Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Văn học trẻ đang bị “già hóa”?

Văn học trẻ đang bị “già hóa”?

Các nhà văn tham dự Hội nghị viết văn trẻ, ngoài thành tích văn học, còn được quy ước là có tuổi đời không quá 35. Tuy nhiên, dường như giới hạn tuổi này đang bị “giãn”.

Nâng tuổi đại biểu tham dự Hội nghị viết văn trẻ

Định nghĩa “văn học trẻ” dường như đến nay vẫn chưa tìm được tiếng nói thống nhất. Nếu căn cứ vào giọng văn thì có trường hợp người còn trẻ tuổi nhưng giọng văn “cũ kỹ”, (khác và không giống kiểu trưởng thành, già dặn) chẳng khác mấy chục năm trước, người thì tuổi đã không còn được gọi là trẻ nhưng văn chương lại chịu khó tìm tòi, đổi mới mà nếu độc giả đọc tác phẩm không nhìn tên thì có lẽ không nghĩ đây là nhà văn “già”.


Một số gương mặt nhà văn trẻ chụp ảnh kỷ niệm (ảnh Fb)

Nếu căn cứ vào tuổi nghề thì có trường hợp người đã già nhưng mới cầm bút, trong khi có người tuổi còn trẻ nhưng đã có thâm niên cầm bút nhiều năm.

Thôi thì cứ thống nhất tên gọi “nhà văn trẻ” một cách “chung” nhất, là căn cứ vào “tuổi đời” như cách lựa chọn lâu nay của các Hội Nhà văn từ trung ương đến địa phương.

Theo đó, các nhà văn trẻ được lựa chọn trở thành đại biểu tham dự Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc, ngoài thành tích văn học, còn được quy ước là có tuổi đời không quá 35. Tuy nhiên, dường như giới hạn tuổi này đang bị “giãn” ra.

Trên FB “Ban Nhà văn Trẻ và những người Bạn” - FB của Ban Nhà văn trẻ, Hội Nhà văn Việt Nam có đưa ra tiêu chí để lựa chọn đại biểu chuẩn bị cho Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX là:  “Tác giả sinh từ năm 1980 trở lại đây, có thành tích văn học nổi bật, đại diện cho các vùng miền trong toàn quốc”.

Điều này có nghĩa là, thay vì độ tuổi “không quá 35 tuổi tính đến năm diễn ra Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc” thì các đại biểu đủ điều kiện tham dự Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX là 36 tuổi - nhiều hơn 1 tuổi so với các kỳ Hội nghị Viết văn trẻ trước kia.

Trước đó, tại Hội nghị những người Viết văn trẻ Hà Nội năm 2015 cũng đưa ra tiêu chí “độ tuổi” không giống với Hội Nhà văn Việt Nam.

Tiêu chí “tuổi” dành cho các đại biểu viết văn trẻ của Hà Nội là có độ tuổi không quá 40. Đặt câu hỏi cho một thành viên của Ban nhà văn Trẻ Hà Nội để hỏi lý do thì thành viên này cho rằng nếu lấy tuổi không quá 35 như Hội Nhà văn Việt Nam thì ở Hà Nội vẫn có nhưng ít, và cũng ít có thành tựu nên Hội đã quyết định đưa ra tiêu chí không quá tuổi 40.

Văn trẻ “già hóa” nói lên điều gì

Định kỳ sau mỗi 5 năm Hội Nhà văn Việt Nam mới tổ chức một Hội nghị Viết văn trẻ. Còn Hội Nhà văn Hà Nội thì tận sau hơn 20 năm mới tổ chức được Hội nghị Viết văn trẻ thủ đô lần thứ 2. Vậy tại sao số đại biểu tham dự Hội nghị viết văn trẻ phải “nâng tuổi lên”. Xin tạm đưa ra một vài lý giải theo quan điểm cá nhân sau.

Để có “đội hình đẹp”. Bởi nếu áp dụng đúng độ tuổi như ở Hội nghị trước thì số lượng đại biểu đủ tiêu chuẩn để tham dự Hội nghị Viết văn trẻ kém hơn kỳ trước nên phải nâng tuổi, nới rộng tiêu chuẩn.

Thứ đến có thể là do các tác giả trẻ đã kém mặn mà viết văn. Văn học cũng cùng xu thế với môn Ngữ văn học trong trường phổ thông đang “giảm nhiệt”. Một phần nữa là sự định hướng của gia đình, nghề nghiệp với quan niệm khó xin việc ở các ngành xã hội, còn văn chương thì “rẻ như bèo”. Vì thế, nếu các cây bút trẻ có năng khiếu văn chương không hoặc chưa được phát hiện, bồi dưỡng, phát huy năng lực… thậm chí, những người có năng lực văn chương còn phải trải qua “thử thách”, trong đó có thử thách thời gian.

Thành tích văn học trẻ được ghi nhận đã thay đổi. Nếu như trước đây các tác giả chỉ cần có tác phẩm được đăng trên báo chí, tạo được sự chú ý là có thể được mời tham dự Hội nghị Viết văn trẻ, thì nay điều kiện này chưa thể đủ. Tác giả ngoài việc xuất hiện trên báo chí, tạo được dư luận còn phải in sách, có giải thưởng và được nhìn nhận có triển vọng để đi đường dài văn chương…

Xu thế “già hóa” theo Hội Nhà văn Việt Nam. Được biết, trong tổng số hội viên Hội nhà văn, số người ở độ tuổi từ 40 trở lên - tức là đã không còn tuổi để được coi là “nhà văn trẻ” chiếm khoảng hơn 90%. Nếu ở các dịp hội thảo, đại hội hay hội nghị của Hội Nhà văn Việt Nam thì chỉ cần bằng mắt thường cũng dễ dàng nhận ra sự già hóa này. Và nằm trong xu thế “già hóa” này không loại trừ cả các nhà văn trẻ?

Hiền Nguyễn - Văn học quê nhà

Nhận diện phê bình văn học trẻ

Nhận diện phê bình văn học trẻ
Nhiều người đã từng ví sáng tác và phê bình văn học như đôi chân của một cơ thể con người, cần phải được cân bằng.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV và các nhà văn trẻ

Chỉ cần một chân ngắn, teo tóp dù chỉ vài mi li mét, và một chân dài, bình thường đã khiến sự chuyển động của cơ thể trở nên ngượng ngùng và khó khăn hơn, giống như đôi chân của một người thọt bẩm sinh, tại số trời chứ nhất quyết không phải tại anh ta và anh ấy không hề có lỗi gì. Có chăng đấy là tại lỗi của cuộc đời đầy nhố nhăng này. Mà đã thọt chắc chắn là đi lại không vững chút nào, lúc quăng bên trái, lúc quật bên phải, như diễn viên xiếc hài ấy. Tôi hình dung ra sáng tác trẻ và phê bình trẻ hôm nay cũng giống như hai chân của một người thọt vậy.

*

1. Câu chuyện phê bình văn học trẻ tuy không phải là vấn đề mới mẻ gì, nhưng lúc nào cũng gây nhức buốt đối với những ai quan tâm đến văn chương nước nhà hôm nay và cả trong tương lai nữa, khi mà sáng tác trẻ thì ồ ạt tung ra thị trường một khối lượng khổng lồ tác phẩm đủ loại, còn phê bình trẻ cứ ngày một teo tóp dần đi.

Trước hết là bắt nguồn từ khâu đào tạo (in put). Không thể nói ai thích cũng có thể nhảy vào viết phê bình văn học được, đặc biệt với giới trẻ điều này lại càng khó hơn. Bởi lẽ, ngoài năng khiếu, lòng đam mê, phê bình văn học là một bộ môn chuyên ngành khoa học, cần được đào tạo một cách bài bản, như bất cứ một chuyên ngành nào của khoa nghiên cứu lịch sử- lý luận- phê bình văn học (gọi là khoa Văn học). Thế nhưng, khoa Văn học trước đây trong một thời gian dài do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan không cho phép, ở tất cả các trường Đại học và Cao đẳng nước ta không có chuyên ngành đào tạo riêng cho những người làm phê bình văn học đương đại, mà chỉ có bộ môn văn học hiện đại như là một giai đoạn, thời kỳ của chuyên ngành lịch sử văn học. Cái gọi là văn học hiện đại ở nước ta nó tù mù và lạ lẫm đến mức nực cười. Người ta chỉ coi văn học hiện đại là một đoạn, một mẩu của lịch sử văn học, không phải của lý luận văn học, chứ chưa nói gì đến phê bình văn học.

Theo đó, tiến trình văn học sử Việt Nam hiện đại được dạy trong hầu hết các trường trong những năm gần đây là giai đoạn đổi mới, mốc cuối dừng lại ở 1991- 1992, với các tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,... còn từ 1993 đến nay không biết là vô tình hay cố ý nó đã bị các nhà biên soạn chương trình đuổi ra khỏi giai đoạn văn học hiện đại. Ai muốn biết thì tự đi tìm mà đọc hoặc không biết thì lên mà hỏi ông... giời, còn thầy cô chỉ dạy đến thế thôi. Vậy là các nhà phê bình trẻ tương lai đành botay.com với một lĩnh vực mà thiên địa tù mù quá mức như vậy.

Thứ nữa, đến khâu quảng bá tác phẩm phê bình trẻ, đầu ra (out put). Tôi cam đoan rằng có đến già phân nửa số người quản lý các Tòa báo và Nhà xuất bản đều không xuất thân và không phải những nhà phê bình văn học. Thậm chí họ còn không thích và không đọc phê bình văn học. Và đã không thích, không biết, không phải thì chắc chắn là không cần đưa lên mặt báo cho tốn đất. Vậy thì nhà phê bình trẻ lấy đâu ra đất mà quảng bá sản phẩm. Cần thiết phải nói thêm rằng trong khoảng chục năm trở lại đây nhờ có sự xuất hiện của các blog cá nhân, báo điện tử, trang mạng xã hội, nên các nhà phê bình trẻ cũng thêm mà thể hiện.

Mặt khác, hiện có một số báo chuyên ngành văn chương có dành một miếng đất xen kẹt nào đó cho phê bình văn học, nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 1/8- 1/16 hoặc 1/32, có khi là 1/50 diện tích mặt báo, tức là không quá từ 1/3- 2 trang cho phê bình văn học.

Ấy là chưa kể đến thù lao, nhuận bút cho một bài phê bình cả trang cũng khó mà vượt được cái ngưỡng vài trăm ngàn đồng. Vì phần lớn các báo hiện nay vẫn trả nhuận bút theo thời lượng bài viết, thứ hạng và thương hiệu tác giả, chứ ít khi trả theo chất lượng tác phẩm. Còn đối với nhà xuất bản, tưởng tiểu thuyết hay truyện ngắn, tôi in ngay cho ông ngay, miễn bàn, chứ phê bình ư, tôi cấp cho ông giấy phép, rồi ông tự in và tự lo phát hành. Đấy là câu trả lời của một người bạn thân của tôi ở một nhà xuất bản nọ. Nghe sao mà chua chát đối với những người làm phê bình văn học đến thế cơ chứ. Nhưng đấy là một sự thật không thể phủ nhận được.

Cuối cùng vẫn là chuyện cái đầu ra. Tâm lý của số đông người Việt Nam ta từ xưa đến giờ thích đàm tiếu, chửi góp, đánh hôi chứ không thích bàn luận điều gì thật sự nghiêm túc cho ra đầu ra đũa, đi đến tận cùng để tìm căn nguyên, gốc rễ sự việc, hiện tượng, vấn đề xem nó ra sao. Các chuyện phiếm tếu táo, nói tục, chửi xằng, viết bậy, chọc ngoáy gây sự tò mò, hiếu kỳ thì người ta thích đọc, thích nghe, còn những chuyện luận lý nghiêm túc thì phần lớn người đời đều vô cảm.

Điều này khiến các báo, nhà xuất bản cứ nhìn thấy các nhà phê bình văn học và nhất là phê bình văn học trẻ đều chán lên tận cổ, chỉ có lắc đầu. Có không ít vị Tổng biên tập báo và nhà xuất bản ca cẩm rằng, in phê bình nhiều chỉ tổ ế báo, sách giảm tia ra, đói là cái chắc. Cả một xã hội chỉ thích xài món văn chương mì ăn liền hay loại phim sitcom kiểu Thư giãn cuối tuần, thì phê bình văn học lấy đâu đất mà sống. Vì, oái oăm thay phê bình hay phê bình trẻ đích thực lại không phải là thứ hàng hóa đó, thì nó ngày càng méo mó, teo tóp đi, cũng không lấy gì làm khó hiểu.

2. Thời gian gần đây trong không ít các hội nghị của hội chuyên ngành và cơ quan quản lý thường tỏ ra không mấy lạc quan về công tác phê bình từ đội ngũ, đến công trình, tác phẩm; từ định hướng đến việc quan tâm đầu tư đào tạo bồi dưỡng thế hệ những người làm công tác phê bình văn học trẻ.

Tôi cho rằng mặt trận phê bình từ trước đến giờ được sinh ra giống như sân bóng đá ở một làng quê nào đấy. Cả năm chỉ thi đấu một vài trận vào dịp lễ tết hay hội hè gì đó, còn lại chỉ để cho trẻ nít trong làng chăn thả trâu bò, vịt gà, đánh đáo, đánh cù, chơi quay, chơi khăng hay làm gì cũng được, miễn sao không đào đất sân bóng của làng đem về lấp ao nhà mình là được. Còn các nhà phê bình trẻ tôi hình dung giống như những cầu thủ mới chơi bong. Người nhiều, cả năm được đá vài trận, người ít một hai trận, thậm chí có người chưa được ra sân lần nào, vì mỗi năm ở cái sân bóng làng này chỉ có thể tổ chức thi đấu được một vài trận. Có người tuổi đã ngoại tam, tứ tuần rồi mà vẫn mãi ngồi trên ghế dự bị. Cũng không sao, miễn là có tên trong danh sách cầu thủ được thi đấu là oai lắm rồi (!). Như vậy thử hỏi có đáng buồn hay không?

Ai cũng biết, lý luận và phê bình văn học là hai chuyên ngành tuy rất gần nhau nhưng không phải là một, vì có những điểm khác nhau, nhất là khâu tác chiến tại những điểm nóng của đời sống văn chương. Vì thiếu vắng phê bình nói chung và  phê bình trẻ nói riêng nên việc bám sát đời sống văn chương nhiều khi phó mặc cho công chúng. Ai muốn đọc cái gì, hiểu thế nào và viết ra làm sao cũng mặc kệ.

Ở ta, trong vài chục năm trở lại đây tồn tại một sự thật rất khó hiểu, thậm chí là rất khôi hài, bởi những cuốn sách có rất ít chất văn chương, thậm chí có cuốn mà bị cơ quan chức năng cấm không cho lưu hành, hoặc khuyên không nên bàn đến nhiều thì công chúng lại đổ xô đi tìm đọc. Chẳng hạn các cuốn Sợi xích(1) của Lê Kiều Như, Thể xác lưu lạc(2) của Tiến Đạt, Thời của thánh thần(3) của Hoàng Minh Tường, Sát thủ đầu mưng mủ(4) của Thành Phong,... đặc biệt là các cuốn hồi ký, tự truyện cá nhân của những người nổi tiếng như Lê Vân- Sống và yêu (5) của NSƯT Lê Vân, Tìm lại cái tôi đã mất của Nguyễn Khải, Ba người khác (6) của Tô Hoài

Vô hình cái sự đổ xô đi tìm đọc ấy của công chúng đã nói lên hai vấn đề. Thứ nhất là để thỏa chí tò mò xem trong cuốn sách ấy tác giả viết gì, viết như thế nào mà các nhà chức trách lại cấm. Thứ hai là tạo áp lực làm đối trọng trong đời sống sinh hoạt văn chương chính thống trong thời mở cửa hội nhập, như là một nhu cầu tự thân muốn văn chương nước nhà thời nay phải đổi mới, chứ không thể xài mãi món ta thắng địch thua được. Cũng vì thế nhiều cuốn sách loại này đắt như tôm tươi. Vô hình chung sự cấm kỵ đã tạo cơ hội cho các tay in lậu sách tha hồ mà nối bản, kiếm lời, còn công chúng chẳng biết tin vào đâu.

Thế nhưng, các nhà phê bình chuyên nghiệp cả trẻ lẫn già đành phải chịu bó tay, đứng ngoài cuộc mà nghe công chúng bàn tán và xem các tay đầu nậu sách hót bạc mà thèm nhỏ rãi, chỉ vì nhà chức trách đã khuyến cáo là không được bàn nhiều về những cuốn sách ấy. Nếu có viết thì cũng chẳng có báo nào dám in, đành chịu. Còn một số cây viết chạy sô và các nhà phê bình nghiệp dư tay chiêu tha hồ tung hô lên đến tận mây xanh. Thử hỏi như vậy công chúng biết nghe và tin theo ai: cơ quan quản lý, nhà phê bình chuyên nghiệp hay các cây viết chạy sô? Lại một lần nữa các nhà phê bình trẻ bị bật xới ra khỏi cuộc chơi.

Đến lượt mình, các nhà phê bình trẻ vừa phải bươn chải để sinh nhai, vừa viết phê bình. Đã vậy mà họ vẫn cứ bị các nhà phê bình gạo cội gọi là trẻ nít, trứng khôn hơn vịt. Thử hỏi, ở đời này có ai không có thời đã từng là trẻ nít. Không có phê bình trẻ lấy đâu phê bình choai choai và phê bình già. Các bô lão phê bình thì chui vào tháp ngà làm sưu tầm, khảo cứu, biên soạn, chạy sô cho các các chương trình, dự án, đề tài, nói chuyện chuyên đề,...vừa an thân, lại nhiều tiền mà không phải ra đường, xuống chợ đối mặt với những cú va quệt ngoài ý muồn.

Trong hai kỳ Hội nghị Lý luận- phê bình trong vòng mười năm trở lại đây của Hội Nhà văn tổ chức tại Tam Đảo, rất ít các gương mặt trẻ tham gia. Người trẻ nhất cũng thuộc hàng U60. Có lẽ Hội có nhã ý để các nhà phê bình trẻ tham gia Hội nghị dành cho những người viết văn trẻ toàn quốc cho dễ hòa đồng chăng? Đấy là một ý tưởng hay. Nhưng cái gì cũng có hai mặt của nó. Nếu các nhà phê bình trẻ cứ tự nhấm nháp những trang viết của những người cùng trang lứa, dù họ viết có thể rất chỉn chu, nhưng chắc gì đã đúng và đã hay. Họ mãi không được đến nghe các cây đa, cây đề, những nhà phê bình gạo cội, từng có nhiều chục năm mài mòn ngòi bút trên các trang phê bình, nói về thực trạng nền phê bình văn học nước ta hiện nay đang đứng ở đâu, những kinh nghiệm hay về viết một bài phê bình,... thì mãi họ vẫn chỉ là những đứa trẻ không chịu lớn. Bởi lẽ, kiến thức sách vở học trong nhà trường, đù đến bậc học thạc sĩ, tiến sĩ, mà không tiếp cận với đời sống văn chương, không được truyền dạy kinh nghiệm thực tế trong quá trình tiếp xúc văn bản tác phẩm từ các bậc tiền bối, thì cũng lắm anh ta cũng chỉ có thể trở thành một nhà lý luận suông, chứ không thể nào có thể thể trở thành một nhà phê bình chuyện nghiệp thực thụ được.

Chính ông Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, khi bàn về công tác Lý luận- Phê bình văn học đã từng nói: “Không dựa vào căn bản văn hóa thì dễ chết yểu, gây ồn ào tức thời. Đặc biệt văn hóa phải gắn với dân tộc và hiện đại. Hiện đại trong văn học là xu hướng phẩm chất tiến bộ vượt qua các giá trị truyền thống nhằm tư duy sáng tạo, vượt ra cái hữu hạn chiếm lĩnh cái vô hạn, vượt qua cái khu biệt để đạt được cái phổ quát. Hiện đại cả hình thức và nội dung, tinh thần nhân văn, dân chủ được đề cao. Đi đến tận cùng dân tộc gặp nhân loại”(7)

3. Nói đến phê bình văn học trẻ, lý ra trước hết người ta phải nói đến chủ thể đang tiến hành công việc ấy, tức là người trẻ viết phê bình văn học bằng hoặc hơn các bậc cha anh ngày trước, vì họ được thừa hưởng đủ mọi thứ mà những thế hệ đi trước không có được. Tuy nhiên, thực tế lại dường như đang cãi lại cái lý ấy. Những người làm phê bình văn học trẻ hiện nay đang trở thành đối tượng để mọi người hướng sự quan tâm chú ý của mình vào đấy.

Trong những năm gần đây, có không ít những cuộc hội nghị, hội thảo về Lý luận- Phê bình văn học trẻ nói riêng và những người viết văn trẻ nó chung, của Hội đồng Lý luận Phê bình Văn học- Nghệ thuật (LLPBVHNT) Trung ương, thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương, của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn các tỉnh thành như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thanh Hóa,... được tổ chức. Tại những hội nghị, hội thảo này vai trò chủ thể của những người làm phê bình văn học trẻ thường bị lu mờ và nhường chỗ cho việc làm đối tượng của các tham luận, ý kiến trao đổi về phê bình văn học trẻ. Tựu trung các ý kiến đều ghi nhận sự dũng cảm của một số cây phê bình trẻ, không quản khó khăn vất vả về mặt chuyên môn, mà còn chịu cả những khó khăn về vật chất, tinh thần nữa, nên không ít người đã tự bỏ cuộc. Vì thế ý kiến cho rằng lực lượng phê bình trẻ hôm nay vừa yếu lại vừa thiếu là điều không lấy gì làm lạ.

Thiếu về lực lượng, đội ngũ đã đành, còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ mới là chuyện đáng quan tâm. Mặc dù các bạn trẻ hôm nay được học hành tử tế, đi nhiều nơi, có nhiều cơ hội để nắm bắt thông tin ở đủ mọi lĩnh vực và trên phạm vi toàn thế giới và không mấy người phải lo bát cơm manh áo để tồn tại. Nhưng có lẽ cái thiếu chính yếu nhất đối với những ngươi làm phê bình văn học trẻ là khả năng tiêu hóa, năng lực thẩm thấu những tri thức sách vở cũng như kinh nghiệm đời sống, những vấn đề về tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm văn chương đặt ra còn rất hạn chế. Có lý do vì thời gian cầm bút viết phê bình chưa lâu, nên kinh nghiệm viết chưa nhiều. Rồi do sự câu thúc của bát cơm manh áo, tất nhiên là ở một mức sống cao hơn ngày xưa rất nhiều, đồng tiền bát gạo ngày một nhiều hơn. Viết một bài phê bình văn học như viết một bài báo thì người ta phải chú tâm vào khâu an toàn để dễ được các bản báo chấp nhận. Điều ấy, khiến cho bài viết bị thương mại hóa thay vì phải chú tâm đến chất lượng và giá trị. Tôi đồ rằng sẽ có rất ít, thậm chí là không có bạn trẻ nào dám nghĩ viết một bài phê bình văn học để mười hoặc hai mươi năm sau mới công bố. Tâm lý nóng vội được in để tên mình được xuất hiện trên ác mặt báo, tạp chí để kheo với đồng nghiệp, lại có tiền nhuận bút hoặc để khao đãi bạn bè hoặc cải thiện cuộc sống gia đình, ai mà chẳng mong. Một tác phẩm phê bình văn học thay vì phải chú tâm đến chất lượng và giá trị công trình thì không ít bạn trẻ lại chú tâm đến danh và lợi. Khi hai thứ ấy không phải lúc nào cũng dễ dàng đạt được, nhiều người chán nản, bỏ cuộc chơi là điều không có gì khó hiểu.

Tôi có quen biết một bạn trẻ viết phê bình văn học. Công việc chính của anh ta là làm biên tập mảng văn học ở một nhà xuất bản. Viết phê bình cũng chỉ ở dạng điểm sách văn chương, chứ không phải phê bình chuyên nghiệp. Sau một thời gian viết phê bình điểm sách, anh ta thấy thu nhập chẳng được là bao. Anh ta nghĩ cách chuyển sang viết thuê hồi ký cho những người có chức, có quyền và tất nhiên là có nhiều tiền. Theo anh ta tiết lộ, mỗi ngày ngoài việc hoàn thành công việc cơ quan giao theo định mức, thời gian còn lại và ngày nghỉ là cày. Mỗi ngày vài chục trang. Một cuốn hồi ký dày khoảng 300- 400 trang in, anh bạn trẻ này cũng chỉ cày khoảng trên dưới một tháng. Sau đấy, cũng từng ấy thời gian chỉnh sửa và đem đi in cũng mất từng ấy thời gian nữa. Cứ tạm tính là khoảng ba tháng. Công viết và in cho một cuốn hồi ký kiểu ấy khoảng trên dưới một trăm triệu. Vậy chi, tính ra mỗi tháng anh ta cũng cày thêm được khoảng hai chục triệu, cộng với lương và thưởng của cơ quan khoảng mười triệu nữa, thì mới đủ tiền thuê nhà và nuôi hai đứa con nhỏ ăn học ở đất Hà thành. Thế hỏi còn đâu thời gian mà quan tâm đến phê bình văn học (!?)

4. Nhưng theo tôi khái niệm phê bình văn học trẻ là hết sức mơ hồ. Chừng nào chúng ta chưa xác định được thế nào là trẻ thì tất cả những đánh giá, nhận định về họ đều thiếu xác tín. Trẻ là tính theo tuổi đời, tuổi nghề, số lượng bài báo, sách, công trình in trong hay ngoài nước, ở trung ương hay địa phương,...?

Chẳng hạn như có những người ở độ tuổi U60 mới bắt tay viết phê bình thì đâu còn trẻ về tuổi đời nữa. Cũng lại có những người rất giỏi phê bình miệng, mà dân gian gọi là nói vo, tức là nói về phê bình văn học trẻ, chứ tuyệt nhiên không hề có bất cứ công trình, tác phẩm phê bình văn học nào. Lại có những người chỉ viết phê bình văn học ở địa phương nơi mình sinh sống, rất ít khi xuất hiện ở các báo, tạp chí trên trung ương. Hoặc có những người trẻ có nhiều công trình tác phẩm Lý luận- phê bình văn học dưới dạng những nghiên cứu chuyên khảo về tác giả, tác phẩm hay thời kỳ văn chương nào đấy, nên không thể công bố dưới dạng một tác phẩm phê bình văn học được,... Điều ấy làm cho việc xác định ai là những nhà phê bình văn học trẻ càng khó khăn hơn.

Tuy nhiên đấy chỉ là một cách nói lý thuyết và sách vở thôi, chứ còn thực tế đời sống của hoạt động phê bình văn học trẻ chủ yếu là tự thân vận động và một chút nhờ vào sự may mắn do các quan hệ thân sơ ngoài văn chương mà có.

Về khía cạnh đội ngũ, không quá khó để chúng ta có thể điểm danh được một số ít các nhà phê bình văn học gọi là trẻ, nhưng phần lớn đều thuộc thế hệ 7X và 8X như: Phạm Duy Nghĩa, Phan Tuấn Anh, Đoàn Minh Tâm, Bùi Thu Hồng, Ngô Hương Giang, Đoàn Ánh Dương, Nguyễn Thanh Tâm, Trần Thiện Khanh, Hỏa Diệu Thúy,... Đấy là những gương mặt tương đối quen thuộc vì xuất hiện nhiều trên các trang báo và tạp chí với tư cách là tác giả của những bài phê bình văn học. Số còn lại, phần lớn các cây viết phê bình trẻ hôm nay phải lo viết báo để kiếm sống, dù đấy có là điểm các tác phẩm văn chương, hoặc phải đảm trách công tác biên tập ở các tòa báo, các nhà xuất bản, các viện nghiên cứu hay bận công việc giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng, khi nào nhàn rỗi và cao hứng viết được một bài phê bình thì bị chê bôi đủ điều nào là chưa đủ kinh nghiệm, nào là sao chê nhiều thế, khen nhiều thế, thôi thì đủ mọi lời ong tiếng ve. Thậm chí có người đã về hưu vài năm rồi, từng cầm bút viết phê bình vài chục năm, có vài ba cuốn sách đã in, được dư luận đánh giá tốt vẫn bị coi là nhà phê bình trẻ chỉ vì ông ta thích nói thẳng, nói thật, có khi gây sốc cho người đọc, nên bị xếp vào hàng các nhà phê bình trẻ, cứ như nói thẳng, nói thật là đặc sảncủa các nhà phê bình trẻ (!?).

Đương nhiên, không loại trừ một số cây bút phê bình văn học trẻ hôm nay thích vọng ngoại. Cái gì của nước ngoài cũng đều là hay, là tốt, còn của ta là dở, là xấu. Thậm chí có người không thèm đọc các tác phẩm văn chương Việt Nam mà chỉ đọc truyện nước ngoài được dịch ra tiếng Việt.

Như vậy, mặt trận phê bình văn học trẻ đang có nguy cơ biến thành hoang mạc là cái chắc. Sự hẫng hụt về mắt thế hệ phê bình văn học là cái đáng báo động  nhất hiện nay đối với nền văn chương nước nhà. Và chắc chắc là còn phải đợi một thời gian dài dài nữa may ra mới thoát khỏi tình trạng cà nhắc, giống như những bước chân của người thọt bẩm sinh vậy.

Mọi người cần nhớ rằng cả nền văn học cổ điển Nga mới sinh ra được một thần đồng phê bình văn học Biêlinxki. Cả một thế kỷ văn học Việt Nam (thế kỷ XX) mới có một thần đồng phê bình văn học Hoài Thanh. Điều ấy nói lên một thực tế là công việc phê bình văn học luôn phải đối mặt với không ít khó khăn, áp lực, nhưng thái độ kỳ thị của người đời đối với nó xem ra ngày càng tăng nặng hơn, đấy mới thực sự là điều đáng sợ. Vì phần lớn công chúng hiện nay đều quay lưng lại với phê bình văn học nói chung và phê bình văn học trẻ nói riêng, khi họ cho rằng đấy là thứ ăn theo, nói leo, sống ký sinh vào sáng tác.

Do vậy, sự thiếu vắng đội ngũ phê bình trẻ trong hàng chục năm nay là điều không thể nào cưỡng lại được. Thực trạng ấy có nguyên nhân từ cả hai phía, nhưng cơ bản là xã hội đã tạo nên áp lực quá lớn khiến giới trẻ, dù là những người đã được học hành cẩn thận, đào tạo bài bản hẳn hoi cũng không mấy ai quan tâm và mặn mà gì với phê bình văn học, vừa ít tiền, vừa lắm va quệt này.

Nhưng sẽ là bất công nếu như chúng ta không nhìn thấy sự đóng góp đáng kể của các nhà phê bình văn học trẻ. Trước hết về mặt thế hệ, những người viết văn, làm thơ trẻ luôn cần có tiếng nói của các nhà phê bình văn học trẻ, vì họ là những người cùng thế hệ rất dễ đồng cảm, chia sẻ với nhau về tâm lý lứa tuổi, nhận thức xã hội, quan niệm sống, quan điểm thẩm mỹ và mặt bằng tri thức. Vậy nên, dù ít hay nhiều, các nhà phê bình văn học trẻ cũng có thể tạo nên mộ cú hích, một tác nhân và động lực đối với các nhà văn trẻ.

Chỉ có điều số người làm công việc phê bình văn học trẻ là quá ít so với những người làm sáng trẻ. Ở Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII, tổ chức tại Tuyên Quang, trong số 113 đại biểu tham dự thì chỉ có 11 người làm lý luận phê bình, tức là chưa bằng số lẻ của tổng số người tham dự Hội nghị. Điều ấy nói lên một thực tế là làm phê bình văn học trẻ không nào khác tham gia vào một trò chơi mạo hiểm. Chúng ta thử hình dung với hơn một trăm người sáng tác, trong một năm ít nhất, mỗi người in một cuốn sách có thể là thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, vậy chi có 100 tác phẩm mà chỉ có hơn 10 người đọc, bình quân mỗi người đọc 10 tác phẩm/năm thì chỉ có đầu óc của những bậc thiên tài mới làm được. Nếu tôi không nhớ nhầm thì Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc phải 5 năm mới tổ chức một lần thì số lượng tác phẩm in ra còn nhiều gấp hiều lần. Đọc xong còn phải viết. Viết xong còn tìm chỗ in, công bố kết quả.

Tất cả những điều nói trên chính là mấu chốt của vấn đề. Chừng nào xã hội và các nhà chức trách chưa thay đổi được cách nhìn, chưa đưa ra được định hướng cụ thể cùng với cơ chế đối xử thỏa đáng cho phát triển phê bình văn học, nhằm khuyến khích những cây bút trẻ đã được đào tạo và có niềm đam mê tham gia vào mặt trận này thì khi ấy tình trạng tụt hậu, hụt hẫng và yếu kém vẫn tiếp tục diễn ra không chỉ đối với phê bình văn học, mà còn làm phương hại đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, với tư cách là người thụ hưởng và thẩm định cuối cùng tác phẩm văn chương, ảnh hưởng không nhỏ đến cả nền văn chương đương đại nước nhà là điều mà hầu hết mọi người đã nhìn thấy, nhưng dường chưa thể nào tìm ra được phương thuốc đặc trị cho căn bệnh trầm kha này./.

Đỗ Ngọc Yên

.......................

Xem:

(1) Sợi xích, Lê Kiều Như, Tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, 2010

(2) Thể xác lưu lạc, Tiến Đạt, Tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, 2009

(3) Thời của thánh thần, Hoàng Minh Tường, Tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, 2008.

(4) Sát thủ đầu mưng mủ, Thành Phong, Truyện tranh,  Nxb Mỹ Thuật, 2011

(5) Sống và yêu, Lê Vân, Tự truyện, Nxb Hội Nhà văn, 2006

(6) Ba người khác, Tô Hoài. Tiểu thuyết, Nxb Đà Nẵng, 2006

(7) Lý do của hy vọng, Hữu Thỉnh, Nxb Hội nhà văn, 2010.

Vanvn.net

Từ sự thiếu hụt của lực lượng sáng tác trẻ…

Từ sự thiếu hụt của lực lượng sáng tác trẻ…

Văn hoá xuống cấp dẫn đến đạo đức xuống cấp, gây nên bao hệ luỵ cho xã hội. Vì quan tâm đến phát triển kinh tế mà nhiều năm nay có những địa phương ít quan tâm đến xây dựng văn hoá. Sự thiếu hụt của đội ngũ sáng tạo kế thừa là lẽ tất nhiên. Câu chuyện về trại sáng tác văn học trẻ ở Đồng Nai đang diễn ra có lẽ không chỉ là vấn đề của một địa phương, một khu vực, mà còn là điều đáng để suy ngẫm đối với nhiều nơi, nhiều cơ quan khác…

Lê Hữu Nam ký tặng sách cho bạn đọc “Mật ngữ rừng xanh”.   Ảnh minh họa  .  Nguồn Internet

Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đồng Nai vừa mở trại sáng tác trẻ từ ngày 16 đến 20.7.2016. Các bạn trẻ yêu thích sáng tạo trên các lĩnh vực VHNT được quy tụ về đi tham quan mô hình nông thôn mới, các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh trong tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và giao lưu với đoàn nhà văn trẻ đến từ TP. Hồ Chí Minh. Đây là một nỗ lực đáng khích lệ của những người tổ chức trong điều kiện khó khăn về kinh tế và lực lượng sáng tác trẻ.

Đồng Nai là tỉnh rộng lớn nhất miền Đông Nam bộ, từng sản sinh nhiều tên tuổi tiêu biểu trên văn đàn như Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn,... Sau năm 1975, Đồng Nai cũng lần lượt xuất hiện nhiều cây bút trẻ đáng chú ý, có người trụ lại trong tỉnh, có người về TP. Hồ Chí Minh sống và tiếp tục sáng tạo. Nhờ sự nhiệt tình của nhà văn Khôi Vũ - Nguyễn Thái Hải, nhiều lớp sáng tác văn học dành cho thiếu nhi cũng được mở ra hơn 20 năm qua, phát hiện và ươm mầm được một số cây bút học trò có năng khiếu và “nâng cánh” cho họ trở thành những nhà văn, nhà thơ đích thực.

Tuy nhiên, những năm gần đây Đồng Nai ngày càng thiếu hụt lực lượng sáng tác trẻ trên các lĩnh vực VHNT, nhất là văn học. Nhạc sĩ Nguyễn Khánh Hoà - Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Đồng Nai cho biết việc mở trại sáng tác trẻ này được chuẩn bị công phu từ mấy năm nay nhưng gặp rất nhiều khó khăn về đội ngũ. Hơn 100 giấy mời đã gửi về các cơ quan, trường học địa phương và đích thân cán bộ Văn phòng Hội cũng đi tìm những bạn trẻ có năng khiếu, nhưng chỉ tập hợp được 32 bạn để mở trại sáng tác VHNT.

Trong số này, các bạn trẻ yêu thích văn học chiếm khoảng một nửa, nhưng chủ yếu mới tốt nghiệp phổ thông trung học, một vài bạn vừa tốt nghiệp đại học, mới chập chững viết, chưa có tác phẩm đáng kể. Tham gia trại duy nhất có một cây bút đáng chú ý là nhà văn trẻ Hạnh Vân đã xuất bản 1 tập thơ và 1 tập truyện, nhưng cũng không còn trẻ nữa vì đã 36 tuổi. Hạnh Vân là sự nối tiếp đàn chị Trần Thu Hằng, tác giả tiểu thuyết Đàn đáy nổi tiếng, nay đã ở tuổi tứ tuần và đang là Chánh văn phòng Hội. Tuy nhiên, cả nhà văn Trần Thu Hằng và Hạnh Vân cũng tâm sự rằng, vì lo công việc mưu sinh cho gia đình, mấy năm gần đây hai chị cũng không có nhiều thời gian dành cho sáng tác, nên không có tác phẩm mới.

Đồng Nai là tỉnh duy nhất ở miền Đông Nam bộ hiện nay còn tồn tại một nhà xuất bản. Thời bao cấp, có nhiều sách văn học của các tác giả trẻ được NXB này đầu tư in ấn, góp phần động viên khuyến khích mạnh mẽ đời sống sáng tác văn học. Bước vào cơ chế thị trường, NXB Đồng Nai ngày càng “thu mình” lại, nay chỉ còn là một phòng của Sở Thông tin và truyền thông, phải tự chủ kinh phí, việc chủ động đầu tư xuất bản sách rất ít, sách văn học càng hiếm hơn, nên tác phẩm các tác giả trẻ trong tỉnh cũng khó “chen chân” vào.

Với một tỉnh có truyền thống văn học như Đồng Nai còn thiếu hụt lực lượng sáng tác văn học trẻ, các tỉnh còn lại ở miền Đông Nam Bộ cũng chẳng mấy lạc quan. Đời sống văn học ở hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước thường im ắng, hiếm thấy các cây bút trẻ xuất hiện để lại dấu ấn. Sôi động hơn một chút là Tây Ninh, với những cố gắng mở trại sáng tác và ra mắt cho các tác giả trẻ, nhưng số lượng và chất lượng vẫn chưa cao, có thể kể đến hai cây bút nữ Phạm Thuỳ Trang và Trần Nhã My nhưng tuổi đời cũng gần 40.

Đáng kể hơn là tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, mấy năm qua xuất hiện một số cây bút trẻ đáng chú ý như Vũ Thanh Hoa, Hoa Níp, Văn Thành Lê, Trịnh Sơn, Đoàn Trọng Hải, Bùi Đế Yên, Châu Hoài Thanh,… nhưng có người tuổi đã xấp xỉ trên dưới 40, nghĩa là không còn trẻ nữa.Trong đó, hai cây bút ở lứa tuổi 30 là nhà thơ Trịnh Sơn đã rời quê hương Bà Rịa - Vũng Tàu ngược ra xứ Nghệ quê vợ là nhà thơ trẻ Võ Thị Phương Thuý để mưu sinh, còn nhà văn trẻ Văn Thành Lê cũng vừa lên TP. Hồ Chí Minh đầu quân cho NXB Kim Đồng chi nhánh phía Nam. Một cây bút tài năng khác vừa bước qua tuổi 30 là Hoa Níp thì bị tai nạn giao thông đột ngột qua đời cuối tháng 5.2016 vừa qua, để lại những trang bản thảo chất lượng được bạn bè tập hợp xuất bản thành tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng và tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ.

Nhà thơ Lê Huy Mậu- Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trăn trở rằng việc tìm những cây bút trẻ có năng lực để kế thừa rất khó. Có người vừa làm được vài bài thơ hay viết vài truyện ngắn đọc được thì bỗng dưng biến mất, lao vào cuộc mưu sinh. Có lẽ cái danh nhà văn, nhà thơ thời kinh tế thị trường không còn thu hút giới trẻ bằng các thế hệ cha anh. Tình yêu sâu nặng và sự bền bỉ với con đường văn chương ngàycàng hiếm hoi.

Ai cũng biết VHNT nói chung và văn học nói riêng không thể trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng những tác phẩm thực sự có giá trị chính là tài sản văn hoá vô giá của một địa phương, đất nước. Văn hoá xuống cấp dẫn đến đạo đức xuống cấp, gây nên bao hệ luỵ cho xã hội. Vì quan tâm đến phát triển kinh tế mà nhiều năm nay có những địa phương ít quan tâm đến xây dựng văn hoá. Sự thiếu hụt của đội ngũ sáng tạo kế thừa là lẽ tất nhiên. Muốn văn hoá phát triển, ngoài năng khiếu và nỗ lực tự thân của người sáng tác thì còn cần sớm có sự quan tâm của các cơ quan chức năng bằng những chương trình hành động cụ thể về đầu tư, hỗ trợ khuyến khích sáng tác, xuất bản và quảng bá tác phẩm. Miền Đông Nam bộ với hạt nhân là Đồng Nai vốn giàu truyền thống văn hoá, nhất là văn học, hy vọng sẽ sớm có đội ngũ sáng tác trẻ đủ mạnh để nối tiếp các thế hệ cha anh.

Theo Văn nghệ

Truyện ngắn của Tru Sa: Những bình minh

Truyện ngắn của Tru Sa: Những bình minh

Thông tin tác giả:

Họ tên: Nguyễn Thanh Phong
Bút Danh : Tru Sa
Sinh năm 1989, hiện sống và viết ở Hà Nội
Sách đã xuất bản: Ảo giác mù, xnb hội nhà văn, 2015

 

 

Ngày xửa ngày xưa…Mọi câu chuyện đều sinh ra từ dòng chữ này.

Ngày xửa ngày xưa…Làng tôi thờ Phượng Hoàng. Ngày nay, làng tôi thờ Phượng Hoàng. Làng tôi là làng Phượng Hoàng.

*

Chuyện kể rằng, làng tôi từ xưa bị bao phủ bởi đám mây nghìn năm tuổi. Ngày cũng như đêm, đều một màu om om. Một ngày, Phượng Hoàng từ phương xa bay tới, kịch chiến và xé tan đám mây ma. Một số người kể rằng nguyên hình của đám mây là một con rắn khổng lồ. Phượng Hoàng đã bắt rắn. Rồi thì, Phượng Hoàng nhổ lông để hóa phép xây nhà, Phượng Hoàng đuổi thổ phỉ hay Phượng Hoàng…Đại loại là làng tôi từng chịu ơn Thần nhiều năm về trước.

Tượng Thần dựng chính giữa làng. Nơi đây là đường đất, cũng là con đường lớn của làng. Không ai biết người đã tạc ra tượng Phượng Hoàng. Tảng đá dùng để tạc hình Phượng, là nơi Phượng Hoàng đã bay đến. Quanh con đường có nhiều cây dại. Những cây cao quá, cỡ đại thụ đều bị chặt. Những cây tầm vóc vừa vừa, cỡ cây khế ba năm tuổi cũng đều bị đốn. Ngay đến những cây cao quá một mét cũng không được giữ. Nhờ thế đường cái rộng hơn. Dù còn lầy lội, nhiều lúc bị vấp, chảy máu chân vì những hòn đá cạnh sắc.

Tượng Phượng Hoàng cao hơn một mét. Phượng Hoàng đứng khép cánh, dân làng kể nếu cánh Phượng mở ra, Người sẽ bay mất. Cổ cao, giống với loài Hạc, mỏ Phượng Hoàng khép và cái đầu nghếch lên trời. Phượng Hoàng đứng trên một bệ đá. Cái bệ chẳng cao lắm nhưng khiến Phượng Hoàng cao hơn. Đôi chân Phượng Hoàng duỗi thẳng, theo thế đứng. Tôi đếm được năm móng chân vuốt sắc. Bốn hướng ra ngoài, ngón cuối cùng, to nhất thì quặp ở sau. Đuôi Phượng trải xuống, quét đất. Bức tượng được tạc đã lâu nên nhiều lớp bị nứt, bị rêu phủ và xạm đen. Nếu ai túc trực ở đường cái, sẽ còn có thể nhìn thấy mặt trời mọc và lặn theo hướng nhìn của Phượng Hoàng. Chính Ngọ là thời điểm mặt trời nắm mọi quyền bính. Lửa nắng phả xuống và dát lên tượng Phượng Hoàng. Đầu Phượng Hoàng chỉ lên mặt trời. Cái mỏ được tạc nhọn như mũi tên Hậu Nghệ. Nếu là mùa hè, những ngày trưa bốn mươi độ sờ vào mặt tượng sẽ bỏng tay. Mẹ tôi kể, vào một mùa hè có người đã bốc cháy trước tượng. Người đấy không cứu được, vì vừa bị cháy, lại thiếu nước trong hàng tiếng đồng hồ nằm ngất ngoài đường cái. Những lúc Phượng Hoàng tắm gội trong nắng mặt trời thì chẳng ai đến gần được. Lúc nắng dịu và tan chảy vào lòng đỏ mặt trời thì Phượng Hoàng lành và dễ gần hơn. Dân làng có thể đến gần tượng, để khấn vái, thắp hương. Khách thập phương có thể chụp ảnh hay vẽ truyền thần.

Như mọi đứa trẻ con trong làng, em trai tôi mỗi lúc đi ngủ đều được nghe kể chuyện. Mẹ tôi kể. Nếu mẹ đi vắng thì tôi kể. Luôn là chuyện về Phượng Hoàng. Câu chuyện truyền thống mà mỗi người dân trong làng đều phải nằm lòng là về Phượng Hoàng đuổi mây đen. Em tôi có nằm mơ thấy Phượng Hoàng không? Tôi không hỏi. Em tôi cũng chẳng kể. Tôi vẫn thường mơ thấy được Phượng Hoàng chở trên lưng. Một Phượng Hoàng thứ thiệt, có thể vỗ cánh bay. Đấy là giấc mơ thời trẻ con. Giờ, tôi lớn hơn và chẳng bao giờ mơ thấy Phượng Hoàng. Họa hoằn có khi tôi nghĩ ngợi về thần thú quá nhiều. Một số người trong làng đã khăn gói để tìm kiếm Phượng Hoàng. Số khác thì vẫn ở lại làng, ngày ngày qua lại chỗ bức tượng để cầu khấn mong một ngày được mãn nhãn. Mẹ tôi cũng muốn được nhìn thấy Thần. Tôi không mong lắm, nhưng nếu ngày nào đấy thần thú có bay qua làng, tôi sẽ là người đầu tiên nhìn lên trời.

Người làng vẽ hình Phượng Hoàng vào mỗi dịp tết, lễ hội để treo bán. Quanh làng không thiếu những chỗ bày bán tượng Phượng Hoàng đẽo bằng gỗ, rèn bằng sắt, vẽ trên bình gốm, khắc hình mặt dây chuyền, vòng, nhẫn. Mọi hình ảnh đều theo khuôn đúc của bức tượng ngoài đường cái. Mỗi người trong làng đều có một bức tranh Phượng Hoàng trong nhà. Ai sùng tín sẽ nhờ thợ đúc tượng để thờ. Nhà tôi cũng có tranh Phượng Hoàng. Bức vẽ đã gần trăm năm, tính từ đời ông đến đời cha và tôi. Bởi đã lâu, nên tranh nhiều chỗ rách, mờ màu. Nhà tôi không thay tranh mới. Phần vì đây là bức tranh có tuổi. Phần khác do bức tranh treo trong phòng thờ, ít nhiều có linh khí. Nghe mẹ kể thì sau khi mua tranh, ông tôi đã đến đường cái để khấn vái.

*

“Tại sao Phượng Hoàng không tung cánh.”

“Phượng Hoàng sẽ bay đi.”

“Phượng Hoàng vốn bay đi rồi.”

“Ngài sẽ quay lại làng.”

*

Vài người trong làng nói rằng đã thấy Phượng Hoàng. Cũng chẳng biết ai trong số những người đã bỏ làng đi đã thấy Phượng Hoàng. Các câu chuyện cổ ghi rằng Phượng Hoàng bay đi nhưng không rõ ràng về đâu. Thần bay về phía Bắc, xuống phương Nam, bay thẳng lên trời, biến mất giữa lưng chừng trời hay bay vòng vèo rồi biến mất, cũng lưng chừng trời. Ngày, tháng, năm cứ thế trôi và đóng dày thành nhiều mộ bia. Lúc các chứng tích bị thời gian phủ bụi, cạy xóa thì cũng là lúc các dị bản ra đời. Càng về sau tôi càng được nghe nhiều chuyện về Phượng Hoàng. Trong câu chuyện Phượng Hoàng đuổi mây đen, ngoài việc đám mây phát tích hình rắn hổ mang tôi còn được nghe về một trận đại dịch màu đen, bầy quỷ từ địa ngục…Còn có người nói Phượng Hoàng đã chết trong trận đánh với đám mây đen. Nơi dựng tượng là nơi Phượng Hoàng ngã xuống. Cái dị bản này đã được kéo dài thêm bằng một dị bản khác rằng “Phượng Hoàng bị thương, máu ngài đổ xuống bãi đá găm, tạo thành đường cái. Sau đấy Phượng Hoàng bay về trời. Nơi ngài bay lên, người dân tạc tượng để nhớ ơn…”

Nếu nhìn thấy Phượng Hoàng, chết không đọa Địa Ngục. Máu Phượng mang đến bất tử- Tôi nghe kể lại thế. Từng có vua chúa muốn săn lấy Phượng Hoàng. Những đế vương muốn hóa rồng bằng máu Phượng. Vua chúa nào thì cũng sẽ già nua và chết trong bệnh tật. Làng tôi từng có người mong được nếm thử máu Phượng Hoàng. Gã nói “Chỉ cần nửa giọt dính vào lưỡi, thế thôi.” Chẳng ai tán đồng và đã đấm vào mặt, đá đít gã khỏi làng. Liệu còn có thêm ai nghĩ như gã hồ đồ đấy không? Nhưng Phượng Hoàng. Đấy vẫn là nguồn sống của làng tôi. Một ông cụ làng tôi lúc chết đã không nhắm được mắt vì vẫn chưa được thấy Thần. Cuối làng có một thầy giáo dạy vẽ. Ông ấy cũng là người mê mẩn Phượng Hoàng. Vẽ rất nhiều tranh Phượng Hoàng. Vẽ trên giấy, trên vải, lên tường, mặt bàn, tủ gụ, cánh cửa, tự xăm vẽ lên thân mình…Người ta kháo rằng ông ấy có hơn một nghìn bức tranh vẽ Phượng. Nghìn bức tranh chỉ sao chép một Phượng Hoàng hay nghìn bức tranh là nghìn chim Phượng Hoàng? Người thầy giáo đấy đã hóa điên. Bởi ông ta đã canh ở đường cái một tháng trời. Không ăn không ngủ, ông ta chỉ mang theo bút và giấy. Hồ như, ông ấy muốn bắt bằng được thời khắc tượng chuyển mình. Chẳng nghe ai khuyên bảo, người thầy cứ ngồi trước tượng. Sáng sớm, người làng thấy ông liếm sương trên mỗi chiếc lá. Có người bảo ông còn hớp nắng sớm, nuốt gió, ăn ánh trăng để lấy sức. Sau một đêm giông chẳng ai nhận ra ông ấy. Tóc ông xổ dài chạm đất, những sợi mỏng, xám xịt như lớp vảy hoại thư. Mặt người thầy teo tóp và khô khốc như vỏ cây. Hai hàm răng người thầy đánh vào nhau và ăn nghiến như cánh cổng chốt nhiều lớp. Chỉ hai bờ môi bập ra bập vào. Trong đêm tối, người làng thấy ông thầy ôm đầu, chạy tứ tung. “…À…” – Chỉ một tiếng đấy. Tiếng bật vang như hơi nén trong chai đột ngột mở nút. Người làng đang tản mác liền được đánh động, cùng chạy đến nơi vang ra tiếng người. Người thầy biến mất. Tôi hỏi mấy người già và gom về một mớ các câu trả lời: Bị mây đen bắt, thấy tiếng không thấy người, rơi xuống vực, ngã xuống giếng, ngã xuống sông, chạy sang làng bên, Phượng Hoàng đã chở đi…Có người bảo nhìn thấy mẹ tôi trong đội tìm kiếm. Mẹ bảo chỉ đi ngó qua vì hiếu kì, tôi tin lời mẹ.

Mẹ luôn kể cho tôi về Phượng Hoàng. Ngày bé, Phượng Hoàng dỗ tôi ngủ đêm. Lớn hơn, tôi nghe được nhiều điều hơn về chim Phượng. Chiều kích của tưởng tượng dẫn dụ tôi đi hết giấc mơ này đến giấc khác. Đến giờ thì tôi thuộc làu. Cha tôi đã bỏ nhà đi khi tôi mười tháng tuổi. Ông đi tìm Phượng Hoàng. Những dèm pha chẳng nghĩa lý gì khi ngày ngày mẹ vẫn đến đường cái. Mẹ cúng vái Phượng Hoàng thật lâu, ngày này qua ngày nọ. Ngày mẹ trở dạ, bà đã trốn khỏi viện xá và hạ sinh em tôi ở đường cái. Tượng Thần thành bà đỡ. Em tôi chào đời dưới chân tượng và được tắm nắng mặt trời. Mẹ tôi bồng em. Người làng tôi đã đưa mẹ và em về nhà, và chăm sóc, cho sữa, cho đường. Không còn ai độc miệng với đứa em đã chào đời của tôi. Họ bảo mẹ đẻ được con giời.

Ai trong làng cũng nhận mình là con cháu Phượng Hoàng. Tôi biết chẳng ai là máu mủ của Phượng Hoàng, đứa em tôi cũng thế, dù cho mẹ đã đặt tên em là Hoang.

*

“Phượng Hoàng không có mắt.”

“Có chứ!”

“Không thấy tròng mắt.”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mắt nào là trời? Mắt nào là trăng?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng bên nào? Mặt trời bên nào?”

“Một mắt mặt trời, một mắt mặt trăng.”

“Mặt trăng màu gì? Mặt trời màu chi?”

*

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Những tháng hè nắng đổ lửa tượng luôn nóng hôi hổi. Đông đến, đường cái hun hút gió. Bốn bề tượng lúc đấy lạnh băng. Người làng bảo rằng “Ban ngày Phượng Hoàng sưởi nắng mặt trời, đêm hong mình dưới trăng.” Mỏ Phượng luôn nghếch lên, chỉ trời và chỉ trăng. Người dân xếp hàng khấn vái. Lúc đông, lúc vắng, khi chen chúc, lúc xô đẩy, ngã lăn lộn, rồi về cả. Chỉ tôi đứng một chỗ, chẳng khấn vái xin xỏ gì. Tôi ngửa cổ nhìn tượng với nỗi mênh mang về một giấc mơ được thấy Phượng Hoàng bay. Nhiều tháng, nhiều năm trôi qua, tượng Phượng Hoàng vẫn đứng đây. Rêu mọc xanh quanh mình tượng. Phần cổ của tượng đen nhọ vì bụi bặm và khói hương. Việc nhang khói đều do người làng tự mang hương, tự thắp. Đến hôm sau, số que hương sẽ được nhặt đi sau khi đã chắp tay xin phép Phượng Hoàng. Những cơn mưa dềnh mặt ruộng, ngập đến đùi không rửa trôi hết được những uế tạp trên mình Phượng Hoàng. Đi vòng quanh tượng, thấy nhiều mẩu lông đã ram ráp, mòn đi hoặc rụng, vỡ. Mắt Thần chẳng có tròng. Thứ màu trắng lạnh trong mắt Phượng vốn là màu của đá tạc. Màu mắt nào thì hợp với Phượng Hoàng đây? Tranh về Phượng Hoàng cũng bỏ trống màu mắt. Người thầy giáo trước đó vẽ nhiều về Phượng Hoàng, liệu có điểm mắt?

Ngoài số tranh vẽ biếu, bán hay treo trong trường thì chẳng còn bức nào. Một trận hỏa hoạn cuối năm nọ đã thiêu trụi cái nhà cấp bốn của ông thầy. Tranh trong nhà thành tro. Số tranh khác thì Phượng Hoàng chưa được chấm màu mắt. Mắt để trống, như bức tranh truyền thống về Phượng Hoàng được vẽ lại từ bức tượng tạc lại trong huyền thoại xửa xưa.

Tôi mở sách, đọc cho em tôi nghe về Phượng Hoàng.

Hết chuyện. Em tôi ngủ, nhưng vẫn chưa ngủ. Em nói với tôi sắp tới lớp em sẽ thi học kì, bắt đầu bằng môn vẽ.

“Nếu khó thì anh sẽ vẽ giúp cho. Ngủ đi.”

“Vẽ tại lớp anh ạ. Em lo quá, điểm hệ số hai.”

Tôi vờ ngáy. Em tôi hỏi thêm một hai câu. Rồi cũng ngủ. Chẳng biết nó có thật sự ngủ chưa vì chốc lát lại trở mình. Chăn của tôi bị nó kéo hết.

*

Đường cái. Tượng Phượng Hoàng khép cánh. Mặt trời từ từ ngoi lên. Mỏ Phượng Hoàng khép nhọn như kim chỉ Nam nhích lên mặt trời.

Người làng ra đồng. Họ đi qua tượng. Ai cũng khấn, mong đến một mùa bội thu.

Cũng ở đường cái. Một người lạ mặt đi lòng vòng nửa ngày trời. Ông ta trạc ngũ tuần, râu phủ dài như tiên ông. Người đấy khoác một bộ quần áo màu nâu đất, vai khoác túi vải thổ cẩm và tự nhận mình là thầy cúng. Người làng tôi đón tiếp ông ta rất chu đao, dù với tư cách khách du lịch hay người nhỡ đường. Nghe đâu, thầy cúng gọi được Phượng Hoàng.

“Sẽ được thấy Phượng Hoàng.” – Đó là lời kháo nhau. Chưa đến nửa ngày, tin đã đồn khắp làng. Dân làng tôi, từ trưởng làng, trưởng họ, người làm ruộng, kẻ mở cửa hàng, ông chủ cho thuê đất, thợ làm thuê, người làm cán bộ trên xã, thầy giáo, bọn học sinh, các cụ ông cụ bà tuổi thượng tuế…Đều nhao nhác. Đến bọn trẻ con mới sinh hoặc còn trong bụng mẹ, thành hình hoặc chưa thành hình đều biết chuyện. Họ nói với nhau. Dò hỏi. Rồi tìm đến ông thầy.

Người trong làng kể cho ông thầy nghe giai thoại Phượng Hoàng. Ông thầy xem tượng, nói “Tượng bao nhiêu năm tuổi.”

“Lâu rồi.”

“Cụ thể?”

“Chẳng biết. Đẻ ra là thấy rồi.”

“Trăm năm không hay vài trăm năm?”

“Chả rõ, từ ngày xửa ngày xưa.”

“Chắc chẳng đến nghìn năm. Trăm tuổi là có linh khí rồi.”

Dân làng tôi nhao nhao. Ai cũng rạng rỡ. Người đến ngày một đông. Đường cái chật cứng người. Trưởng làng phải cho người dàn xếp hàng lối. Bảo rằng bà con không được làm loạn. Mấy cụ già ốm yếu chẳng ngại trời trở gió vì rằng chỉ cần nhìn thấy Phượng Hoàng thì chết ngay cũng được. Ông thầy cần lộ phí. Dân làng chấp thuận. Ông thầy bấm bấm tay, nhẩm một mình rồi bảo lúc hoàng hôn sẽ làm lễ.

Người làng mổ lợn, giết gà để khoản đãi ông thầy. Sáu rưỡi chiều, mặt trời đổ hoàng hôn. Chính lúc này, ông thầy làm lễ. Địa điểm là ở đường cái, nơi đặt tượng Thần.

*

Dân làng đứng đông, tạo thành nhiều hàng dài. Ai cũng háo hức. Chẳng ai chịu im lặng. Người nào người nấy nói lớn tướng. Có người cười. Tôi đứng cùng em mình. Mẹ tôi ở hàng sau. Có người mang giấy bút để phác lại cảnh có một không hai. Mặt trời đã nguội lửa, đang chậm rãi lăn đi như cái nhích kim trên đồng hồ.

Tượng Phượng Hoàng vẫn khép cánh. Đầu hướng cao.

Ông thầy đóng năm cọc tre quanh tượng. Cọc tre đóng theo vòng tròn. Một số cốc, bình, mấy nén hương được lấy từ cái túi thổ cẩm. Cốc, bình úp hết xuống đất. Đáy các cốc, bình được đục lỗ nhỏ. Ông thầy cắm ngược các que hương và đốt từ chân. Lửa nhai chân hương, lớn phổng một chốc rồi lịm tắt và hóa khói. Luồng khói nghi ngút, uống gió và bay quanh nghi lễ như con mãng xà trắng. Ông thầy niệm tiếng chú. Vừa niệm, vừa đi quanh. Một cán gậy được buộc hàng mớ quả chuông vang inh ỏi. Cán gậy chúc lên trời. Ông thầy vẩy nước lên tượng, vừa đi lòng vòng vừa niệm chú. Chẳng biết bao lâu. Lúc đầu còn có người coi. Sau, số thì buồn ngủ, số thì lẩm bẩm.

Ông thầy vã cả mồ hôi. Ông ta vẫn niệm, vẫn vẩy nước, lắc chuông. Đốt thêm cả hương. Chẳng có gì.

“Đồ bố láo.”

“Có chó gì, thằng lừa đảo.”

“Về thôi. Mệt cả người.”

“Xéo khỏi làng tao.”

Người này người kia hùng hổ. Ông thầy vẫn tiếp tục nghi lễ dù không gian đã xáo trộn. Mấy hàng người vỡ thành nhiều hàng nhỏ. Sóng người chen chúc. Chân nọ đạp vào chân kia. Đầu va vào nhau. Tiếng trẻ con khóc. Một cái cùi chỏ va vào mắt làm tôi nổ đom đóm. Một vài người nhặt đá ném ông thầy. Có người ném cả dép, cành cây, cả lõi ngô, củ khoai ăn dở. Trưởng làng hô hoán gì đấy. Không ai ngăn nổi dân làng đang giận đùng đùng. Trận phép bị đạp đổ. Tôi vẫn nắm tay em mình. Đám đông tràn như vỡ trận nên tôi chẳng thấy ông thầy đâu nữa. Không rõ ông ta còn kẹt trong đám người hay lẩn mất rồi. Đường ngày một chật bởi nhiều người chen chúc nhau để về. Do đông quá nên anh em tôi đứng nghỉ dưới một tảng đá. Em tôi ngáp ngủ và rúc vào vai tôi. Chưa bao giờ dân làng chen lấn như hôm nay. Trời chưa tối. Mặt trời còn lưng chừng núi. Hẳn phải bảy giờ chiều. Mặt trời vẫn bập bềnh như bị neo lại. Hoàng hôn đã tắt từ bao giờ. Ánh mặt trời giờ như ngọn đom đóm, tàn nhưng không mất.

Một tiếng gì đấy bổ xuống làng tôi. Dân làng đang nhốn nháo bỗng im phăng phắc. Có người kêu lên, chỉ tay về phía tượng. Một cái ngoái đầu, thêm một cái ngoái đầu rồi cứ thế, cứ thế. Dân làng đứng lại. Ai đang đi về cũng quay trở lại. Những nhóm lẻ nối thành hàng, dồn thành biển người rồi nhìn tượng. Mọi ánh mắt đổ xô về một phía như sao rơi.

Tượng đang lay mình, đôi cánh muốn bật mở. Em tôi đòi nhìn. Tôi nhấc em ngồi lên vai. Có người lẩm bẩm cầu khấn. Ai quỳ thì nhéo người bên cạnh quỳ theo. Các cụ già mắt sáng quắc. Có người vái lên vái xuống. Vì vung tay cao nên đập vào người phía sau.

Tượng lay mình vài cái. Đôi cánh khép xòe chầm chậm như cánh hoa nở để lộ nhụy.

Chẳng phải tượng đá. Là Phượng Hoàng. Thần Thú hiển linh. Thần thức giấc. Chao ôi, đấng vỹ đại.

Cái đầu vốn nghếch lên trời hàng trăm năm, giờ khằm xuống. Tôi nhìn lên. Không hề thấy màu mắt Phượng Hoàng. Đôi mắt thần rất to, thậm chí to hơn cái đầu tôi. Chẳng thấy màu mắt. Cặp mắt đấy như hai cái hốc đen, hoăm hoắm như lối vào lăng mộ. Bộ lông Phượng Hoàng mọc dày thêm. Những sợi lông mới mọc chổng ra, đâm tứ phía. Bộ vuốt chân Phượng Hoàng ngày một dài, nhọn và cong hình móc. Cái mỏ vốn khép cứng giờ tách đôi, nhìn sắc như cây kéo. Lúc cánh Phượng Hoàng xòe rộng chẳng ai còn thấy gì. Sau tiếng vỗ cánh, một cơn gió mạnh xốc đến, buốt lạnh đỉnh óc. Không ai thấy gì nữa. Phượng Hoàng cất cánh và đổ bóng đen xuống đường cái. Mặt trời đẫm đen như Nhật Thực. Một tiếng rú cao rồi chìm mất. Lại một tiếng rú khác. Tiếng vỗ cánh vẫn phần phật như cánh quạt trực thăng. Có tiếng kêu cứu. Tiếng từ dưới vọng cao lên. Một số người loay hoay và trượt ngã vì vấp chân. Bị ai đấy va vào, tôi ngã văng. Không thấy đau, cũng không chạm đất vì tôi nằm đè lên một vật mềm mềm. Sờ soạng hồi lâu, tôi nắn thấy những đốt ngón tay lạnh. Lúc các ngón tay co lại, nắm chặt bàn tay tôi thì tôi cố vùng ra. Tôi bò lồm cồm trong bóng tối. Mùi tanh sôi sục khắp nơi. Chợt, tôi nắm thấy một thứ dài như sợi dây nhưng trơn trượt. Nắn tay, tôi thấy thứ này lòng thòng, mềm nhũn và trơn ướt. Tôi kéo mạnh, thứ đấy đứt tung ra cùng một tiếng rên khẽ. Tiếng hô hoán không thoát khỏi màn đêm quá bao la như sa mạc. Tiếng kêu đổ lên nhau. Người người chạy đi nhưng chỉ va vào nhau. Rồi từng người một bị một vật sắc, với đầy sức mạnh nâng lên cao để lúc sau bị quẳng xuống khi đã nát bét.

Tôi không tìm được em mình. Tôi ôm đầu chạy. Dân làng tôi cũng chạy, không biết có ai ôm đầu giống tôi không. Chẳng ai thấy nhau. Thân người cứ va nhau bôm bốp rồi văng lăn lóc.

Chúng tôi kêu mãi Phượng Hoàng. Định quỳ gối cầu khấn nhưng chẳng ai còn nhớ tượng Phượng Hoàng đặt ở đâu, phương Nam hay phương Bắc…Bị trượt ngã vì vũng nước nhơn nhớt loang tràn mặt đất, tôi nằm lịm đi. Một lúc, tôi bật tỉnh vì tiếng gào thét của người làng. Ống quần tôi ướt nhẹp. Vuốt mặt để tỉnh táo hơn, tôi nôn thốc vì mùi máu tươi hôi hổi. Bỗng, tôi nghe thấy tiếng quạt gió. Thân người tôi bị bóp chặt trong bộ vuốt khổng lồ. Xương tôi bị vò nát bét. Cả người tôi phóng vọt lên cao. Không phải tôi bay. Người tôi nát nhừ rồi. Tôi bị cắp.

“…À” – Tiếng bên cạnh tôi. Lúc quờ tay, tôi nắm được một bàn tay bé xíu, hệt như tay em tôi. “…À” – Tiếng của tôi. Tiếng bên dưới cũng vang như thế. Những chữ “…À” vọt từ từng cái miệng dân làng tôi. Từng chữ nối nhau vang. Tiếng đổ ào ạt như con lũ bộc vỡ sâu lòng đất.

Cơn giật bắn người làm tôi văng khỏi giường. Đầu tôi cộc mạnh vào chân bàn. Cơn đau khiến tôi tỉnh hẳn. Lưng tôi ướt nhẹp vì mồ hôi và lạnh buốt cũng vì mồ hôi. Cột xương sống sượng cứng, lạnh toát như con rết đóng băng. Ngoài trời thui đen. Đêm vẫn dai dẳng. Nắm bàn tay rôm rốp, tôi gồng từ từ cốt gom đủ sức để đứng dậy. Tôi bật hết đèn, thắp đủ loại nến. Cái gì đốt được cứ đốt, miễn là đánh thành ánh sáng.

Mẹ tôi dậy rồi. Em tôi cũng thế. Nhìn họ trắng bệch, run rẩy như vừa chui ra từ hầm nước đá.

“…”

Ba mẹ con định nói gì đấy nhưng ấp úng mãi rồi thôi. Em tôi mếu máo, dường như định khóc òa lên nhưng rặn mãi chẳng thành tiếng nên đành chui vào trong chăn. Tỉnh ngủ đã được nửa tiếng, quạt bật cũng đã nửa tiếng nhưng tôi vẫn đổ mồ hôi. Những hạt mồ hôi lạnh cóng mình mẩy. Chỉ một tiếng nói thật lớn, hoặc chỉ một câu hỏi có hoặc không thế nhưng tiếng vẫn nén nghẹn, hồ như cuống họng bị một vật chẹn ngang, cũng như miệng bị may lại bởi những sợi cước dẻo dai vô hình. Tính viết cái gì đấy để đưa cho mẹ, hoặc em tôi, nhưng tôi lại run tay. Cái run rẩy khiến nét bút đâm toạc tờ giấy.

Sau đấy, từng nhà trong làng sáng đèn. Bật điện, đốt đuốc, soi đèn pin. Làng tôi như chẩy hội. Người làng đổ ra đường. Mẹ tôi cũng cầm đèn pin rồi ra ngoài.

*

Ngày hôm sau. Làng tôi tìm thấy một xác chết dưới ruộng. Không nhận diện được vì cái xác đã biến dạng. Xác nát bấy, nhão như bị ném vào cối giã. Cạnh xác chết, có một cái túi thổ cẩm. Trong túi rỗng tuyếch. Dân làng điểm mặt chẳng thiếu ai. Hẳn đây là khách vãng lai. Đêm hôm qua sét đánh qua làng. Dân làng kháo nhau. Quanh làng không có dấu vết của mưa, bão hay giông nhưng sét đã đánh. Sét giáng giữa đêm quang. Có khi nào người này bị sét đánh…

Thiên Lôi không chỉ phóng một lần sét.

Tượng đài bị sét cắt trúng.-Dân làng kháo nhau thế. Tượng Phượng Hoàng vẫn chiễm chệ ngoài đường cái. Tượng đen nhẻm. Không phải kẻ ngỗ ngược nào đã hất bùn, trát nhọ nồi hay đổ sơn đen lên tượng. Dân làng đã lau rửa bằng nước giếng, cả nước pha vỏ bưởi nhưng màu đen vẫn dày như bóng tối. Sấm sét không làm tượng vỡ hay sứt mẻ mà chỉ khiến bức tượng đen sì như nhuộm mực tầu. Nắng mặt trời Chính Ngọ cũng không làm mờ màu đen trên tượng. Tượng đen đổ bóng đen.

Quanh tượng tìm thấy những miểng vỡ thủy tinh, một lượng lớn các que hương mất chân. Một tên điên nào đấy đã đóng cọc quanh tượng. Dân làng đã dọn sạch tất cả và hô hào để lùng bắt kẻ đã phá hoại chốn linh thiêng nhiều đời. Chuyện tối qua không ai nhắc. Không ai gợi chuyện. Hoặc gợi rồi lờ đi.

Cái xác lạ được dân làng mai táng. Vì không rõ danh tính nên không lập bia. Chỉ đào một cái hố thật sâu, quấn chiếu xác rồi chôn. Trên mộ phần có gieo ít hạt giống. Mấy năm nữa là cây sẽ xanh tươi.

Người làng tôi bị khàn giọng. Chẳng phải dịch cúm, hay một bệnh truyền nhiễm về họng. Tiếng nói ra đặc sệt, ngắt quãng như hụt hơi. Một tiếng “À.” thốt ra rồi đứt phựt. Chữ À không ai nói nữa và dần lãng quên từ một buổi sáng. Có gì đâu mà phải à lên…

Tượng Thần vẫn ngạo nghễ ở đường cái. Dù tượng giờ đây đã đen tới mức chỉ như một bóng chim Thần. Dân làng đi qua đường cái rụt rè hơn. Không ai trò chuyện to cả. Đi xe qua phải dắt. Trâu, bò đều phải rọ mõm. Lúc đi qua tượng ai nấy đều lúi húi, chân tay bủn rủn như sốt rét. Có người đánh rơi cả cuốc. Nhắc đến Phượng Hoàng, người già đến trẻ em đều ngắt ngứ. Trẻ con im lặng còn người lớn kể về giai thoại Phượng Hoàng đuổi mây đen. Kể nhát gừng từng câu từng câu. Người ta thờ Phượng Hoàng tại nhà. Nhang khói thường xuyên. Nhà tôi cũng thờ. Ảnh thờ là bức tranh cổ từ thời ông tôi. Mẹ thờ Phượng Hoàng trên ban thờ tổ, xếp gian giữa. Lúc qua đường cái, nếu đứng quá gần tượng ai cũng mường tượng đầu không ngẩng cao, mỏ chỉ trời chỉ trăng nữa mà cúi xuống. Đôi cánh tượng xòe rộng…Phượng Hoàng vỗ cánh…Nghĩ đến đấy, và ai nấy đều vã mồ hôi. Tất cả cùng vuốt mặt bằng hai bàn tay để lau mồ hôi, và để biết mình vẫn lành lặn.

Tiết thi vẽ tại lớp em tôi ăn trứng ngỗng. Đề tự do. Cả lớp đều vẽ Phượng Hoàng. Em tôi cũng vẽ Phượng Hoàng. Cô giáo lớp em đã gọi điện và mời họp phụ huynh. Mẹ bảo đáng lẽ tranh em đẹp nhất nhưng cuối tiết em đã tô đen hình Phượng. Em tô mạnh tay, màu in thấu cả trang giấy và dính nhớp mặt bàn. Phượng Hoàng mà em vẽ xòe cánh. Em tôi không vẽ lại, cô giáo nhắc nhở gia đình bảo ban về ý thức học của em.

Dân làng gần đây mắc chứng khó ngủ vào buổi đêm. Ai cũng lăm lăm quyển sách để đọc cho dễ ngủ. Sách viết về giai thoại làng này: Phượng Hoàng. Người làng tôi đã tập hợp mọi chuyện về Thần và đóng quyển. Nhà nào cũng có. Đọc rồi ngủ. Hàng sáng, mắt ai cũng thâm quầng.

Mẹ tôi ngủ sớm. Trước lúc ngủ, mẹ căn dặn tôi kể chuyện dỗ em ngủ. Tôi cầm sách. Trang về Phượng Hoàng được đánh dấu bằng nếp gấp nên tôi không cần phải dò. Em tôi lắc. Tôi chưa kể. Em tôi chui vào chăn, chùm kín người và nằm vo tròn trong lớp chăn.

“Ngày xửa ngày xưa…”

Đọc đến đấy, tôi chợt nghĩ đến người thầy giáo vẽ Phượng Hoàng. Nơi ông ta biến mất là ở đường cái, tượng Phượng Hoàng khép cánh.

Từ phía ngoài, cánh cửa bật ra. Một bóng người chạy vọt về phía giường nơi tôi ngồi giở sách và em tôi rúc rích trong chăn. Một cánh tay đã lật tấm chăn. Em tôi bị lôi tuột khỏi chăn nhanh gọn như người ta cầm đầu con ốc mượn hồn, lôi một nhát tuột vỏ. Cũng cánh tay đấy giật đi cuốn sách trên tay tôi. Trang viết về Phượng Hoàng được lật mở. Giọng đọc bật ra, êm nhưng đủ vạm vỡ để cả gia đình, gồm cả các cụ ông, cụ bà, bức tranh thần thú trên bàn thờ đều nghe thấy.

Tiếng đọc chuyện dỗ giấc ngủ rầm rập từng nhà. Qua tiếng đọc rôm rốp, cháy khét cảnh khuya, tôi thấy Phượng Hoàng đạp đổ bệ đá. Trên đôi mắt mở của thần thú chừng nửa phân, tôi thấy nhô ra một vật như mũi tầm vông vót nhọn. Mấu xương đấy vươn dài và nhọn lên, đâm trời, đâm trăng.

Ngày xửa ngày xưa...Chuyện bắt đầu…

Tru Sa

Văn học Đông Nam Bộ thiếu hụt lực lượng sáng tác trẻ

Văn học Đông Nam Bộ thiếu hụt lực lượng sáng tác trẻ

Văn học là bộ phận quan trọng hình thành một nền văn hoá. Văn hoá xuống cấp dẫn đến đạo đức xuống cấp, gây nên bao hệ luỵ cho xã hội. Vì quan tâm đến phát triển kinh tế mà nhiều năm nay có những địa phương ít quan tâm đến xây dựng văn hoá. Sự thiếu hụt của đội ngũ sáng tạo kế thừa là lẽ tất nhiên…

Cuối tháng 7/2016, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đồng Nai vừa mở trại sáng tác trẻ. Các bạn trẻ yêu thích sáng tạo trên các lĩnh vực VHNT được quy tụ về đi tham quan mô hình nông thôn mới, các di tích lịch sử, văn hoá, thắng cảnh trong tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và giao lưu với đoàn nhà văn trẻ đến từ TP.HCM. Đây là một nỗ lực đáng khích lệ của những người tổ chức trong điều kiện khó khăn về kinh tế và lực lượng sáng tác trẻ.


Đoàn nhà văn trẻ TP.HCM giao lưu với Trại Sáng tác VHNT trẻ tỉnh Đồng Nai 7/2016

Đồng Nai là tỉnh rộng lớn nhất miền Đông Nam Bộ, từng được biết đến với nhiều tên tuổi trên văn đàn như Huỳnh Văn Nghệ, Bình Nguyên Lộc, Lý Văn Sâm, Hoàng Văn Bổn... Sau năm 1975, Đồng Nai cũng lần lượt xuất hiện nhiều cây bút trẻ đáng chú ý, có người trụ lại trong tỉnh, có người về TP.HCM sống và tiếp tục sáng tạo. Nhờ sự nhiệt tình của nhà văn Khôi Vũ - Nguyễn Thái Hải, nhiều lớp sáng tác văn học dành cho thiếu nhi cũng được mở ra hơn 20 năm qua, phát hiện và ươm mầm được một số cây bút học trò có năng khiếu và “nâng cánh” cho họ trở thành những nhà văn, nhà thơ đích thực.

Tuy nhiên, những năm gần đây VHNT Đồng Nai ngày càng thiếu hụt lực lượng sáng tác trẻ, nhất là văn học. Nhạc sĩ Nguyễn Khánh Hoà - Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Đồng Nai cho biết việc mở trại sáng tác trẻ này được chuẩn bị công phu từ mấy năm nay nhưng gặp rất nhiều khó khăn về đội ngũ. Hơn 100 giấy mời đã gửi về các cơ quan, trường học địa phương và đích thân cán bộ Văn phòng Hội cũng đi tìm những bạn trẻ có năng khiếu, nhưng chỉ tập hợp được 32 bạn để mở trại sáng tác VHNT.

Trong số này, các bạn trẻ yêu thích văn học chiếm khoảng một nửa, nhưng chủ yếu mới tốt nghiệp phổ thông trung học, một vài bạn vừa tốt nghiệp đại học, mới chập chững viết, chưa có tác phẩm đáng kể. Tham gia trại duy nhất có một cây bút đáng chú ý là nhà văn trẻ Hạnh Vân đã xuất bản 1 tập thơ và 1 tập truyện, nhưng cũng không còn trẻ nữa vì đã 36 tuổi. Hạnh Vân là sự nối tiếp đàn chị Trần Thu Hằng, tác giả tiểu thuyết Đàn đáy nổi tiếng, nay đã ở tuổi tứ tuần và đang là Chánh văn phòng Hội. Tuy nhiên, cả nhà văn Trần Thu Hằng và Hạnh Vân cũng tâm sự rằng, vì lo công việc mưu sinh cho gia đình, mấy năm gần đây hai chị cũng không có nhiều thời gian dành cho sáng tác, nên không có tác phẩm mới.

Đồng Nai là tỉnh duy nhất ở miền Đông Nam Bộ hiện nay còn tồn tại một nhà xuất bản. Thời bao cấp, có nhiều sách văn học của các tác giả trẻ được NXB này đầu tư in ấn, góp phần động viên khuyến khích mạnh mẽ đời sống sáng tác văn học. Bước vào cơ chế thị trường, NXB Đồng Nai ngày càng “thu mình” lại, nay chỉ còn là một phòng của Sở Thông tin và truyền thông, phải tự chủ kinh phí, việc chủ động đầu tư xuất bản sách rất ít, sách văn học càng hiếm hơn, nên tác phẩm các tác giả trẻ trong tỉnh cũng khó “chen chân” vào.

Với một tỉnh có truyền thống văn học như Đồng Nai còn thiếu hụt lực lượng sáng tác văn học trẻ, các tỉnh còn lại ở miền Đông Nam Bộ cũng chẳng mấy lạc quan. Đời sống văn học ở hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước thường im ắng, hiếm thấy các cây bút trẻ xuất hiện để lại dấu ấn. Sôi động hơn một chút là Tây Ninh, với những cố gắng mở trại sáng tác và ra mắt cho các tác giả trẻ, nhưng số lượng và chất lượng vẫn chưa cao, có thể kể đến hai cây bút nữ Phạm Thuỳ Trang và Trần Nhã My nhưng tuổi đời cũng gần 40.

Đáng kể hơn là tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, mấy năm qua xuất hiện một số cây bút trẻ đáng chú ý như Vũ Thanh Hoa, Hoa Níp, Văn Thành Lê, Trịnh Sơn, Đoàn Trọng Hải, Bùi Đế Yên, Châu Hoài Thanh… nhưng có người tuổi đã xấp xỉ trên dưới 40, nghĩa là không còn trẻ nữa. Trong đó, hai cây bút ở lứa tuổi 30 là nhà thơ Trịnh Sơn đã rời quê hương Bà Rịa - Vũng Tàu ngược ra xứ Nghệ quê vợ là nhà thơ trẻ Võ Thị Phương Thuý để mưu sinh, còn nhà văn trẻ Văn Thành Lê cũng vừa lên TP.HCM đầu quân cho NXB Kim Đồng chi nhánh phía Nam. Một cây bút tài năng khác vừa bước qua tuổi 30 là Hoa Níp thì bị tai nạn giao thông đột ngột qua đời cuối tháng 5/2016 vừa qua, để lại những trang bản thảo chất lượng được bạn bè tập hợp xuất bản thành tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng và tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ.

Nhà thơ Lê Huy Mậu - Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trăn trở rằng việc tìm những cây bút trẻ có năng lực để kế thừa rất khó. Có người vừa làm được vài bài thơ hay viết vài truyện ngắn đọc được thì bỗng dưng biến mất, lao vào cuộc mưu sinh. Có lẽ cái danh nhà văn, nhà thơ thời kinh tế thị trường không còn thu hút giới trẻ bằng các thế hệ cha anh. Tình yêu sâu nặng và sự bền bỉ với con đường văn chương ngày càng hiếm hoi.

Ai cũng biết VHNT nói chung và văn học nói riêng không thể trực tiếp làm ra của cải vật chất cho xã hội, nhưng những tác phẩm thực sự có giá trị chính là tài sản văn hoá vô giá của một địa phương, đất nước. Văn hoá xuống cấp dẫn đến đạo đức xuống cấp, gây nên bao hệ lụy cho xã hội. Vì quan tâm đến phát triển kinh tế mà nhiều năm nay có những địa phương ít quan tâm đến xây dựng văn hoá. Sự thiếu hụt của đội ngũ sáng tạo kế thừa là lẽ tất nhiên. Muốn văn hoá phát triển, ngoài năng khiếu và nỗ lực tự thân của người sáng tác thì còn cần sớm có sự quan tâm của các cơ quan chức năng bằng những chương trình hành động cụ thể về đầu tư, hỗ trợ khuyến khích sáng tác, xuất bản và quảng bá tác phẩm. Miền Đông Nam Bộ với hạt nhân là Đồng Nai vốn giàu truyền thống văn hoá, nhất là văn học, hy vọng sẽ sớm có đội ngũ sáng tác trẻ đủ mạnh để nối tiếp các thế hệ cha anh.

Phan Hoàng - Văn học quê nhà

Nhà thơ yểu mệnh Hoa Níp: Tình duyên lận đận, tình văn vẹn đầy

Nhà thơ yểu mệnh Hoa Níp: Tình duyên lận đận, tình văn vẹn đầy

Sáng sớm ngày 25/5, nhà thơ Hoa Níp (sinh 1985) bị tai nạn giao thông qua đời tại Vũng Tàu, để lại nhiều tiếc thương cho gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.

Nhân lễ cúng chung thất 49 ngày mất của nhà thơ trẻ Hoa Níp, nhóm bạn văn của anh đã thực hiện 2 tập sách: Bao giờ đến được cánh đồng(thơ) và Nàng là nước Mỹ (tập truyện ngắn). Đây là 2 tập sách mà lúc sinh thời, khoảng năm 2013, chính Hoa Níp đã chuẩn bị bản thảo, tự viết lời mở đầu (cho tập thơ), nhưng rồi bản thảo vẫn chưa in.

Thương nhau như người cầm bút

Hai cuốn sách đầu tay của Hoa Níp và cũng có thể là hai cuốn sách cuối cùng của anh do Ban Nhà văn trẻ, Hội Nhà văn TP HCM thực hiện. Hai người trực tiếp đọc bản thảo và nhuận sắc lần cuối trước khi đưa đến nhà in là nhà thơ Phan Hoàng và nhà văn Trần Nhã Thụy. Có lẽ, việc đọc bản thảo và nhuận sắc của hai nhà văn Trần Nhã Thụy và Phan Hoàng với những bản thảo như của Hoa Níp, là một việc làm tương đối hiếm hoi so với trải nghiệm viết lách của hai vị này.


Tập truyện ngắn “Nàng là nước Mỹ”

Chẳng những thế, NXB Hội Nhà văn cũng không lấy phí giấy phép xuất bản với hai cuốn sách của Hoa Níp. Quỹ Tình thơ của nhà thơ Lâm Xuân Thi chuyên trợ giúp các nhà thơ gặp khó khăn trong cuộc sống cũng tài trợ một khoản tiền đủ để in hai cuốn sách này. 

Với giới văn chương, như cụ Tản Đà một thời ta thán: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Từ thời cụ Tản Đà đến nay, có mấy khi văn chương có giá, nếu không đoạt giải Nobel thì cũng phải là cây viết ăn khách.

Vậy nên, cái tình này trong hai cuốn sách của nhà thơ yểu mệnh Hoa Níp không thể khác là cái tình văn chương trong thời buổi kim tiền này.

Nhà văn Trần Nhã Thụy khẳng định trong buổi tưởng niệm và ra mắt sách của Hoa Níp: “Việc in 2 tập sách của Hoa Níp, được xem như là nghĩa cử đẹp mà những bạn văn dành cho anh, đồng thời cũng là tâm nguyện của gia đình anh. Kinh phí in 2 tác phẩm của  Hoa Níp do các bạn văn đóng góp và Hội Văn học Nghệ thuật Bà Rịa - Vũng Tàu hỗ trợ một phần. Các họa sĩ, biên tập tham gia vào việc thiết kế, in ấn đều không nhận thù lao, xem đây là nén nhang tâm dành cho cây bút tài hoa đoản mệnh”. 


Tập thơ “Bao giờ đến được cánh đồng” của Hoa Níp

Tình cảm dành cho cây bút tài hoa bạc mệnh Hoa Níp, được nhà văn Trần Đức Tiến chia sẻ:

“Hoa Níp là cây bút trẻ nhiều khát vọng. Truyện ngắn của anh luôn có sự tìm tòi, đổi mới về nội dung và cách thể hiện.

Giống như nhiều người viết trẻ khác, do kinh nghiệm, sự từng trải, độ dày dạn của ngòi bút còn có những hạn chế, Hoa Níp cũng có những truyện non, lép. Nhưng mỗi khi vốn sống đủ chín và tư tưởng bắt kịp khát vọng làm mới nghệ thuật, Hoa Níp vụt tỏa sáng trong một vẻ đẹp riêng biệt, rất đáng để người đọc ghi nhớ và dõi theo…

Còn nhớ khi vừa đọc xong truyện G.K.2851 của anh gửi dự thi trên một tờ tạp chí, tôi liền gọi điện chúc mừng anh và nói: “Tớ mà ở trong Ban giám khảo thì dứt khoát tớ đưa truyện này vào giải”.

Vui thì nói vậy, chứ tôi tin Hoa Níp cũng thừa biết "giải giếc" nọ kia đâu có quá ghê gớm với một người cầm bút tự trọng và khắt khe như anh. Bây giờ anh đi rồi, nghĩ lại thấy những cuộc thi thố ấy càng có vẻ phù phiếm. Chỉ có những trang văn vẫn rạo rực hơi thở của anh còn lại với bạn bè là có thật”.

Dở dang phận đời

Đời Hoa Níp đúng là gắn với hai từ... dang dở, quê anh ở Hà Tĩnh - một vùng đất yêu thơ nhưng sinh trưởng tại Vũng Tàu, một nơi mê du lịch, đây là dang dở. Anh học bốn trường ĐH Giao thông Vận tải, ĐH KHXH&NV, ĐH Kiến trúc và Trường Viết văn Nguyễn Du nhưng đều dang dở. Anh cưới vợ được khoảng một năm, hạnh phúc chưa tròn thì chia tay, đây là dang dở. Và cuộc đời anh kết thúc ở tuổi 30, khi dự kiến đám cưới lần thứ hai này vào tháng 10/2016 trong lúc nhà đang sửa để đón dâu, đây là dang dở.

Hạnh phúc trọn vẹn của Hoa Níp, có chăng là tình cảm của bạn bè đồng nghiệp dành cho anh, của gia đình anh và của người vợ sắp cưới. Phùng Vân, vợ sắp cưới của Hoa Níp, viết: “Chồng yêu... Em đã đứng tần ngần miết trước cửa sân bay, vì bên kia là cuộc sống quá ngổn ngang và cô độc đang chờ đợi, những tưởng chúng mình sẽ cùng nhau dọn dẹp, bày biện lại cuộc đời này”.

Dở dang phận đời Hoa Níp không phải chỉ tình duyên, mà cả với bạn bè anh em văn nghệ cũng dang dở. Nếu ở Sài Gòn, Hoa Níp có các anh chị thân thương là nhà thơ Phan Hoàng, Lê Thị Kim, nhà văn Trần Nhã Thụy, thì ở Hà Nội Hoa Níp có nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Nhưng với Nguyễn Quang Thiều, Hoa Níp không có nhiều cơ hội để gặp, ngoài những tin nhắn thảng hoặc.

Hay tin Hoa Níp mất, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết Bài thơ về Hoa Níp, xin được trích đăng như đôi dòng tiễn biệt: Bây giờ em ở đâu, ở đâu, Hoa Níp/ Những câu thơ em ngổn ngang như đá/ Bên bờ biển hoàng hôn/ Những câu thơ em bay như cát/ Vừa cuồng loạn vừa kiêu hãnh/ Và rên rỉ và không bao giờ cúi mặt.

Trạc Tuyền
Thể thao & Văn hóa

Từ “Nỗi buồn đập cánh” đến “Nỗi buồn trong suốt”

Từ “Nỗi buồn đập cánh” đến “Nỗi buồn trong suốt”

“Nỗi buồn trong suốt” là tên tập tản văn đầu tiên và là cuốn sách thứ hai của cây bút trẻ An Giang - Nguyễn Đức Phú Thọ. Cầm trên tay cuốn sách có bìa giản dị, không quá dày và đủ cám dỗ để một người dù có bận rộn đến mấy nếu lỡ đọc trang đầu cũng lật tiếp.

Đúng như chữ khởi đầu của cuốn sách “nỗi buồn”, 61 bài tản văn đều có chung tâm trạng buồn. Buồn của Nguyễn Đức Phú Thọ có cả sự mất mát, đau đớn tột cùng khi phải chấp nhận mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời. Nhưng bên cạnh đó, ở cây bút trẻ này nhiều khi “cơn cớ” để buồn rất dễ đến, tự nhiên, nhỏ xíu và dễ thương như một bàn tay con gái.

Có thể chỉ là một chiều được ngồi lại trong cái quán Trầm với cái tên cũng đủ gợi nỗi lòng, rồi quan sát cận cảnh từ ô cửa, lớp kính cho đến không gian vượt thoát cao hơn với bầu trời “Khung ảnh nhỏ bé vậy mà xanh níu xanh, xanh chạm xanh trải ra những kết nối bất tận. Cả trong trí tưởng”. Rồi ánh mắt lại sợ, không dám tận hưởng thỏa thích cái góc nhìn của chính mình, của riêng mình để co cụm, khéo léo chối từ. Và những khuôn mặt hiện diện trong quán như nhắc khéo về hoài niệm ấu thơ, bạn bè… miên man trong nền xanh như một ký tự tự dưng chèn vào những khuôn hình vừa thực vừa ảo. “Quán tên Trầm/ Là nơi dù cứng chật không gian, người vẫn cố dặn mình ngồi lại./ Để mơ xanh.”

Còn với nắng “có những ngày nắng tràn cả vào cơn mơ giấc ngủ. Những giọt nắng rơi về giữa tâm tư bao hình ảnh sáng lòa. Nhưng tất cả lung linh, vô định. Những bóng người đã vĩnh viễn xa ta”. Nắng còn là giấc mơ của những ngày bão về, của sự sống và sự di chuyển..

Và mưa “những cơn mưa lại trở về thành phố. Như một thói quen”, như chuyến tàu thân thuộc đến giờ hiện diện trước ga, tưởng chẳng có đủ sức níu kéo tâm hồn ai. Vậy mà với tâm hồn quá đỗi nhạy cảm, mưa đã tái hiện biết bao những “đoạn rời” của ký ức để nối về hiện tại. Trong cái không gian hiện tại và quá khứ ấy dường như đường biên quá mỏng manh để “Từng câu chuyện quá khứ tan vào mưa, li ti vỡ. Gió bỗng lùa một cơn thật mạnh qua hàng hiên. Thông thốc. Mát rượi. Hoài niệm ùa về không cách nào ngăn nổi. Tôi khẽ khàng áp đôi gò má xương xẩu lên đầu gối, nằm mơ. Và xa xôi, ở ngoài kia. Dường như những tiếng mưa rơi cứ dần nhỏ lại…”.

Đến gió “Ngày nhiều gió. Cứ chênh chao nỗi âu lo./ Đôi khi, muốn mình là ngọn gió, dang tay giữa đám cây… Gió có biết đến niềm vui, hay gió chỉ là những hình dung trống rỗng. Và đi trong bất tận phương trời. Dù sâu thẳm gió cũng tìm đến được./ Như cuộc đời, chẳng ai biết trước./ Chỉ nghe gió vi vu”.

Đặc biệt trong cuốn tản văn “Nỗi buồn trong suốt” có đến 30 “thư muộn” phần lớn gửi cho một người con gái tên K. với một câu chuyện buồn xuyên suốt. Đó là những hối tiếc, dằn vặt, tan vỡ, những kỷ niệm đẹp, những phút giây hạnh phúc nhưng mong manh của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, nông nổi, khát khao mơ về một miền đất lạ đã không trở lại. Rồi cả khi người con gái tên K. ấy đã vĩnh viễn đi xa, nỗi đau bất ngờ đến nỗi người ta không thể tin ngay đấy là sự thật…

Tác giả có những lý giải khá triết lý nhưng lại không khiến người đọc thấy “già” mà khá tự nhiên như đang được ngồi cùng bàn tâm sự, được tác giả trải lòng một cách chân thật: Chúng ta nghĩ kinh nghiệm là thứ sẽ giúp ta đứng vững trước cuộc đời. Nhưng đứng trước tình yêu nó trở nên vô nghĩa. Nếu yêu bằng kinh nghiệm, đó chẳng phải tình yêu. Nó gần giống với một thói quen, được nuôi dưỡng bằng lý trí và dự tính.

Những “thư vội” trong “nỗi buồn trong suốt” không quá dài, mỗi thư chỉ tầm hơn trang giấy in. Nhưng hình như mỗi thư là một câu chuyện được kể lại mà người gửi chẳng còn gửi được cho người nhận nữa. Thư là nơi lưu giữ cảm xúc thật nhất của người viết ở những khoảnh khắc khác nhau bất chợt đến, bất chợt ùa về trong cuộc sống thường ngày.

Thư vội là viết vội theo dòng cảm xúc chảy tràn hay thư vội là thư đã lỡ chuyến gửi cho người nhận? Có thể chẳng suy đoán nào đúng, hoặc cũng có thể đúng cả hai. Nhưng nó đem đến cho người đọc cảm xúc về hoài niệm tuổi trẻ với một nỗi buồn “trong suốt” vừa nhạy cảm, mong manh lại vừa khó tan biến vĩnh viễn.

Đọc “Nỗi buồn trong suốt” bỗng nhiên như sống lại thời trẻ của những năm tháng tuổi hai mươi với nỗi buồn đầy cơn cớ. Buồn đấy nhưng không làm con người ta bi lụy và tuyệt vọng. Mà buồn để chiêm nghiệm, để thấy cuộc sống này đáng sống và chúng ta đã đi qua nỗi buồn như thế, đi qua tuổi trẻ như thế. Và phải đúng là người làm thơ, có tâm hồn thơ thì mới viết được những tản văn đầy chất thơ như thế.

Nhà văn Đặng Thiên Sơn nhận xét: “Nỗi buồn trong suốt” chủ yếu là những tản văn viết về tình yêu và những trải nghiệm, kí ức của tuổi trẻ của chính tác giả. Ở đó pha trộn nhiều cảm xúc trước nhưng va vấp, chia li và hoài niệm. Những mảng màu có khi đối lập, có khi trộn lẫn hòa quyện vào nhau, có khi bàng bạc, chỉ như một nốt lặng mờ ải… Để rồi sau tất cả, khi nhìn lại, những nỗi buồn ấy hiện lên như một thứ pha lê, trong suốt mong manh.

Còn nhà văn Nguyễn Thị Kim Hòa thì chia sẻ: “Chảy vào tôi một làn hơi bàng bạc mang tên nỗi buồn. Làn hơi ngỡ thoảng nhẹ, mong manh và se sắt ngẩn ngơ, ai đó từng hoang mang trôi giữa những ngày tuổi trẻ vây bọc lắm cô đơn. Có mất mát, có hoang hoải, có cả phút chiêm nghiệm sâu lắng đến không ngờ. Tôi đã định chỉ lướt qua. Nhưng rốt cuộc, lại thấy mình như bị hút lấy, bị nhập vào cùng với những con chữ được viết bằng thơ ấy”.

Hà Anh - Văn học Quê nhà

Truyện ngắn 1200 chữ: Tuổi già

Truyện ngắn 1200 chữ: Tuổi già

Mùa đông năm nay mưa không nhiều, vắng bão và ít gió. Thế mà ông cụ Đa cứ ngồi lo ngay ngáy, bữa ăn chỉ xơi chừng một bát cơm là ngưng. Bà cụ bưng chén lên định xới thêm cơm cho ông, nhưng ông đã kịp gác đôi đũa ngang trên chén ngăn lại.

Phóng to
Minh họa: Nguyễn Ngọc Thuần

- No rồi bà. Gần chết ăn chi cho nhiều.

- Già rồi lo chi chết ông - bà cụ nhai nốt miếng cơm rồi nói như an ủi.

- Tui chẳng lo chết. Chỉ sợ là sợ chết trước bà thôi.

- Lỡ tui chết trước thiệt. Ông sống một mình chắc cũng buồn lắm?

- Tui chỉ mong được chết sau bà. Để còn lo cái hậu sự cho bà thật đàng hoàng.

- Ui dào. Thế ông với tui chết một lần, khỏi cù nài nghe.

Cụ Đa móm mém cười, run run nhấc đôi đũa.

- Ừ, bà nói nghe trơn ruột. Thế thì cho tui thêm lưng bát nữa.

*

Ông bà cụ Đa năm nay đã gần tám chục tuổi. Ông bà đều nhai trầu đỏ nên răng vẫn còn kha khá. Ông hay nói đùa với cụ bà: “Răng tui với răng bà cộng lại vừa đủ một hàm”.

Bác Sanh, con trai duy nhất của ông bà, thì đã ở trên phố cách làng ba chục cây số. Vợ bác Sanh tên Hoa. Công việc bán buôn bận rộn suốt nên mỗi năm hai vợ chồng bác Sanh cũng chỉ đáo về làng dăm ba lần. Mỗi lần bác Sanh về lại “cấp” cho bà cụ Đa một ít tiền. Khoản trách nhiệm phí này do bác gái chủ chi và đưa cho bác Sanh, dặn: ông bà già rồi, tiêu tiền không mấy, chừng đó là được rồi. Bác Sanh hầu như chả bao giờ có tiền dư dật trong túi, bác gái nắm tài khoản hết, thành ra có muốn dúi thêm cho bà cụ Đa cũng chịu.

Bác Sanh có hai con gái, một đã ra trường đi dạy, một đang học cấp ba. Hai cô cháu gái ít khi về thăm ông bà nội. Cô chị bảo về quê chán lắm, nhà ông bà nội thấp le te, cái chỗ nằm cũng chẳng nên thân. Cô út thì nói em ớn nhất là thấy bà nội nhai trầu, cứ nhổ bèn bẹt ra sàn nhà. Nhìn mà ghê.

Ông bà cụ Đa thì luôn mong ngóng con cháu về chơi. Mỗi lần cây bưởi sau vườn ra trái, bà cụ đều lấy dây chuối buộc đánh dấu năm trái ngon nhất để dành cho cháu. Thế mà hết mùa bưởi, cả cây bẻ trụi trái chúng nó vẫn chưa về.

Cụ Đa có tính lo xa. Cách đây năm năm ông đã đi xuống cồn Mai, bãi đất nghĩa trang ở làng, chọn một miếng đất đủ cho hai phần mộ. Ông cắm tre xung quanh. Cái đó người quê gọi là đất “thành phần”. Có người bảo con ông ở trên tỉnh, chết nó đưa đi hỏa thiêu thành tro than rồi gửi chôn trên nghĩa trang thành phố cho sạch sẽ, chôn dưới đất làng nước nó ngâm chẳng lạnh lẽo à. Ông cười, nói sống ở đây thì chết ở đây, có bà con xóm làng, bỏ đi đâu chỉ thêm quạnh quẽ.

Ông cụ tính chờ bác Sanh về, đặt ý với anh ấy là xây cho ông bà cái tường táp lô quanh đất thành phần. Ở giữa xây cái hộp quách, để khi ông bà chết thì chỉ việc thả cái hòm xuống là xong.

*

Mưa đậm, gió lạnh tràn về bất ngờ khiến bà cụ lên cơn suyễn, ho lộc hộc cả ngày, cứ như sắp đi. Ông cụ Đa sang hàng xóm gọi nhờ điện thoại lên cho bác Sanh. Giọng run run líu lưỡi, nói rập cập chữ được chữ mất vì hàm răng cái còn cái rụng. Bác Hoa bắt điện. Nghe xong không phản ứng gì. Cũng chả báo với chồng. Nghĩ, bà cụ còn khỏe thế chết đâu được. Chẳng qua trời lạnh quá tuổi già ho hen cũng chuyện thường.

Đúng là bà cụ chưa về với tiên tổ được, nhưng sau trận ốm cụ quỵ hẳn, suốt ngày nằm trên giường. Coi bộ cũng chả sống thêm bao lâu nữa. Cũng may là bà ốm nặng nhưng ông còn khá khỏe, chăm lo cho bà được. Ông đút cháo cho bà, vệ sinh cho bà hằng ngày.

Nhiều người thấy thế cảm thương ông. Nhưng cụ Đa vẫn nhướng mắt lên cười, tỏ vẻ lạc quan. Ông nói sống chết có số. Tui với bà ấy sống tới chừng này tuổi là số lớn lắm rồi. Chẳng tiếc nuối chi nữa. Có điều, rất mong anh Sanh anh ấy về xây ngoẻn cái lăng cho xong. Để vài bữa bà ấy đi thì cũng có chỗ ấm áp mà nằm dưới đất.

Ông cụ Đa lại sang gọi nhờ điện thoại lên phố cho bác Sanh. Ông rống hết sức nói trong điện thoại: “Chúng tôi chết đến nơi rồi, anh chị coi về chôn cho với”. Bác gái nghe xong nói với bác trai: “Ông cứ oang oảng thế thì chết đâu được”. Thế nhưng hôm sau hai vợ chồng bác Sanh cũng về làng.

Cụ Đa lại nói chuyện xây lăng. Bác Sanh quay sang vợ, hỏi ý mẹ mày thế nào. Bác gái bảo hẵng đã bố ơi. Xây thì dễ, nhưng làm thế thiên hạ lại bảo vợ chồng con ác, muốn ông bà chết quách cho xong hay sao mà đi xây lăng. Nói xong, bác gái kéo bác trai ra ngoài: “Thầy bói bảo năm nay mà động đến đất đai mồ mả là việc bán buôn sẽ khó khăn”.

Gần tết thì bà cụ Đa mất. Tám chục tuổi tròn. Bà nhắm mắt đi khỏe re sau bữa tối. Đám tang cụ bà, ông cụ Đa buồn thiu nhưng vẫn bảo: “May là tôi còn sống để lo được hậu sự này cho bà. Chỉ tiếc chưa xây được cái lăng”.

Đám xong xuôi, hai vợ chồng bác Sanh muốn đón ông cụ Đa lên phố ở. Nhưng ông không chịu, nói tui ở lại đây với bà con xóm làng, hương khói cho tổ tiên, chiều còn xuống mộ chơi với bà nữa chứ. Bác Hoa nói cụ gàn, sướng không ưng, cứ ưng cực.

Năm ngày sau khi cụ bà mất, ông cụ Đa cũng đi theo luôn. Đi rất nhẹ nhàng. Người ta bảo cụ đang khỏe thế mà mất, thật lạ. Có người lý giải do nhịp sinh học. Hai ông bà sống với nhau cả đời, hai cơ thể như cùng một nhịp, khi cái này ngưng thì cái kia cũng ngưng theo. Ông bà như thế là trọn tình trọn nghĩa với nhau. Thôi thế cũng là phúc.

Chỉ có vợ bác Sanh rống lên: “Trùng tang. Đại họa. Ông bà rủ nhau đi kiểu này thì còn khổ lây tới con cháu nữa đây”.

Truyện ngắn của Hoàng Công Danh - TTO

Trang 7 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1033
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519071

20 146
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 511 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: