con? Mẹ đã bật khóc, rồi lại giấu đi dòng nước mắt để thắp xanh cho khoảnh vườn và cánh đồng. Mà mẹ đâu chỉ nhân hậu với mấy đứa con, mẹ còn nhân hậu với cả đám trẻ hàng xóm. Có lúc mẹ tốt đến phát bực. Ví như cái gã Vín, trộm của mẹ con gà mái đem thịt uống rượu, mẹ bắt được tận tay mà gã vẫn cãi. Cuối cùng vợ gã phải sang xin lỗi, đền một con gà nhiếp. Con gã ốm nặng, mẹ vẫn xăm xắn thăm nom, giúp đỡ tiền thuốc. Gã phó thôn ngày trước thả trâu xéo lúa để trả thù chuyện mẹ đã nói ra sự thật, là gã sàm sỡ chị Hoa hâm. Vậy mà khi gã nhờ mua thuốc lá cây chữa sỏi thận, mẹ vẫn dặn cái Xuyến, đứa em gái út vất vả gửi từ miền Nam ra qua đường bưu điện. Mẹ tốt với cả những người khinh ghét mình, nói mẹ nghèo hèn. Sao mẹ có thể như thế. Phải tay Phúng, tha đánh cho là may chứ đừng nói chuyện làm phúc.

Những ý nghĩ cứ rủ nhau ùa về, chợt tim Phúng đập thình thịch. Lại là tiếng mẹ. Mẹ đi rồi, về làm gì nhỉ? Hay mẹ không đi nữa. Phúng chạy vào hỏi. Mẹ bảo quên cái nón, sợ lúc về nắng vỡ đầu. Mẹ lấy cái nón mê chụp vội lên đầu rồi lại lóc cóc đạp xe. Dáng mất hút sau con ngõ dài. Phúng nhủ, mẹ đội mấy chục năm cái nắng cái mưa, chỉ lót qua cái nón, vậy mà đã bao giờ vỡ đầu đâu! Mẹ thật giỏi. Phúng lại ra dựa lưng gốc sung và chờ đợi. Phải để mẹ đi xa hẳn đã, chẳng may lúc đang mở khóa mà mẹ lại quên một cái gì đó, quay về bắt gặp thì biết trốn đằng nào. Phúng lơ mơ tính toán, sắp đến vụ gặt, phải nói dối mẹ trốn đi đâu đó ít ngày để đỡ phải làm. Hay là nói đi ôn thi nhỉ? Mẹ vẫn muốn cậu con trai thi đỗ một trường, học cho bằng bạn. Ở làng chả khối đứa học rồi có việc rồi đấy thôi. Cứ nói đến chuyện ôn thi, mẹ ủng hộ cả hai tay.

Giờ phút chờ đợi đã đến. Phúng tìm chiếc liềm cùn giắt trên mái ngói bếp. Cậu chỉ cần lay lay mũi liềm vào lỗ khóa là nó mở ra, tách! Vục tay vào hòm thóc, quờ quạng ở vị trí quen thuộc không thấy. Phúng chuyển vùng sang chung quanh. Cũng không thấy. Tim cậu đập rộn. Chiếc túi vải biến đâu nhỉ? Hì hục quờ quạng đến cả chục phút không thấy, thất vọng, cậu tuồi ra, khóa lại ổ. Mồ hôi vã ra như tắm.

Nhảy xuống cầu ao lấy hai bàn tay múc nước tạt vào mặt cho đỡ nóng. Trong đầu Phúng vẫn một câu hỏi: Mẹ giấu túi tiền ở đâu? Hòm thóc gỗ đựng được bốn tạ, là cách tính của người nông dân. Mẹ chưa bao giờ để hòm thóc cạn kiệt. Ít nhất thóc cũng đủ chiếm một nửa diện tích, không thì luôn đầy. Hỏi, mẹ bảo phải tích ở đó, có thóc mới thì thay vào đề phòng thất bát. Nghĩ ngợi một hồi, Phúng tự hỏi mình đã tìm hết, đã vục tay đủ sâu chưa? Cậu quyết định làm việc đó một lần nữa. Phúng mang chiếc ghế gỗ, kê để đặt chân. Nhờ đó cậu có thể vục tay sâu vào lòng thùng thóc. Thóc ram ráp cứa vào tay, phả hơi ấm âm ỉ của nó vào mặt. Phúng chao qua chao lại, từ tầng cao đến thấp, cố không bỏ sót góc nào. Đây rồi, một cái bọc ni-lông. Phúng nhấc nó ra. Không phải là chiếc túi vải như lần trước. Phúng mau chóng tháo nút. Chiếc túi vải quen thuộc nằm trong bọc ni-lông. Nó dày hơn, cũ hơn thường ngày. Mẹ mới bán ba con ngan, hẳn mới bỏ thêm tiền vào.

Mở chiếc túi vải, rút tiền ra, cậu thấy hoa cả mắt. Mẹ đã gói tiền bằng những mảnh giấy vở học sinh nhàu nhĩ, chằng buộc bằng dây rơm cẩn thận. Này, mẹ còn viết những chữ gì nữa đây? Gói nào mẹ cũng viết. Phúng thận trọng nhặt lên từng gói, và đọc. Gói đầu tiên mẹ viết: “Tiền này dành đảo ngói nhà”.

Đầu Phúng toát mồ hôi. Hơi nóng từ hòm thóc phả ra. Trời ơi, ngôi nhà cứ động mưa là dột. Năm trước mẹ nhờ người giúp thay những viên ngói vỡ, chỉ vài trận mưa thì những viên ngói trước xui viên ngói sau, tiếp tục bục ra. Mẹ vất vả lấy nào xô, chậu, nồi niêu giăng khắp nhà mà hứng. Ngôi nhà còn hơn tuổi mẹ, những người hàng xóm tốt bụng vẫn bảo mẹ phải xây lại nó, sống cho đỡ khổ. Hoặc ít nhất thì cũng phải cải tạo hoàn toàn phần mái. Nhưng tiền đâu mà xây với cải tạo. Nó sống đời nhọc nhằn như mẹ, và giờ nó già nua hoang hoải. Mẹ đã chu đáo tính toán cho tuổi của nó. Gói tiền này, trời ơi, làm sao mình có thể lấy được! Phúng thấy mồ hôi từ người, từ vai mình túa ra, chảy rần rần buồn buồn xuống cổ tay, bàn tay rồi thấm vào gói tiền. Gói tiền như sực lên những nỗi niềm của mùi vị lo toan.

Phúng đặt gói tiền xuống, rồi nhấc lên một gói khác, cũng bọc giấy và buộc rơm cẩn thận, nặng mùi vất vả, có viết: “Dành cho cậu cả lấy vợ”. Lấy vợ ư? Anh ấy rõ ràng là một người con ngoan, vâng lời mẹ. Ngày ở nhà, anh trai Phúng rất thương em, hay lam hay làm, đi bộ đội rồi vẫn thư từ về. Thư anh quan tâm đến cả bữa ăn giấc ngủ của mẹ, hỏi han tình hình nào em gái, em trai, ruộng vườn. Cây khế góc hè đã cao bằng chừng nào, nhiều hoa không. Con mèo mướp còn rụng lông không? Ngày anh trai ở nhà, mẹ chỉ mong anh lấy một cô vợ cùng làng để đỡ đần. Mẹ rất quý cô út con gái bác Lam. Anh trai có vẻ ưng. Rồi anh vào bộ đội, cô gái không chờ được sang sông lấy chàng trai khác. Anh trai thư về, hùi hụi tiếc. Mẹ đã khóc mấy đêm dài. Bọn trẻ có duyên mà không có phận. Mẹ khóc như thể chính mẹ và cô gái ấy lỡ đi một cái duyên gì hệ trọng. Mưa triền miên một độ, gõ những tiếng rào rạt lên mái ngói, lên cả quả tim mẹ nhạy cảm.

Không thể lấy gói tiền này. Anh trai thương Phúng. Cậu biết điều đó. Anh vẫn bảo Phúng chịu học, rồi có ngày anh làm được tiền, thay mẹ chu cấp. Dù sao anh sống có tình, không cậy anh mà đe nén em. Chẳng biết anh đã yêu được cô nào qua thư, nhưng mẹ chờ đợi ngày anh cưới lắm. Mẹ trồng cả một góc vườn toàn chuối tiêu, dự tính kiếm hai buồng để ngày anh cưới nấu canh. Góc vườn đã sinh ra cả trăm buồng chuối, vậy mà anh chưa cưới được. Phúng đặt tiếp gói tiền xuống, rồi nhấc lên một gói khác, có viết: “Phần con út đi lấy chồng”. Ôi cô em tội nghiệp, nó vì cuộc sống mà phải vào tận đẩu tận đâu làm công nhân! Từ ngày đi đâu đã được về, tủi nhất là không về quê ăn tết được. Phúng bỗng dâng lên trong lòng cảm giác gì đó, lạ lắm. Vừa thương hại vừa nể trọng. Sao em có thể sống tốt ở trong đó với công việc nặng nhọc, mà vẫn đều đặn gửi tiền về, để mẹ gói ghém, thu vén và dồn thành những gói tiền này? Vậy mà anh… anh là thằng tồi… Bỗng chốc, gói tiền nặng trĩu xuống.

Gói ghi “Cu Phúng ôn thi” mộc mạc, dày hơn những gói khác bởi gộp nhiều đồng lẻ, cong cớn. Phúng nâng lên bằng hai tay. Cả hai tay run như thể gói tiền biết giẫy. Rồi toàn thân cậu run cầm cập trong khi mồ hôi vã ra, tưới toàn thân. Mẹ vẫn chờ đợi và hy vọng. Mẹ từng mắng mỏ Phúng nhiều mà cậu không nghe. Nhưng mẹ vẫn chờ cho con có điều kiện thi đỗ một trường nào đó, đi học, rồi nở mặt nở mày. Có bữa cơm trong tương cà, mẹ mỏi mệt vì các khớp xương hành hạ, mẹ nói chẳng mong gì ngoài các con được sướng. Mà điều kiện thì hạn hẹp, mẹ chỉ có thể chịu khổ hơn, để các con có điều kiện ra ngoài chờ đời con sẽ khác. Nghe thế, Phúng nuốt không trôi. Hôm sau cậu cùng nhóm bạn ra thị trấn, cắm chiếc xe đạp lấy tiền ăn chơi. Cùng lúc đó thầy giáo chủ nhiệm gửi giấy về, nói cậu đểnh đoảng học sa sút. Mẹ đau lòng, xa xăm đợi Phúng về hỏi cho rõ. Cậu hứa không tái phạm, nhưng vẫn chỉ nói để rồi quên. Lứa rau ngoài vườn bán đi, gom thêm cả chục buồng chuối mẹ mới mua nổi chiếc xe đạp cũ khác cho Phúng đi học. Nhưng chỉ một tuần sau khi nhận xe, Phúng chạy đua, đâm vào chân cột điện, vành xe cong cớn, người thì trầy xước, đầu tứa máu… Vẫn chỉ là mẹ, già hơn, đưa tay ra cưu mang con trai. Giây phút này, Phúng tự vấn: Sao mẹ nhẫn nhịn đến thế, mình đã phá phách, ương bướng suốt mấy năm qua, mà mẹ vẫn động viên cho học?

Phúng không thể cầm lòng được. Những dòng ký ức ồ ạt túa về khiến cậu òa khóc. Dòng lệ trộn dòng ký ức, pha với ít ân hận, cộng với nỗi cay đắng vì mình đã quá ích kỷ. Mẹ ơi, mẹ đang làm gì thế? Mẹ nhịn đói nhịn khát để có gói tiền này. Em gái con viết thư về, vẫn bảo mẹ đừng hà tiện quá, chịu khó mua chất tươi mà ăn. Mẹ cũng đồng ý cho qua chuyện. Mẹ chỉ mua rồi gảy gót phụ họa, cho thằng con trai lưng dài tốn vải này ăn thôi. Mồm miệng mẹ bóp lại, thân hình mẹ khẳng khiu. Sao chẳng bao giờ mẹ nghĩ cho mình?

Hơi thở như phì ra từ hai lỗ tai chứ không phải mũi, Phúng vội lần tìm gói tiền tiếp theo, viết: “Dành cho mình chữa bệnh”. Mẹ có bệnh gì nghiêm trọng sao? Phúng tự hỏi. Mẹ vẫn có bệnh thấp khớp, sỏi thận, thoái hóa cột sống… Những bệnh đó cậu đều biết cả, mỗi khi nó tấn công khiến mẹ mỏi mệt quằn quại. Nhưng chẳng bao giờ mẹ than thân trách phận mà dũng cảm chiến đấu. Thằng con trai lưng dài là con đã đỡ đần được gì cho mẹ đâu. Vậy mà mẹ chu đáo từng đứa. Phúng thận trọng xếp lại từng gói, đưa hẳn vào chiếc túi vải, rồi lồng ni-lông như trước. Cậu thận trọng nhìn nó để dòng ký ức vẫn không thôi ùa về. Như lòng thương mẹ từ mạch nước nào rỉ ra, rồi bục vỡ, để xối xả thành nguồn nước tình thương, chảy trong huyết quản đứa con vốn nhiều nghĩ suy lệch lạc.

Chưa bao giờ Phúng thấy mình hư hỏng đến thế, nhẫn tâm đến vậy. Bất thần, nước mắt cậu túa ra, rớt cả vào gói tiền. Như thể nỗi cùng cực của mẹ được chan thêm dòng nước ân hận của đứa con trai. Phúng nhớ rất rõ, chính xác là từ năm học lớp 10, từ cái ngày cậu phát hiện ra ổ khóa. Những trò tinh nghịch quậy phá đã dẫn bàn tay cậu tìm tiền. Cái nọ dắt díu cái kia. Ý nghĩ dại dột này gọi thêm việc làm hư đốn khác. Mình đã vui chơi bằng mồ hôi của người mẹ tội nghiệp và những cánh đồng tội nghiệp. Cậu nghĩ, rồi hổn hển lấp thóc lên bọc tiền. “Mình không thể sai mãi”. Cậu nói thành tiếng. Đã thành thói quen, cậu lấp cẩn thận như trí nhớ mách bảo, phải sao cho hiện trường giống như lúc đầu bị tác động, kẻo mẹ nhận ra sự thay đổi. Ổ khóa đã được khóa lại. Phúng rút êm ra vườn. Quả tim cứ rộn lên, đập thình thịch, kích thích cho dòng mồ hôi tóa ra, rụng xuống. Lúc này, sao mà Phúng muốn hòa với thiên nhiên thế. Cậu muốn thở hắt ra cho nhẹ. Lần đầu tiên ổ khóa được mở, bọc tiền bị khui, nhưng tiền không bị rút. Phúng thở phào. Mình có nên sống khác đi chăng?

***

Bà mẹ đang nhìn đứa con tội nghiệp. Bà bỗng dâng lên nỗi thổn thức. Từ xa, bà nhìn nó như cái xác không hồn, bần thần trong ân hận. Bà đang tự nghĩ, hẳn là mình đã thành công trong chuyện thử thách nó. Tiền bị ngót, vị trí cứ bị nhúc nhích một vài đốt ngón tay. Chiếc túi vải đựng tiền không thể biết chạy. Mấy tháng nay tự dưng bà nghĩ đến chuyện đánh dấu. Rằng bà dùng gang tay, đo làm sao để túi tiền cách cái thành chiếc hòm áp ở ngực bà đúng một gang. Thế mà nó đã di chuyển một chút. Nhà chỉ có hai mẹ con. Không phải Phúng thì đúng là có ma. Vậy là bà đã theo dõi. Đứng từ xa, bà biết, mỗi lần nó đều rút một trăm nghìn.

Theo dõi, bà biết Phúng đã làm gì với ổ khóa, cất chiếc liềm nhỏ ở đâu, tiêu tiền thế nào. Đúng là đồ ranh mãnh. Đẻ mày thà đẻ cái trứng mà ăn! Bà đã trách con như thế, âm thầm. Những lần hai mẹ con to tiếng, đều là những lần bà không chịu nổi tiếng ngang ngược và sự lười nhác của nó. Bà thậm chí còn sợ to tiếng, thằng con bạt cho một cái thì khổ. Nên bà đã lựa cách tránh lúc nó nóng nảy. Khi nó nổi khùng thì bà dịu xuống. Bà đã không nói thẳng với nó về vấn đề này. Bà cũng không chịu thay ổ khóa khác.

Nhưng không thể để nó hư thêm, trượt dài trong lầm lạc mà cần động não. Nó lấy của mình được thì nó cũng lấy được của người. Rồi sự thể đi đến đâu, ai biết được. Nên cần phải ngăn chặn sự việc này bằng cách tế nhị nhất. Nó bỏ đi, bà thậm chí còn khổ hơn. Tất cả nhờ nghĩ suy từ những bài học bà xem được trên ti-vi. Người ta xử lý tình huống khéo thế, người ta ứng xử với nhau sao mà giỏi. Cả đời bà nông dân, làm sao tính toán vẹn đôi đường được. Bà cứ lựa theo người ta mà học.

Từ mấy hôm trước, bà quyết định làm theo cách của mình, và để sao cho buổi sáng nay, con trai rơi vào cuộc thử thách. Bà đã làm y như mình đi lên phố huyện gửi thư và thăm họ hàng. Thật ra bà ra gửi xe ở đầu làng, rồi đi đường tắt, vòng về khu vườn nhà cốt làm sao không để con trai biết. Qua lỗ thủng ô cửa sổ, bà nhìn thấy hành động của con, thậm chí rõ cả những giọt mồ hôi lăn trên trán nó. Những cái nhăn trán, sự thất thần hiển hiện ở khuôn mặt, cho phép bà tin rằng con bà sẽ nghĩ lại. Mỗi lần thấy con cầm một gói tiền lên, đăm chiêu nghĩ ngợi, bà biết con sẽ hồi tâm. Giả dụ nó lấy, bà sẽ xông vào chặn cửa, nó bất ngờ, sẽ không tài nào cãi được. Nhưng nó đã cất lại bọc tiền, đã khóa vào. Và khi ấy, bà nghe rất rõ, thằng con nói với bản thân: “Mình không thể sai mãi”, tim bà đã trở nên náo nức một niềm tin đến òa vỡ vì sung sướng. Phải thế chứ. Nó biết thương bà. Giờ đây, bà ngồi nhìn nó, lòng bà dâng lên một tình thương vô hạn. Nó to xác nhưng chưa khôn, tại bị lũ bạn không tốt dụ dỗ, lợi dụng và cùng chung sự lêu lổng.

Ôi kìa, nó còn khóc nữa. Nó khóc nức nở và chẳng hay biết mẹ đang dõi theo nó. Nó khóc trong ân hận, như thể gửi gắm tất cả tâm sự với những cái cây trong vườn. Nó càng khóc thì lòng người mẹ càng vơi đi gánh nặng. Con người ăn nhau ở ý chí. Nó đã hứa, đã quyết tâm học để làm mẹ vui, chắc sẽ làm được. Bà nghe thấy tiếng cây nói, như tiếng quả tim của cậu con trai, rõ mồn một.

Truyện ngắn của Nguyễn Văn Học - Tổ Quốc

Các cây bút trẻ đua nhau tỏa sáng

Các cây bút trẻ đua nhau tỏa sáng

Các cây bút trẻ trong vòng 5 năm trở lại đây đã nhập cuộc và làm cho đời sống văn học tươi mới, tràn đầy sức sống… khiến độc giả có quyền hi vọng cho văn học Việt Nam.

Xuất hiện thế hệ cầm bút mới

Nếu như 5 năm về trước, thế hệ 9x viết sách, bước vào làng văn còn là “của hiếm”, và đại biểu tham dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII trẻ nhất tại thời điểm đó mới 17 tuổi, còn ngồi trên ghế nhà trường đã ít nhiều gây được sự chú ý của những người quan tâm đến đời sống văn học nước nhà.

Thế nhưng, trong vòng 5 năm trở lại đây, văn học nước nhà còn chứng kiến sự xuất hiện một thế hệ cầm bút mới - thế hệ Y2K hay thế hệ 10X - được sinh ra từ năm 2000 trở lại đây.

Đầu tiên, phải kể đến “thần đồng” Đỗ Nhật Nam. Mặc dù Đỗ Nhật Nam “nổi tiếng” về khả năng tiếng Anh, nhưng em cũng góp phần không nhỏ cho việc viết và dịch sách. Khi mới 7 tuổi, Đỗ Nhật Nam đã trở thành dịch giả nhỏ tuổi nhất Việt Nam, 11 tuổi là người viết truyện nhỏ tuổi nhất được xuất bản. Cho đến nay, Đỗ Nhật Nam có trên 10 đầu sách viết và dịch thuật đã được xuất bản. Có thể kể đến các cuốn sách của Đỗ Nhật Nam: Những con chữ biết hát, Đường xa con hát, Bố mẹ tớ đã cưa đổ tớ, Hát cùng những vì sao, Học thật là vui…

Năm 14 tuổi, Nhật Nam là du học sinh tại Mỹ và tổng biên tập tờ báo tuổi teen của Đông Nam Á - Creative Melange.

Tiếp đến phải kể đến trường hợp thần đồng tiểu thuyết Nguyễn Bình, 10 tuổi đã viết sách viễn tưởng Cuộc chiến với hành tinh Phantom. Trong vòng 8 tháng, khi Nguyễn Bình bước sang 11 tuổi đã hoàn thành 3 tập tiểu thuyết “Cuộc chiến với hành tinh Fantom” dày hơn 1.000 trang.

“Cuộc chiến với hành tinh Fantom” là câu chuyện giả tưởng mang hơi hướng dự báo một cuộc chiến hành tinh ở Mỹ vào những năm 2015. Sự kiện ra mắt sách của Nguyễn Bình đã được Nhà xuất trẻ - đơn vị phát hành cuốn sách và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức khá long trọng.


Các cây bút trẻ trong Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VII (ảnh TL)

Thế hệ 9x dần trưởng thành

Các cây bút 9x trong 5 năm qua đã dần trưởng thành và khẳng định tên tuổi của mình. Tác giả Cao Nguyệt Nguyên (Hà Nội) năm 2015 đã cho ra mắt tập truyện ngắn Trăng màu hổ phách, năm 2016 lại tiếp tục mang đến cho độc giả bộ truyện tranh thiếu nhi Chuột Chi Hô lên thành phố. Không chỉ dừng lại ở đó, tác giả Cao Nguyệt Nguyên còn là tác giả trẻ nhất đoạt giải thưởng truyện ngắn Văn nghệ quân đội gần đây.

Tác giả sinh năm 1991 ở phía Nam và có tác phẩm từng được giải ở cuộc thi văn học tuổi 20 lần thứ V với truyện dài thuộc thể loại kỳ ảo “Urem người đang mơ” là Phạm Bá Diệp.

Cùng năm sinh và cùng có tác phẩm dự thi trong cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ V với Phạm Bá Diệp là Nhật Phi. Cây bút Hà Nội đã đoạt giải nhất tại cuộc thi văn học tuổi 20 với tác phẩm Người ngủ thuê. Sau cuộc thi và cuốn sách đầu tay, Nhật Phi đã xuất bản cuốn sách tiếp theo là “Nhật ký một người cô đơn”.

Cây bút 9x tiếp theo có thể kể đến là Trương Công Tưởng ở Bình Định. Dù chưa có tác phẩm in thành sách riêng nhưng tác giả 9x này đã và đang vào “tầm ngắn” của nhiều báo và tạp chí bởi sự ấn tượng về một giọng thơ lạ và đầy nội lực.

Một cây bút trẻ 9x khác ở An Giang là Lê Quang Trạng. Hiện cây bút này là hội viên trẻ nhất của Hội Liên hiệp Văn học-Nghệ thuật tỉnh. Lê Quang Trạng xuất hiện trong làng văn học trẻ ĐBSCL như một nhân tố mới bởi cách thể hiện sáng tạo, mới lạ. Cho đến nay, tác giả 9x An Giang này đã ra mắt độc giả tập truyện ngắn “Dòng sông không trôi”.

Từ Đắk Lắk còn có cây bút 9x Nguyễn Võ Hương Nam từng đoạt giải nhất cuộc động sáng tác văn học thiếu nhi Việt Nam - Đan Mạch do NXB Kim Đồng tổ chức.

Thế hệ 8x viết đều tay

Nếu như 5 năm về trước, lực lượng các cây bút trẻ thuộc thế hệ 7x áp đảo và gặt hái được nhiều thành công thì 5 năm trở lại đây các cây bút 8x đã chứng minh được sức sáng tạo dồi dào qua hàng loạt tác phẩm ở cả 4 lĩnh vực văn học.

So với dàn văn học trẻ hiện nay, thì 8x là thế hệ viết “đều tay” hơn cả cả về số lượng và chất lượng. Đây cũng là thế hệ có nhiều cây bút được tham dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII cách đây 5 năm. Có thể kể đến tên các cây bút 8x đầy sung sức và hứa hẹn nhiều tác phẩm văn học chất lượng như: Vũ Thị Huyền Trang, Nguyễn Quỳnh Trang, Đoàn Minh Tâm, Đào Quốc Minh, Đinh Phương, Mai Anh Tuấn, Đoàn Ánh Dương, Thanh Tâm, Linh Lê, Phan Tuấn Anh, Hoàng Công Danh, Lê Vũ Trường Giang, Văn Thành Lê, Trịnh Sơn, Hồ Huy Sơn, Du Nguyên, Chu Thanh Hương, Lục Mạnh Cường, Hoàng Anh Tuấn…

Ở nhiều cuộc thi văn học các cây bút 8x cũng dành ưu thế chiếm giải và được đánh giá chững chạc trong cách viết, trong đề tài…

Nếu như ở các cây bút nổi bật của thế hệ 10x Đỗ Nhật Nam có ưu thế tiếng Anh để trở thành dịch giả nhỏ tuổi nhất thì cũng vẫn chỉ là trường hợp đơn lẻ. Sang đến thế hệ 9x thì phần lớn các cây bút được chú ý ở thể loại thơ và văn xuôi hơn cả. Nhưng riêng thế hệ 8x, đến thời điểm này thì đã có không ít tác giả khẳng định được tên tuổi của mình ở các lĩnh vực văn học như: Văn xuôi, thơ, lý luận phê bình và dịch thuật.

Tuy nhiên, vẫn phải sòng phẳng nhìn nhận một điều rằng, dù các cây bút trẻ trong vòng 5 năm qua đã rất nỗ lực, đã có nhiều ghi nhận, đã được độc giả chú ý… nhưng các cây bút trẻ cũng không nên tự mãn nhấm nháp những gì đã đạt được từ ánh hào quang của quá khứ. Bởi hình như trong cuộc thi tiếu thuyết lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam chưa hề thấy xuất hiện tác giả trẻ 8x nào đoạt giải. Phải chăng do cuộc thi này quá khắt khe hoặc 8x vẫn chưa đủ độ chín để đặt chân vào tiểu thuyết so tài với các nhà văn thế hệ trước?.

Hiền Nguyễn - Tổ Quốc

Cột đá thiêng - Nguyên Quân

Cột đá thiêng - Nguyên Quân

Cô gái dân tộc Pshi, cúi thấp xuống, ánh đèn neon màu nhợt nhạt không khỏa lấp nước da ngăm đen và đôi mắt tròn láy.

Ảnh: internet

Hắn đưa chiếc máy ảnh lên. Một quầng sáng vẽ vòng chớp lòa, như một ánh giông ngoằng ngoèo trên đầu ngọn Pelo. Sự đồng hiện ánh sáng trong khoảng không gian khép hẹp, dài ngoằn của căn nhà rông vô tình đánh thức lớp lớp ký ức.

- Azit à, anh chỉ muốn làm một ánh giông soi thật sâu ánh mắt em.

Ánh mắt Azit chùng xuống, lăn ra một giọt nước mắt trong veo phản chiếu cả bầu trời vần vụ cơn giông cuối hạ.

- Không thể anh à, em bây giờ rất sợ hãi...

- Nhưng chúng ta đã thề nguyền bên cột đá thiêng...

Azit ngắt ngang lời hắn:

- Không thể vượt qua đâu anh, luật lệ bản làng rất khắt khe.

- Thì chúng ta trốn đi xứ khác...

- Em không thể, cả nhà sẽ bị làng phạt vạ.

Azit vẫn cúi đầu thật thấp, những giọt nước mắt lăn chậm trên khóe mắt rồi rơi xuống giữa lòng bàn tay run rẩy đầy vết sẹo sần sùi của hắn.

Đêm trong căn nhà rông, cà phê đen đậm vẫn từng giọt xuống lòng chiếc ly thủy tinh trong suốt.

Thời gian đồng hiện như một thứ định mệnh chẳng khác chi của cái bản làng nằm ven dãy Trường Sơn bạt ngàn huyền sử u uất.

Ngày hắn xách ba lô rời bỏ bản làng trốn chạy những hệ lụy đau buồn của một kẻ không còn thánh địa niềm tin ẩn trú, ra đi lòng trống rỗng và trái tim đen đúa không còn sinh khí.

Azit tiễn đưa hắn bên cột đá thiêng.

Bức tượng đá trong huyền thuyết của người Pshi, vừa được phát hiện từ lòng đất. Là tác phẩm điêu khắc chất ẩn đầy máu, nước mắt và nỗi buồn bất tuyệt của Doi, người đàn ông khác chủng tộc duy nhất của vùng lãnh địa tộc Pshi.

Người Pshi không một ai biết người đàn ông sống cô độc bên mỏm sông cái đến từ đâu, cả người già nhất của làng như lão thầy mo giao tiếp được với ma thiêng, thần rừng và cả Giàng, cũng không hỏi ra người đàn ông lang thang ngụ cư ngoài rìa địa giới giang hà là tộc người gì, chỉ thấy xa xa nhân dạng da trắng như mây trời mùa hạ, tóc đen nhánh như cây muồng, cây mun, cao lớn dềnh dàng vượt hơn người cao nhất của tộc Pshi cả cái đầu.

Ông Doi chỉ sống một mình với căn nhà lá lưng chừng ngọn núi thiêng Pelo, nơi hợp lưu hai nhánh suối thành một con sông lớn. Mỗi ngày tự lên rừng trồng trỉa, đánh bẫy, xuống sông lưới cá, không giao thiệp với ai.

Dân Pshi hàng ngàn năm nay vẫn rất sợ mỗi khi theo dòng về miền xuôi. Tương truyền ở ngã ba sông là một vực sâu không đáy, đầy các giống thuồng luồng thủy quái rình rập bắt hồn người về cho hà bá. Nhưng từ lúc có ông Doi trú ngụ ở đó thì dòng sông trở nên êm ả, người Pshi cảm thấy rất yên tâm khi dong thuyền qua ngã sông Cái.

Rồi một ngày. Truyền thuyết Pshi kể rằng, người con gái đẹp nhất của bản bất chấp gia đình và luật lệ bản làng cấm con gái Pshi lấy đàn ông khác tộc, lại đem lòng yêu thương người đàn ông dị chủng trên núi cấm...

Azit chờ hắn, thân hình nhỏ nhắn như một cánh lan rừng của nàng ẩn kín sau bức tượng đá đã bị thời gian bào mòn hết gương mặt của nàng Azit hàng trăm năm trước. Người con gái Pshi chung thủy si tình đã nhảy từ trên đỉnh Pelo xuống vực sâu, khi nàng bị đám trai bản làng truy đuổi cướp tình theo tục lệ trừng phạt cổ xưa. Dù rất giận người đàn ông khác chủng tộc đã làm bản làng mất đi đóa hoa xinh tươi nhất, lũ trai làng Pshi vẫn chẳng dám sinh sự gã đàn ông khổng lồ, đã giúp làng trấn áp sự cuồng nộ thiên nhiên, của bầy thuồng luồng, thủy quái vực sâu sông cái. Doi, người đàn ông trầm uất lạnh giá kinh hồn trước cái chết của nàng Azit.

Azit trốn sau bức tượng của nàng Azit xưa, đang lở lói dần cảm giác cô độc chia ly. Sự hóa thân của quá khứ, hiện tại chợt u uất cả phương rừng đang chìm dần, chìm dần vào mê muội của bản năng bầy đàn cổ xưa... Nàng im lặng ngẩn nhìn khi hắn bước đến gần. Hắn đến bên Azit, hai bàn tay nâng khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nàng lên. Azit bật khóc thành tiếng, âm thanh tức tưởi của người con gái Pshi dội vào vách núi Pelo nghèn nghẹn uất ức.

- Anh đi thật sao?

- Anh ở lại đây để làm gì?

Azit yên lặng một lúc.

- Anh sẽ đi đến đâu?

Hắn chỉ tay về phía cuối dòng sông Cái đang cuộn chảy dưới chân núi:

- Anh về xuôi, nơi anh được sinh ra và đã bỏ đi rất lâu rồi...

Cái chớp lóe từ chiếc máy ảnh lại nháng lên; ánh mắt đen láy của Azit phản chiếu hình ảnh hắn với nét mặt trầm ngâm, giọng nói xa xăm của nàng như trầm xuống:

- Em vẫn rất sợ anh à, không dám bước thêm bước nữa. Cũng có người ngỏ ý, nhưng toàn thanh niên trong làng, với họ em luôn có cảm giác bất an.

Hắn khẽ khàng đặt chiếc máy ảnh xuống chiếc bàn bằng tre đan, những giọt cà phê đậm đen vẫn từng giọt từng giọt rơi xuống lòng chiếc ly thủy tinh trong suốt. Phía bên ngoài ô cửa nhà rông, những đỉnh núi cao ngun ngút mờ mờ ảo ảo, thứ ảnh ảo huyền thoại hiện thực hòa quyện thành sự im trầm đến rợn người. Cô gái Phsi vẫn âm giọng trầm buồn. Quá khứ đau thương của một lần lỡ bước với gã chồng nát rượu tàn bạo cứ nhè nhẹ buông lơi loang dần vào tâm tưởng hắn.

- Em không dám, em vẫn rất sợ cái địa ngục vừa mới được thoát ra…

Ánh nhìn của cô gái dừng lại ở chiếc bàn cuối căn nhà rông. Vài gã thanh niên của bản đang cười nói ầm ào, tiết điệu thanh âm của người bản địa vừa nhanh vừa líu lo như tiếng chim. Hắn bất chợt hiểu, mấy anh chàng nầy leo lên nhà rông ngồi với mấy ly cà phê là những cội si chiếu tướng người phụ nữ cùng bản dù đã qua một đời chồng và có đứa con gái nhỏ nhưng dung nhan còn cuốn hút. Chính gương mặt vừa u uẩn vừa ho- ang dã đến lạ lùng cũng cuốn hút hắn vào câu chuyện đầy nước mắt của nàng.

Hắn quên hết hiện tại cái thân phận lữ khách, chỉ dừng lại ở bản làng heo hút nầy vài hôm ngắn ngủi, ngửa đôi bàn tay úp tròn khuôn mặt ràn rụa nước mắt.

Người đàn ông dị tộc cặm cụi bên khối đá granic, đôi bàn tay ông bật máu, máu chảy tràn qua từng khóe móng đang cắm trên khối đá. Những vệt máu hằn sâu xuống từng nét khắc họa, đá và những ngón tay nhuộm máu.

Người dân Pshi, chỉ dám lén lút từ xa, họ kinh sợ đôi bàn tay to bè, rách nát từng ngày miết mòn theo thớ đá.

Bích diện nàng Azit hiện rõ dần theo năm tháng. Gương mặt người con gái Pshi có đôi mắt sâu hút ho- ang dại, bờ môi rám nắng ngọt ngào mỗi lúc mỗi hiện hằng trên thớ đá vô tri, thì gã Doi khổng lồ càng thêm gầy rộc, đôi bàn tay đẫm thêm nhiều máu.

Người Pshi cổ xưa không mang đầy đủ khái niệm thời gian, họ chỉ tính sự vận hành cuộc đời theo từng con trăng tròn khuyết trên nương rẫy, khe suối. Chẳng ai còn nhớ ông Doi đã hóa nhập cả hồn lẫn xác vào khối đá, không lên rừng, xuống sông kiếm miếng ăn bao nhiêu năm tháng.

Cô gái Pshi, hơi ngỡ ngàng khi hắn úp đôi bàn tay gói trọn gương mặt mình, mấy gã thanh niên bản đang cười nói lao xao chợt ngừng bặt, mọi ánh mắt giận dữ đều đổ dồn vào nơi hắn. Mặc dù bối rối ngỡ ngàng, Azit vẫn không né tránh những ngón tay nhám nhịt ve vuốt trên đôi má ướt đẫm lệ. Hắn vươn người qua chiếc bàn tre, khẽ đặt một nụ hôn lên vầng trán Azit.

Từ trong khóe mắt của bức tượng đá ứa ra từng giọt nước mắt màu máu, quyện lẫn hơi thở cuối cùng và nụ cười mãn nguyện trên gương mặt quắt khô không còn sự sống. Hơi thở cuối cùng và những giọt nước mắt màu máu ứa ta từ linh hồn bi ai của nàng Azit hóa nhập vào nhau biến thành cơn giông gió ì ầm trĩu xuống vùng núi rừng đang run lên bần bật. Con sông Cái ùng ục trào dâng từng ngọn sóng thần, cuốn trôi tất cả...

Ký ức hắn chùng xuống Azit bây giờ ở đâu... Cô gái Pshi vẫn khóc trong đôi bàn tay của hắn. Vạt nắng chiều đang dần lụi tắt sau lưng ngọn Pelo. Không gian trong căn nhà rông cũng dần sẫm tím, phin cà phê cũng rơi xuống hạt cuối cùng, óng lên màu nước mắt của nàng Azit.

Trại sáng tác Hồng Hạ - A Lưới
N.Q  
(TCSH330/08-2016)

Tác giả Nhật Linh 'Xin đừng gọi tất cả những người viết sách là nhà văn'

Tác giả Nhật Linh 'Xin đừng gọi tất cả những người viết sách là nhà văn'

Là một tác giả trẻ có khối lượng tác phẩm đồ sộ, Nhật Linh (Linh Ko I) luôn xác định được hướng viết và điều chỉnh được cảm xúc của mình. Cô cho rằng mình may mắn được đi nhiều, hiểu nhiều nhưng không viết quá nhiều so với những gì mà cô muốn.

* Chào Nhật Linh, kể từ sau lần tái bản của tản văn “Nín đi con” là 2 năm sau, bạn mới viết tác phẩm mới là tản văn "Đến Nhật Bản học về cuộc đời"?

- Tôi không phải là người viết quá nhiều, ít nhất là so với những gì tôi muốn viết. Hơn nữa quan niệm của tôi, muốn viết sâu thì phải sống kĩ, nhất là với một người tuổi đời lẫn tuổi nghề còn non như tôi thì tôi cần thời gian để sống thật chậm đã rồi sẽ viết thật đậm.

* Là một tác giả 9X, tuy chưa xuất bản đa đạng đầu sách, bên cạnh đó có rất nhiều bạn trẻ khác theo đuổi con đường viết lách, tuy nhiên tôi để ý là chỉ có mỗi bạn nhiều năm thường xuất hiện trên báo chí, truyền thông, và cũng có không ít độc giả quan tâm. Với sự ưu ái đó bạn có nghĩ rằng mình là người đặc biệt?

- Tôi không nghĩ rằng mình là người đặc biệt, cũng không thể nói rằng vạn sự đều do may mắn. Cuộc sống thì lúc nào cũng đầy rẫy khó khăn, người trẻ nào cũng phải học cách đi qua đủ thứ thử thách trên con đường không dễ dàng để theo đuổi đam mê và chinh phục ước mơ. Tôi cũng vậy, không khác gì họ. Nhưng rõ ràng, mỗi người đều là duy nhất. Sự duy nhất làm nên sự khác biệt, và sẽ trở nên đặc biệt.

Tôi có những cơ hội xuất hiện trên các phương tiện truyền thông có lẽ vì 4 năm qua, mỗi một lần chia sẻ câu chuyện, suy nghĩ của mình, như kéo dài một sợi len, kéo mãi kéo mãi mà hình như vẫn chưa hết cuộn (cười).

Thật sự cảm ơn những độc giả, những người yêu quý tôi, vì họ luôn kiên nhẫn đồng hành và trìu mến nhìn tôi “kéo một sợi len”.

* Tiếp tục về vấn đề chia sẻ, bạn có thể tiết lộ một ít về các dự định sắp tới với vai trò là một tác giả?

- Cứ 2 năm tôi sẽ viết một quyển sách mới, tuy nhiên thời gian tới, tôi có thể sẽ viết dày hơn. Tôi đã không viết liên tục, liền mạch là còn bởi quá bận cho công việc ở các lĩnh vực khác, bên cạnh đó phải song song với việc học, học ở trường, học ở những người giỏi hơn, học từ quá trình lao động và học từ cuộc sống.

Rồi thì cũng đến một thời điểm tôi tự cảm nhận tôi đã ngấm vừa đủ trong sự ngâm mình giữa những tháng năm trẻ tuổi nhiều cảm xúc, trải nghiệm và bài học. Khi đó, tôi sẽ tập trung viết nhiều hơn. Bởi viết trước hết là một sự tự đối thoại với bản thân và là một sự tự lưu giữ thành kỉ niệm.

Quyển sách mới của tôi do Nhà xuất bản Trẻ phát hành, có tên là Đến Nhật Bản học về cuộc đời. Sau khi phát hành 1 tuần ở Hà Nội và Sài Gòn thì may mắn được sự đón nhận nên đang tái bản lần thứ 2.

* Bạn có thể giới thiệu thêm một chút về lý do viết tác phẩm mới?

- Có rất nhiều người chọn lựa Nhật Bản là đất nước để học về ngôn ngữ, chuyên môn hoặc là môi trường lao động. Mục đích của tôi khi đến Nhật là để trưởng thành hơn bằng cách cho cuộc đời dạy học. Muốn đạt được mục đích, tôi cần sống luồn xuyên và len lách vào những góc khuất nhất, xuống đến tầng lớp đáy nhất, tiếp xúc với mặt trái xã hội, chấp nhận va chạm với đa dạng người, để có thể có cơ hội khám phá những ẩn sâu trong tâm lý người Nhật...

Và sau cùng, tôi nhận ra được những vẻ đẹp tâm hồn, lòng tự trọng, sự tử tế, tình cảm quan tâm, tận tình giúp đỡ của nước Nhật... nhiều hơn cả. Có lẽ bởi tôi đã học được cách lọc lắng giữa cay đắng, là giữ lấy những ngọt ngào. Và đời thì ngắn lắm, hãy tiêu cực ít thôi từ cách nhìn cách cảm đến cách nghĩ cách sống.

* Là người có nhiều độc giả quan tâm, bạn có nghĩ rằng mình là người văn hay chữ tốt?

- Có rất nhiều người viết nhưng không phải ai cũng biết viết.

Tôi chỉ mới là người viết biết viết. Cái sự biết viết đấy không thể tự nhiên mà có, đó là kết quả của 14 năm tỉ mẩn quan sát sự vật, hiện tượng, của 9 năm học hỏi, tìm hiểu về lý luận văn học và các quy luật ngôn ngữ...

Đối với tôi từ biết viết đến viết tốt, đến viết sâu đến viết chạm thấu lòng người là những khoảng cách khác nhau. Mà người viết nào cũng nên nỗ lực. Giống như để cho độc giả đọc văn mình là một chuyện, biết mình là chuyện khác, rồi quý mình tin mình và đồng hành dài lâu là câu chuyện khác nữa.

Vì thế, xuất bản một quyển sách không phải khó khăn. Nhưng để thực sự là một "nhà văn" là điều rất khó. Xin đừng gọi tất cả những người viết sách là nhà văn, nhất là những cây viết trẻ. Họ không ý thức được sức nặng của danh xưng nghề, họ dễ ảo tưởng, đừng vì dùng sai từ nhầm chữ mà che mờ đôi mắt và cản đường cố gắng của họ.

* Suy nghĩ của bạn về xuất bản Việt Nam khi sách ra ngày một nhiều với tốc độ chóng mặt?

- Đó là những mặt đối lập mâu thuẫn của thị trường xuất bản Việt Nam, trong khi rất nhiều người khát sách như khát nước nhưng đứng giữa biển sách nhưng vẫn không chọn lọc được sách hay sách hợp. Hoặc là người trẻ ra sách rất nhiều mỗi ngày, nhưng không có sức bật, không có dấu ấn. Văn không có độ bám, tác phẩm không có khả năng đọng lại.

Trong khi một số nhà văn thế hệ cũ tâm huyết với nghề đam mê với chữ thậm chí còn phải tự bỏ tiền ra in để đem tặng.

Độc giả vẫn loay hoay tìm sách, còn sách vẫn bạt ngàn trên kệ.

Để giải quyết vấn đề zic zắc trật khớp này không chỉ là ngày một ngày hai. Nhưng vẫn phải cần có ai đó sửa lại.

* Cảm ơn Nhật Linh và chúc bạn luôn thành công hơn nữa.

Theo Thể thao & Văn hóa

Truyện ngắn của Anh Thư: Người giúp việc

Truyện ngắn của Anh Thư: Người giúp việc

- Cơm với nước, thế này mà cũng gọi là nấu cơm à!

Bà cầm đĩa cá rán lên rồi trút hết cả xuống mâm, tiện tay trút thêm cả đĩa trứng. Đĩa cá rán và đĩa trứng rán, món ăn khoái khẩu của em tôi lẫn lộn đầy kiến... rán. Chị Hoa nước mắt chảy ròng, đứng im nhẫn nhục chịu trận.

Sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra nếu thằng cu Bin không hồn nhiên la toáng lên: “Kiến, kiến, trời ơi, sao bao nhiêu kiến trong thức ăn thế này”. Tôi đã bấm vào tay nó, ra hiệu cho nó im mà nó chẳng chịu hiểu. Thằng ngốc thế không biết! Chẳng là tôi với nó ăn cơm trước để còn đi học. Chị Hoa giúp việc của nhà tôi không biết nấu nướng thế nào mà cả đĩa trứng rán, cá rán đầy kiến là kiến. Thêm món canh dưa nữa cũng nổi lềnh bềnh những kiến. Bà đang giương mục kỉnh ngồi xem phim, nghe tiếng cu Bi kêu lật đật chạy đến, đưa từng đĩa thức ăn lên sát mắt nhìn ngó chăm chú rồi... trút hết cả xuống mâm.

- Con Hoa kia! Có nấu bữa cơm thôi mà mày làm ăn thế này à?

Chị Hoa thút thít:

- Dạ, dạ, cháu xin lỗi. Chắc cháu... cái chảo lúc trưa còn mỡ, cháu lấy rán lại, chắc kiến chui vào mà cháu không biết...

- Chảo còn mỡ, nấu xong thì phải trút ra bát, đậy cẩn thận vào chứ. Dặn bao nhiêu lần rồi mà không chui vào đầu được a? Bà vẫn chưa thôi giận giữ.

Có tiếng cửa lách cách.

- Con chào mẹ. Nhà mình có chuyện gì thế ạ?

Bố về! Cu Bi thở hắt ra như trút được gánh nặng.

- Hai chị em đã ăn cơm xong chưa? Nhanh để bố còn đưa đi chứ. Ồ mà...

Câu nói của bố dừng lại lưng chừng. Nhìn mâm cơm tung tóe, bố như đoán như hiểu ra chuyện gì.

- Chị Hoa làm thức ăn... có kiến ạ - Thằng cu Bi lắp bắp.

- Kiến à, đâu đưa bố xem nào?

Bố gắp một miếng trứng cho vào miệng, nhai nuốt ngon lành.

- Chà, đang đói, được miếng trứng tỉnh cả người. Kiến thì có làm sao. Kiến không phải là  sinh vật truyền nhiễm bệnh, phải không cu Bi! Có những bộ tộc người ta còn ăn kiến ấy chứ. Chà, món kiến chiên chắc là nhiều vi chất bổ sung lắm đây. Thôi, ăn cơm đi. Bố cũng ăn luôn. Chở hai chị em đến trung tâm ngoại ngữ xong là bố còn phải đi có việc nữa. Mẹ cũng ăn luôn đi, nhà con hôm nay chắc về muộn.

Bố vừa nói, vừa ngồi vào bàn, quên cả việc rửa tay. Cu Bi biết cũng chẳng buồn nhắc. Chắc nó sợ bố đi rửa tay, chiến tranh giữa bà và chị Hoa lại xảy ra. Quả thực bố đã giải cứu cho chị Hoa một bàn thua trông thấy. Nhưng bà đâu có dễ bị bố đánh lạc hướng như vậy. Bà lầm bầm “Tôi không đói” rồi xô ghế đứng dậy, trở về phòng riêng.

- Hay cái Hoa nó là con riêng của anh thật?

- Sao em lại hồ đồ như thế. Em nói vậy không sợ con nó nghe thấy à?

- Dào ôi, có gì mà nghe thấy với chẳng không nghe thấy. Cái ý này đâu phải em nói ra. Là mẹ nói đấy chứ.

- Mẹ... em còn lạ gì tính mẹ nữa. Em biết thừa mẹ không ưa cái Hoa rồi còn gì.

- Không ưa? Em hỏi anh, ai mà ưa được nó cơ chứ. Mắt mũi thì kèm nhà kèm nhèm. Làm ăn thì chớt nhả, sai gì làm nấy, chẳng bao giờ tự giác được việc gì. Từ hôm nó lên đây, nhà cửa cứ rối tung cả lên.

- Thì anh chẳng bảo với em là đợi một vài tháng nữa, anh sẽ xin cho nó đi làm công nhân. Cả anh và em đều bận. Mẹ thì già rồi không giúp được gì. Nhờ cái Hoa giúp việc cho nhà mình một thời gian...

- Giúp việc! Với tiêu chí người giúp việc thì em không bao giờ chọn cái Hoa.

- Con bé chưa quen thì mình bảo ban nó, làm gì mà em cứ phải mặt nặng mặt nhẹ với nó thế...

- Tôi mặt nặng mặt nhẹ ấy à! Anh nói tôi như vậy chứ gì?

Oa, mẹ đã xưng “tôi” với bố rồi, hứa hẹn một trận cãi vã đây. Tôi chẳng buồn nghe nữa. Còn một đống bài tập cuối tuần phải giải quyết. Việc bố mẹ xích mích cũng bình thường như cân đường hộp sữa ấy mà, nhất là từ hôm chị Hoa lên đây. Công bằng mà nói thì tài nội trợ của chị Hoa chẳng khéo léo gì. Chị đã ở nhà tôi hai tháng rồi mà bữa nào cũng vậy, hôm thì bà kêu rau chị luộc sống, hôm thì kêu canh mặn, hôm thì... Đồ dùng trong nhà, cái gì chị cũng lạ, cũng phải hỏi cách sử dụng. Nào lò vi sóng bật thế nào, chế độ quay chế độ nướng ra sao, rồi máy giặt rồi bếp từ vân vân và vân vân... Dạy cho chị hai ba lần mà chị vẫn quên. Hôm vừa rồi, chẳng hiểu sao chị tuột tay làm vỡ cái nồi thủy tinh, khiến cho bộ nồi cô Hạnh gửi từ bên Nhật về biếu bà khuyết mất một chiếc. Bà tiếc hùi hụi. Và tất nhiên, bà cho chị một bài học dài đến mười lăm phút. Chị Hoa ngồi im chịu trận, mặt cứ ngây ra. Buồn cười.

Không hiểu sao bà lại không ưa chị Hoa, chưa nói rằng bà ghét. Tất nhiên điều này ảnh hưởng không tốt tới mẹ rồi! Bà nói với mẹ rằng bố và mẹ chị Hoa ngày xưa... yêu nhau. Tôi hỏi lại bố, bố rất ngạc nhiên, vặn tôi rằng có thực con nghe bà nói như thế không. Tôi bảo thực. Bố có vẻ buồn lắm. Bố bảo bà nói thế không đúng đâu, con đừng tin. Tôi hỏi thế tại sao bà lại ghét chị Hoa. Bố bảo bố cũng chẳng rõ, hình như ngày trước bà chị Hoa và bà có mâu thuẫn chi chi đó, chuyện người lớn, con biết vậy thôi. Bố bảo hoàn cảnh chị Hoa đáng thương. Nhà mình với nhà chị ấy cũng có đôi chút họ hàng xa. Thôi mình giúp được việc gì thì giúp cho người ta con ạ. Bà già rồi. Người già khó tính. Rồi bố sẽ tác động dần dần để bà hiểu. Thế còn mẹ, mẹ đang nghi chị Hoa là con riêng của bố mà! Ôi, con nghe thấy bố mẹ tranh luận à? Đừng để tâm con ạ. Mẹ nói vậy thôi nhưng bụng dạ mẹ chẳng nghĩ vậy đâu. Bố biết bố hiểu mẹ con mà.

Bố dặn tôi phải thân thiết với chị Hoa. Chị ấy chỉ hơn con vài tuổi thôi, giống như chị gái vậy. Đừng xa lánh chị kẻo chị tủi. Ngày xưa, khi bố còn nhỏ, trong một lần đi tát cá, bố bị cảm, ngã sấp xuống mặt bùn. Chính mẹ chị Hoa đã cõng bố về nhà, rồi còn chạy đôn chạy đáo đi kiếm gừng và rượu đánh gió cho bố, trong khi bà hốt hoảng kêu khóc ầm ĩ. Tôi gặng “Thế có đúng là sau này mẹ chị Hoa yêu bố không?”. Mẹ chị Hoa hơn tuổi bố, là phận con nhà nghèo, quá lứa lỡ thì con ạ. Tội nghiệp. Mải công mải việc, bố cũng quên bẵng bác ấy. Hôm rồi về làng, bố tình cờ gặp lại. Bác ấy thì già rồi, chị Hoa lại chẳng sắc sảo khôn ngoan như người ta nên hoàn cảnh khó khăn lắm. Chị Hoa phụ giúp việc cho nhà mình cũng là cách để mẹ con chị ấy có thêm thu nhập con ạ. Để hôm nào rảnh rảnh, bố sẽ đưa chị ra viện mắt khám xem sao, chứ mắt mủi lem kem thế thì xin việc ở đâu được. Rồi sau còn chồng con nữa chứ. Mà bố nói cho con thêm chi tiết này để con thông cảm hơn với bà nhé. Bà mình và bà ngoại chị Hoa vốn là “tình địch” của nhau đấy. Thời trẻ, cả hai đều yêu ông. Con đừng cười nhé. Già mà vẫn còn ghen tuông vớ vẩn thế đấy, nghi kị thế đấy. Người già bao giờ cũng có phần trẻ con trong đó, con ạ.

Hi hi, bố bao giờ cũng dí dỏm như thế, nhưng những điều bố nói tôi nhớ rất nhanh. Thực ra tôi đâu có ghét bỏ gì chị Hoa. Từ hôm có chị, tôi không phải đảm nhận việc rửa bát - một công việc mà tôi ghét cay ghét đắng. Tôi cũng chẳng phải lo tắm rửa cho cu Bi, hay gấp chăn gấp màn... Chị Hoa làm hết. Chị còn rất quan tâm đến tôi đấy nhé. Bằng chứng là mỗi lần mẹ mua hoa về cắm, bao giờ chị cũng lựa ra một bông đẹp nhất mang lên phòng cho tôi. Lọ hoa xinh xinh ở bàn học trông thú vị, hay hay, khiến tôi hào hứng với việc học hơn thì phải. Tôi chẳng hề biết là chị ấy rất thích rất yêu hoa. Còn bà, mỗi lần nhìn thấy chị nâng niu những bông hoa, bà nhăn mặt, vẻ không được thoải mái lắm. Có lần tôi còn nghe bà lầm bầm bảo chị là đồ nhà quê, sĩ rởm. Tôi chỉ thấy buồn cười và thương bà. Rõ là bà rất khó chịu với chị Hoa. Cũng may là chị không cắm hoa trong phòng chị, nếu không thì...

Những lúc rảnh, tôi hay đọc sách cho chị Hoa nghe. Và để “trả công”tôi, chị kể nhiều chuyện ở quê mà tôi không biết, chuyện cắt lúa ra làm sao, chuyện tát cá thế nào. Kể cả chuyện người ta diệt ốc bươu vàng, chị mang về nhà nấu canh chuối đậu thơm nức. Qua lời chị, tôi thấy món gì ở quê cũng ngon, cái gì ở quê cũng hứa hẹn để khám phá. Chỉ có điều, kể chuyện quê xong, mắt chị Hoa lại rân rấn nước. Tôi hỏi chị nhớ nhà à? Chị bảo không, là tại mắt chị quáng gà nên vậy. Tôi tin sái cổ.

Cũng có lần, vô tình tạt qua phòng chị, tôi thấy chị ngồi im, hai bàn tay khum khum như nắm như giữ một thứ gì quý lắm ở bên trong. Hai cánh mũi của chị phập phồng, hít hà, còn đôi mắt quáng gà thì nhìn đi tận đẩu tận đâu. Tôi hỏi chị có cái gì trong tay đấy? Chị giật mình, mặt đỏ bừng, lật đật đứng dậy giấu “bảo bối” đi.

Mà nói cho cùng thì chị Hoa cũng chẳng có gì ấn tượng với tôi lắm. Chị không xinh xắn, chưa nói là rất quê mùa. Chị chẳng khéo léo, chưa nói là vụng về. Được mỗi một tính tốt là hiền lành và chịu nhịn. Nhiều lúc tôi và cu Bi có tỏ vẻ bắt nạt chị một chút thì chị cứ đần ra, trông tội nghiệp ghê! Sự có mặt của chị cũng đã quen thuộc với tôi và cu Bi và phần nào, cả với mẹ. Có chị, mẹ được thong thả hơn, bớt đi bao nhiêu thời gian dành cho dọn dẹp, cơm nước. Bố thì chẳng nói rồi. Bố vốn dễ tính, lại đi suốt ngày. Vả lại, bố cũng rất quan tâm tới hoàn cảnh của chị.

Nhưng rồi chị Hoa nhất định đòi về, không ở nhà tôi nữa, cho dù bố và cả mẹ cố giữ chị. “Nếu cháu không muốn ở đây, cô sẽ tìm cho cháu một chỗ làm khác”. “Cháu cảm ơn cô, nhưng cháu chỉ muốn về nhà mà thôi. Cô cho phép cháu về”. “Cháu đừng giận bà. Người già đôi khi khó tính chứ bà cũng không có tâm địa nào” . “Không, cháu không giận bà. Cháu chỉ muốn về nhà thôi chứ cháu không giận bà”. Nghe câu này, bà đang ngồi ở salon liền đứng phắt dậy, mặt sa sầm, buông một câu mát mẻ “Tử tế quá. Ta chẳng thèm!” rồi thủng thẳng đi lên cầu thang.

Chẳng là hôm qua, thằng cu Bi đòi ăn khoai tây chiên. Muốn khoai ngon thì phải đổ nhiều dầu ăn, mà dầu ăn thì phải thật sôi. Vốn hậu đậu, lại thêm đôi mắt quáng gà, nên khi đổ khoai vào chảo, chị vụng về thế nào làm mỡ vung tung tóe. Bà đứng gần đấy, bị mỡ bắn vào mắt, vào mặt. Tức mình, bà cầm cả bình nước nóng ném vào chị. May mà chị nhanh chân tránh kịp. Tủi thân, chị khóc suốt. Đến hôm sau, chị gói ghém quần áo đòi về quê.

...

Tôi và bố tiễn chị ra ga. Lúc chuẩn bị lên tàu, chị dúi vào tay tôi một gói nhỏ, đôi mắt quáng gà rân rấn nước. Tàu rời ga, tôi mới mở ra xem. Một cái túi vải nhỏ nhỏ xinh xinh. Đường chỉ khâu không được thẳng, mũi kim xiên xẹo lúc to lúc nhỏ. Trong chiếc túi ấy là những bông hoa khô, tỏa mùi thơm thoang thoảng, ngai ngái. Tôi chợt nhớ tới lọ hoa xinh xinh chị thường đặt trên bàn học của tôi, nhớ cả lần bắt gặp chị trong phòng đang khum khum hai bàn tay, cánh mũi nhỏ rung rung hít hà, đôi mắt quáng gà rưng rưng...

- Bố, mình tính sao bây giờ hả bố?

- Ừ, để bố nghĩ đã con ạ. Có thể cuối tuần bố sẽ về quê.

- Nhưng sao bố bảo bố phải đi công tác?

- Ừ, thì công tác. Nhưng bây giờ việc ấy không còn quan trọng nữa. Bận bịu công việc là lý do để người ta chối bỏ trách nhiệm của mình. Bố phải làm một việc, dẫu muộn. Đó là trả ơn người đã cứu mình con ạ.

- Nhưng bố định làm gì? Chị Hoa không lên giúp việc cho nhà mình nữa đâu. Con hiểu tính chị ấy.

- Ừ, bố đã quá đơn giản khi nghĩ rằng giúp chị ấy có một công việc là trả được ơn cũ. Trong chuyện này, người đáng trách phải là bố. Bố sẽ bắt đầu lại con ạ.

Chưa bao giờ tôi thấy gương mặt bố nghiêm nghị và khó gần đến như vậy. Từ hôm qua đến hôm nay, bố như già đi thì phải. Hẳn bố đã suy nghĩ rất nhiều về những chuyện đã xảy ra. Chị Hoa tội nghiệp của tôi! Chuyến tàu đưa chị Hoa trở về nhà đã đi xa lắm rồi mà bố con tôi vẫn chưa rời ga. Một làn gió lạnh lướt qua. Tôi hơi rùng mình, giữ chặt chiếc túi trong hai bàn tay khum khum, sợ mùi thơm hiếm hoi của những bông hoa khô bay đi mất.

Anh Thư - Văn học quê nhà

​Nguyễn Đình Tú: "Viết cho thiếu nhi là một thách thức"

​Nguyễn Đình Tú:

Vốn được độc giả yêu thích ở lĩnh vực tiểu thuyết hình sự, nhà văn Nguyễn Đình Tú dấn thân vào con đường chinh phục bạn đọc nhí.

Nhà văn Nguyễn Đình Tú - Ảnh: THÀNH DUY

Nguyễn Đình Tú là một cây bút ăn khách hiện nay. Anh có tám tiểu thuyết đã xuất bản, cùng ba tập truyện ngắn. Một số tác phẩm của Nguyễn Đình Tú được chuyển thể thành phim, trong đó nổi bật nhất là Phiên bản (chuyển thể phim Hương Ga).

Nhắc tới Nguyễn Đình Tú là nhắc tới những câu chuyện dữ dội, khốc liệt, gai góc của cuộc sống với những vụ án ly kỳ, câu chuyện thời hậu chiến, những shock và sex…

Đang thỏa sức vẫy vùng trong cuộc chinh phục văn đàn với đối tượng độc giả lớn tuổi, Nguyễn Đình Tú bỗng ngoặt sang một hướng khác: viết cho thiếu nhi.

Bắt đầu viết cho độc giả nhỏ từ năm 2014, với tập truyện ngắn Ba nàng lính ngự lâm, sang 2015 Nguyễn Đình Tú có một quãng chuyển với tập truyện dành cho tuổi mới lớn: Thế gian màu gì. Tiểu thuyết Chú bé đeo ba lô màu đỏ vừa ra mắt hè này được bạn đọc nhỏ đón nhận.

Chú bé đeo ba lô màu đỏ là câu chuyện về Hưng - cậu bé mười tuổi, từ nhỏ đã sống cùng bố mà chưa biết mặt mẹ. Khi có biến cố xảy ra, cậu bước vào hành trình tìm kiếm mẹ. Hành trang mang theo là chiếc ba lô màu đỏ, cậu được đặt biệt danh là “Chú bé đeo ba lô màu đỏ”.

Lên đường tìm mẹ, chú bé 10 tuổi Hưng không biết rằng phía trước cậu là một hành trình đầy bão tố. Cậu đi qua nhiều vùng đất, gặp bao người tốt kẻ xấu. Nhưng những biến cố không làm cậu buồn nản, mà giúp cậu trưởng thành hơn.

Các cuốn sách viết cho thiếu nhi của Nguyễn Đình Tú - Ảnh: NHO QUÂN

Nguyễn Đình Tú cho biết anh viết cho thiếu nhi từ một thách thức. Nhiều người cho rằng Nguyễn Đình Tú không thể viết cho độc giả nhỏ, không thể tưởng tượng được anh sẽ viết cho bạn đọc nhỏ tuổi. Chính điều đó đã kích thích nhà văn, bởi theo anh sáng tạo là một cuộc phiêu lưu.

Lý do để anh cầm bút viết còn xuất phát từ chính nhu cầu của đối tượng độc giả nhỏ. Nguyễn Đình Tú kể khi đưa con gái đi mua sách, anh cũng loay hoay tìm sách văn học trong nước cho con.

“Thiếu nhi là lứa độc giả đông đảo, đáng yêu, đáng phục vụ, nên mình thấy cần phải viết cho các em” - anh nói.

Động lực là vậy, nhưng khi bắt tay vào viết cho thiếu nhi, nhà văn gặp nhiều bỡ ngỡ. Trước đây, khi viết cho người lớn, Nguyễn Đình Tú thường đi tìm những phức tạp của cuộc sống để mổ xẻ, lý giải nó.

Câu chuyện, nhân vật, nhân sinh quan trong các tiểu thuyết của anh đều phức tạp, đa chiều. Cho tới khi viết cho bạn đọc nhỏ, nhà văn phải tìm cách đơn giản hóa câu chuyện.

Cho rằng viết lách là một hành trình, Nguyễn Đình Tú bảo sáng tác cho người lớn và sáng tác cho thiếu nhi trái nhau về lối đi.

“Tôi đang đi một lối đã quen, giờ đi lối này thì bỡ ngỡ, chưa thạo tay. Nhưng tôi xác định lối đi này chinh phục cánh rừng này, lối đi kia chinh phục dòng sông kia. Cái quan trọng là mình chinh phục cái gì thì chấp nhận lối đi đó, dù mịt mùng, chông gai, quen thuộc hay xa lạ”.

Để chinh phục bạn đọc nhỏ, Nguyễn Đình Tú dùng những phương thức khác nhau. Ở Ba nàng lính ngự lâm, anh đưa vào một liều lượng hài hước nhất định.

Nhà văn chia sẻ: “Viết sao cho tếu táo, vui vẻ không hề dễ. Nhưng hiện thực cứu mình. Từ câu chuyện mà con gái kể, tôi giữ lại hồn cốt vui vẻ đó rồi đưa vào trang sách”.

Đến tiểu thuyết Chú bé đeo ba lô màu đỏ, tác giả quay lại thế mạnh của mình, là viết về nỗi buồn. Nhà văn muốn viết một tiểu thuyết thiếu nhi mang hơi hướng cổ điển, như những Không gia đình, Hoàng tử bé, Trên sa mạc và trong rừng thẳm, Đất rừng phương Nam…

“Khi viết, tôi hướng tác phảm tới sự ám ảnh, tràn ngập lòng nhân ái và phảng phất buồn. Chỉ một chút buồn thôi, cái buồn đủ để lên men, giúp các em đọc xong có thể yêu hơn gia đình, bạn bè, cuộc sống này hơn” -Nguyễn Đình Tú nói.

Bạn đọc nhỏ xếp hàng xin chữ ký vào sách của Nguyễn Đình Tú tại Hà Nội - Ảnh: THÀNH DUY

Không chỉ được bạn đọc nhỏ đón nhận, tiểu thuyết viết cho thiếu nhi của Nguyễn Đình Tú cũng thu về những đánh giá tích cực. Tiến sĩ Ngữ văn Phan Tuấn Anh nhận xét:

“Tiểu thuyết này đủ sức kéo phăng một bạn đọc nhỏ tuổi vào trong thế giới chữ nghĩa của nó. Bởi nhịp độ, tiết tấu nhanh, cốt truyện liên hoàn nhưng đa dạng và gắn với chất phiêu lưu (từ Bắc vào Nam của Hưng), pha chút lãng mạn (các câu chuyện tình yêu) và cả kinh dị, hành động (vụ bắt con trăn khổng lồ, bắn mũi tên vào con chó và tên chủ quán karaoke ôm có bộ râu quai nón”.

Tiến sĩ Giáo dục học Thụy Anh - Chủ nhiệm Câu lạc bộ Đọc sách Cùng con - chia sẻ cảm nhận:

“Chiếc ba lô màu đỏ là biểu tượng của cái thiện, cái trong sáng được lọc ra bằng những kỷ vật, ký ức, kỷ niệm - những gì đẹp nhất con người ta có thể có được, và cũng là thứ khiến cậu bé Hưng trở nên khác biệt, là sự ấm áp vững chãi để cậu dựa lưng vào, vượt qua mọi thử thách trên chặng đường lưu lạc ấu thơ”.

Nho Quân - TTO

Trang 6 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1030
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519068

20 144
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 510 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: