Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Hoa Níp và nghĩa tình bạn văn trẻ

Hoa Níp và nghĩa tình bạn văn trẻ

Sau một thời gian ngắn gấp rút tổ chức bản thảo và in ấn, Ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM đã nỗ lực thực hiện và hoàn thành việc xuất bản hai tác phẩm đầu tiên của nhà thơ trẻ Hoa Níp. Đây là tấm lòng, nghĩa cử của các đồng nghiệp trẻ dành cho người bạn tài hoa bạc mệnh vừa từ giã “cuộc chơi”…


Sáng 22/7, Ban Văn học Trẻ- Hội Nhà văn TP.HCM cùng gia đình kỷ niệm 49 ngày mất của nhà thơ Hoa Níp (1985-2016) và ra mắt hai tập sách "Bao giờ đến được cánh đồng" (Thơ) và Nàng là nước Mỹ (truyện ngắn) (ảnh NT)

Ngày 12/7/2016, đủ 49 ngày mất của nhà thơ trẻ Hoa Níp (1985-2016), một đoàn nhà văn TP.HCM đã xuống Vũng Tàu cùng gia đình viếng mộ, cúng thất anh. Dịp này, hai tác phẩm đầu tiên của Hoa Níp là tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng và tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ (NXB Hội Nhà văn) cũng kịp đặt lên bàn thờ anh, với 2 bản (1 tập thơ và 1 tập truyện) có các chữ ký của các bạn văn và đại diện gia đình đã “hoá vàng” trong lửa gửi cho anh ở cõi hư vô. Bùi ngùi tiếc thương Hoa Níp xấu số, nhưng ai cũng cảm thấy ấm lòng khi thực hiện được những điều chủ yếu theo tâm nguyện của anh.

Sở dĩ tôi nói hai tác phẩm đầu tiên bởi Hoa Níp còn bản thảo một tiểu thuyết và vài truyện ngắn, bài thơ lẻ khác trong di cảo. Đang bước vào giai đoạn tràn đầy cảm hứng, sáng tạo rất sung sức thì anh lại vội ra đi.

Sinh thời, Hoa Níp đã chuẩn bị công phu hai tác phẩm trên và dự định xuất bản. Sau khi Hoa Níp bị tai nạn giao thông đột ngột qua đời, gia đình anh ở Vũng Tàu và cả nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ở Hà Nội, một đàn anh thân tình của Hoa Níp, đều mong muốn in ấn hai tác phẩm này. Tuy nhiên, Ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM - nơi Hoa Níp luôn gắn bó và có nhiều đóng góp trong gần bảy năm qua, đã “giành quyền” xuất bản cho bạn mình, mà công đầu là nhà văn Trần Nhã Thuỵ, người lo chăm chút bản thảo, thiết kế và in ấn.

Nếu như tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi nhà thơ Hoa Níp là hội viên, tài trợ một phần, thì tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng lại được Quỹ Tình thơ cùng các bạn văn trẻ ở TP.HCM chung tay góp sức hình thành. NXB Hội Nhà văn cấp phép hoàn toàn miễn phí. Tôi muốn nói rõ điều này nhằm thay lời cảm ơn của gia đình và người thân, đồng thời cũng để thấy rằng cái tình đồng nghiệp văn chương, nhất là trong giới trẻ TP.HCM hiện nay, vẫn rất đáng quý đáng trân trọng, chân thành nâng đỡ nhau cả khi số phận trớ trêu đưa con người bất ngờ trở về cát bụi…

Thơ là sở trường của Hoa Níp, nhưng anh cũng có duyên với truyện ngắn và ấp ủ viết cả tiểu thuyết. Nhà văn Trần Đức Tiến ở Vũng Tàu theo dõi từng bước tiến của Hoa Níp cho hay: “Hoa Níp là cây bút trẻ nhiều khát vọng. Truyện ngắn của anh luôn có sự tìm tòi, đổi mới về nội dung và cách thể hiện. Giống như nhiều người viết trẻ khác, do kinh nghiệm, sự từng trải, độ dày dạn của ngòi bút còn có những hạn chế, Hoa Níp cũng có những truyện non, lép. Nhưng mỗi khi vốn sống đủ chín, và tư tưởng bắt kịp khát vọng làm mới nghệ thuật, Hoa Níp vụt toả sáng trong một vẻ đẹp riêng biệt, rất đáng để người đọc ghi nhớ và dõi theo… Còn nhớ khi vừa đọc xong truyện G.K.2851 của anh gửi dự thi trên một tờ tạp chí, tôi liền gọi chúc mừng anh và nói: “Tớ mà ở trong ban giám khảo thì dứt khoát tớ đưa truyện này vào giải”. Vui thì nói vậy, chứ tôi tin Hoa Níp cũng thừa biết giải giếc này khác đâu có quá ghê gớm với một người cầm bút tự trọng và khắt khe như anh?”.

Tác phẩm G.K.2851 mà nhà văn Trần Đức Tiến đề cập là một trong 15 truyện ngắn hình thành nên tập Nàng là nước Mỹ của Hoa Níp. Suy ngẫm về tập truyện này, nhà văn Trần Nhã Thuỵ thổ lộ rằng anh “luôn thấy một kẻ đi tìm bản ngã mình” với nỗi cô độc của chàng trai trẻ trong sạch, tươi ròng, và: “Truyện ngắn Hoa Níp như một thứ nhật ký của kẻ lang thang trong lòng thành phố, nhìn thấy những thứ từ một đôi mắt chong ngóng, lặng lẽ, xót xa. Nhưng khi bước ra khỏi hiện thực, thiết kế những văn bản hư cấu, Hoa Níp cũng cho thấy sự thành công không thua kém. Chiếc nhẫn in hình bảy ngôi sao, Thích khách, G.K.2851,… là những truyện ngắn mà tôi tin bất kỳ một cây bút văn xuôi nào cũng mơ ước luyện thành”.

Với truyện ngắn của Hoa Níp là vậy, còn thế giới thi ca của anh thì sao? “Tôi thường nghĩ Hoa Níp là một cái cây trong gió và lúc nào cũng gió. Cái cây vừa tự do, vừa run rẩy, vừa vật vã và vừa réo vang. Tôi ở xa nên có rất ít thời gian sống cùng anh. Nhưng lần nào gặp anh tôi cũng thấy cái cây Hoa Níp trong gió. Hình ảnh này rõ ràng và sống động hơn khi tôi nhìn thấy Hoa Níp sống trong đời sống ở mỗi bài thơ của anh”. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã cảm nhận con-người-thơ Hoa Níp và cho biết thêm: “Khi đọc xong bản thảo lần thứ nhất tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng mà anh gửi cho tôi, tôi thấy mình trở nên già nua. Anh mạnh mẽ hơn tôi, quả cảm hơn tôi, tự do hơn tôi, dấn thân hơn tôi trên con đường sáng tạo và những bài thơ của anh thường làm tôi bất ngờ bởi những khám phá và lối đi riêng biệt của nó. Tôi đã lắng nghe anh và tôi tìm thấy con người thi sĩ ấy trong anh. Đó cũng là lý do khi anh còn sống và ít hơn tôi gần ba mươi tuổi, anh luôn nhận được sự tôn trọng của tôi dành cho anh”.

Nguyễn Quang Thiều hay Trần Đức Tiến, Trần Nhã Thuỵ đều là những người có uy tín nghề nghiệp và quý mến tài năng, con người Hoa Níp. Nhận định của các anh về một bạn văn trẻ đã đi xa rất sòng phẳng cả lý lẫn tình. Riêng tôi, tình cảm với Hoa Níp càng sâu nặng hơn, kể từ gần bảy năm trước khi tôi phát hiện được cây bút giàu tiềm năng gốc Hà Tĩnh sinh trưởng ở Vũng Tàu và gắn bó với TP.HCM.

Tôi luôn kỳ vọng ở Hoa Níp nhưng cũng luôn cảnh báo anh về con đường nghiệt ngã của văn chương. Bao giờ đến được cánh đồng là tên do tôi góp ý đặt cho tập thơ đầu tay của anh. Đó cũng là tên một bài thơ lục bát, trong đó có những câu tiên lượng như định mệnh và bây giờ đã được khắc lên mộ Hoa Níp:

“Đời còn lắm cuộc nhiễu nhương

Đành thôi nép lại bên đường cho xong

Bao giờ đến được cánh đồng

Quay đầu nhìn lại bóng hồng phôi pha”

Với sự ra mắt hai tác phẩm của Hoa Níp, không phải “bao giờ” nữa mà tôi tin bây giờ anh đã chính thức “bay” đến cánh đồng văn học và góp được tiếng nói trọng lượng. Cho dù thân xác Hoa Níp đã hoá hư vô nhưng tiếng nói ấy sẽ còn mãi âm vang trong lòng người đọc, như lời nguyện cầu của anh dành cho những con người bị cuốn vào làn sóng tự sát đầy bi kịch ở Nhật Bản năm 2008, mà nửa khuya tôi đọc lại cứ ngỡ đó là dự cảm cho lẽ sinh tử của chính anh: “Cần chuẩn bị cho một cuộc chia ly/ Mong bạn luôn nhớ đến tôi/ Tha thứ về những gì tôi chưa làm được”. Một người trẻ có tài có tâm và còn có thể làm được nhiều việc có ích cho đời nhưng bất ngờ mãi mãi đi xa và mong được tha thứ, thử hỏi làm sao người thân ở lại chẳng đau lòng!

Phan Hoàng - Văn học quê nhà

Bút ký của Lê Vũ Trường Giang: Trên màu ban trắng biên cương

Bút ký của Lê Vũ Trường Giang: Trên màu ban trắng biên cương

 

Xuân muộn, tôi lên Điện Biên Phủ - chiến trường năm xưa. Tháng ba, thời khắc rực nở cuối cùng của hoa xuân, giao hòa trong cái se sắt, khắc nghiệt còn sót của giá lạnh và chút hơi hám mùa hạ, thỉnh thoảng trườn chiếc lưỡi bỏng rát từ Lào liếm lên núi rừng Tây Bắc, nơi nàng Ban trơ trụi với những chiếc cành khẳng khiu đâm xuyên lên mảng mây sa cuối núi, lặng lẽ đứng giữa rừng cây ướt át, thao thiết kể về những chuyến trẩy hội yêu rộn ràng của những đôi trai gái Thái lần tìm nhau trong mùa ban bao đời. Một vài giọt nắng rơi rơi vào một sáng con chim họa mi xòe đuôi hót và nàng, phút chốc lộng lẫy khoác lên mình chiếc áo trắng xuyết hồng giữa đại ngàn mây trắng bay.

Muốn lên Điện Biên Phủ phải qua đèo Pha Đin chị gánh anh thồ quanh co 32 km, nơi được người Thái mệnh danh là chỗ tiếp giáp trời với đất. Ở đó, cái đẹp nguyên sơ của Tây Bắc hiện lên bên những sườn đồi, dưới thung lũng xa. Màu xanh nhiều sắc độ trải dài ngút mắt từ cánh rừng sớm, dải bụi hoang, những đồi chè, núi cao. Giữa hoang vu đó, những chòm xóm của nàng Ban đẹp nhất, phủ một màu trắng lên sườn xanh Pha Đin - nơi từng ghi dấu những trận đánh ác liệt của đội quân cách mạng với kẻ thù, nơi gan thử lửa với hòn tên mũi đạn, nơi những chiếc xe thồ chở vượt quá trọng tải 50 lần và những cỗ pháo nặng nề dô - ta qua đèo qua dốc.

Ở Pha Đin, nàng Ban đã dùng thứ ngôn ngữ hùng biện của sắc trắng nàng mang. Màu trắng ấy từng làm vơi đi ác liệt của bom đạn và nảy mầm những tình yêu trong đoàn quân trên đường ra trận. Họ đã gửi những bản hùng ca vào rừng ban, chờ đợi tiếng gọi hòa bình thức vang thế giới. Tôi đặt một chân lên đỉnh đèo Pha Đin mặc cho những khóm mây thấp đi qua cùng gió sáng. Núi rừng phả hơi thở mát trong, lành lạnh của mùa xuân năm nào... Các anh đã kéo pháo qua đây, hàng nghìn người cùng vận sức mang “voi” vào chiến trường. Hò dô ta nào! Kéo pháo ta vượt qua đèo. Hò dô ta nào! Kéo pháo ta vượt qua núi... Họ kéo pháo trong đêm bằng những tiếng hò chấn rung rừng núi, và hoa ban đã thắp sáng những con đường đoàn quân đi lên Điện Biên Phủ.
Qua đèo Pha Đin, cảm thấy cái vị chiến trường thấm trong từng ngọn gió, trong những tượng đài lấp ló giữa rừng cây. Thành phố Điện Biên trước mặt, xanh xanh, mơ màng trong sương. Những phố nhỏ chìm trong bóng cây. Kia, dòng Nậm Rốm lặng lẽ uốn quanh thành phố với những bãi bồi cát vàng và sỏi nhỏ. Tất cả nằm gọn trong bát ngát đồng xanh ngút ngàn Mường Thanh ruộng nước. Bầu trời Điện Biên thấp, cứ nghĩ với tay là chạm khơi một chút nắng đọng lại sau những áng mây. Thật khó hình dung được đây từng là một chiến trường ác liệt nhất Đông Dương.
*
*   *
Trong yên bình của thung lũng, dưới bóng những hoa ban, kẻ mục đồng vui thú sơn khê với đàn dê nhỏm nhót trên những hốc đá. Khi mùa đốt nương đến, những thảm xanh hoa cỏ lụi tàn, có lẽ lúc đó ban sẽ cứu núi rừng bằng màu hoa của mình bởi ban được đặc ân không bao giờ bị đốn chặt vô cớ. Ban bước ra từ chuyện tình đầy ngang trái xa xưa của nàng Khôm và chàng Tào Lu yêu nhau, cùng thề non hẹn biển nhưng không được gia đình hai bên chấp thuận. Dù vậy, họ luôn trốn tránh gia đình để được ở bên nhau. Mùa xuân, hai người rủ nhau lên chơi hang như bao đôi trai gái Thái khác. Nhưng Tào Lu đoản mệnh. Chỉ ít lâu sau, chàng mắc bệnh chết, để lại nàng Khôm một mình khóc cạn nước mắt. Nàng Khôm không muốn bị ép duyên với chàng trai khác đã bỏ trốn vào rừng. Nàng chạy, chạy mãi, chạy mãi để tìm Tào Lu, về dưới mái nhà chung cùng chàng và nàng kiệt sức rồi chết trong rừng. Nơi nàng nằm xuống mọc lên một loại cây có hoa trắng, có hương thơm, mật ngọt. Người dân gọi đó là hoa ban. “Ban” có nghĩa là ngon, đẹp đẽ. Tất cả những gì ngon ngọt, đẹp đẽ đều gọi là “ban”. Loài hoa ấy tượng trưng cho sự thủy chung trong tình yêu đôi lứa. Hoa ban nở đúng vào mùa xuân, thời gian mà chàng Lu và nàng Khôm cùng nhau đi chơi hang.

 

Điện biên ngập tràn sắc trắng trong mùa hoa ban Ảnh: ST

 

Những tình cảm người Thái đều dồn nén trong màu trắng hoa ban, vì nàng Khôm đại diện cho tất cả tâm tư của họ. Ban trở thành cây thiêng, trấn yểm một cộng đồng Thái hiền hòa, nặng tình son sắt. Giữa những sườn đồi đen cháy, ban vẫn đứng hiên ngang, lặng lẽ nở những đóa hoa tinh khiết như cố xóa đi cái thảm cảnh chết chóc mà chúng bạn không may gặp phải. Những đóa hoa buồn buông cánh rơi lả tả trong nắng chiều rồi phủ lên sỏi đá ưu phiền vùng Tây Bắc xa xôi, nhuốm cái vẻ tang thương của chiếc khăn xô trong một ý nghĩa nào đấy thuộc về những kí ức trầm kha khói lửa.
Những đóa ban đã nở ra những nàng tiên Tây Bắc, nhuốm lên cô gái Thái màu trắng ngà ngọc, thanh cao. Cố kết một loài hoa với một dân tộc là một sự ví von chiếu lệ, điều này hoàn toàn trở thành mệnh đề sai với dân tộc Thái. Họ đã tôn vinh một loài hoa - hoa ban với sự tích về lòng thủy chung, yếu tố hàng đầu của những cộng đồng tồn tại hôn nhân phối ngẫu, một vợ một chồng, mà người phụ nữ suốt đời không bao giờ phụ bạc với chồng mình để rồi hổ thẹn với nàng Ban tinh khiết. Rất ít cô dám bỏ tằng cẩu để đi theo người khác vì suốt đời họ là hàng dậu vững vàng cho những đấng phu quân dựa vào. Các cô mỗi khi đã búi tóc lên thành tằng cẩu thì y như rằng, khi chết đi, con cháu họ vẫn tự hào về búi tóc cao vợi ấy. Những người vợ thủy chung lên nương trồng bắp, xuống ruộng trồng lúa, vào chợ đổi hàng và hát cho những người khách lạ muốn quàng lên mình chút gì đó của Tây Bắc. Chén rượu nếp chảy trong cổ như tưới thấm thêm áo cóm trắng sáng bên vai. Những phút giây ấy, tôi quên đi mình là ai, kẻ hành hương về quá khứ - một vùng chiến địa oanh liệt, bi ai.
*
*   *
Mỗi chiến trường là mỗi quyển thư đồ sộ về những câu chuyện thai sinh từ khói lửa. Chiến trường, một dòng sông vô tận, chảy mãi không thôi với vô số hồi ức của những con người có những tháng ngày sống trong nó, chịu đựng tất cả sự khắc nghiệt nhất. Cái tên ấy vốn không dễ gọi với những người yêu hòa bình, nhưng hết thảy họ đã làm quen được, vì một lẽ hòa bình được sinh ra từ thành bại của chiến trường ấy và bao con người quen mùi của chiến trường sẽ mất một thời gian dài giữa thời bình để quên đi chính nó. Chiến trường, nơi hỗn dung sự mất mát, lòng căm thù, niềm vinh quang và cả bẽ bàng. Trong những tư cách khác nhau, những người đến thăm một chiến trường xưa có những cung bậc cảm nhận khác nhau. Những người cựu binh sẽ xúc động, tiếc nhớ, day dứt kỉ niệm với những đồng đội vào sinh ra tử. Họ sẽ làm sống dậy một chương, trang nào đó của quyển thư sinh động kia. Những người trẻ chưa biết mùi vị của chiến tranh, sẽ cảm nhận theo cách của mình. Họ đã được học, đồng cảm và biết rằng chiến trường không phải là nơi của màu xanh.

Điện Biên, cái tên do vua Thiệu Trị đặt năm 1841, nghĩa là vùng biên thùy vững chãi, âu cũng là sự mong mỏi của tiền nhân vào vùng đất phên dậu này. Sự vững chãi ấy được khẳng định rực rỡ hơn 100 năm sau bằng chiến thắng Điện Biên Phủ đánh bại thực dân Pháp. Từ một vùng đất yên bình với những ruộng lúa xanh ngút mắt, những núi đồi trập trùng hoa và giờ năm châu chỉ biết đến Điện Biên Phủ bằng hình tượng của một chiến trường. Nhưng có lẽ chúng ta đã lầm, chiến trường ấy đã thay áo xanh, trổ đầy hoa, đẩy lùi tàn khốc ra xa hàng vạn dặm kí ức.

Một sớm Điện Biên mù sương, tôi thơ thẩn lên nghĩa trang Đồi Độc Lập. Những đoàn người từ khắp đất nước đến đây với sự thành kính, lặng lẽ mang những bó hoa tươi thắm đi viếng những liệt sĩ đã nằm xuống 60 năm trước. Bó nhang cháy trên tay, khói hòa vào một rừng bia mộ. Trước mắt tôi, hai ngàn bốn trăm ba hai ngôi mộ liệt sĩ. Tôi hỏi người quản trang, vẫn là câu trả lời: hai ngàn bốn trăm ba hai ngôi mộ liệt sĩ. Tất cả cùng chung ngôi sao vàng giữa tấm bia. Ngôi sao vàng ghi công các anh, những người ngã xuống vì ĐỘC LẬP - TỰ DO. Một Điện Biên Phủ năm mươi sáu ngày đêm khói lửa, năm mươi sáu ngày đêm máu trộn bùn non, ác liệt đến nỗi không thể đếm, lẫn lộn hết những người ngã xuống. Này đây nữa nghĩa trang A1, Him Lam, Tong Khao, các anh đều chung một ngôi sao vàng ái quốc. Các anh đến từ khắp đất nước, những vùng xa xôi của liên khu IV Trị - Thiên, Thanh - Nghệ, từ vùng đồng bằng Bắc Bộ Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình... xứ Kinh Bắc Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, đến từ Cao - Bắc - Lạng - Thái - Tuyên - Hà và cả những chàng trai hào hoa Hà Nội.

Những thanh niên khỏe mạnh, đầy nhiệt huyết, tràn ước mơ vĩnh viễn nằm lại nơi đây, chốn nghĩa trang mang một tên chung mà các anh khao khát giành lấy: ĐỘC LẬP - TỰ DO. Trên tấm bia chung giữa nghĩa trang, những dòng ghi: “Vinh quang này đời đời thuộc về các anh hùng liệt sĩ”. Phải, tất thảy mọi vinh quang thuộc về các anh, những người làm rạng rỡ non sông, những người đi chẳng tiếc đời xanh, đã làm nên tên tuổi Việt Nam rạng rỡ năm châu 60 năm về trước. Bó nhang ít ỏi trong tay tôi làm sao thắp hết những bia mộ này? Mẹ các anh, chị các anh, đồng đội các anh đã tới, đồng bào cả nước cũng đã tới. Nước mắt thấm ướt núi sông này mấy mươi năm qua ai đong đếm nổi. Tôi đã gặp những giọt nước mắt như thế của chị bên một hàng bia mộ. Chị đã khóc bên mộ các anh, tất cả các anh đều là người thân của chị. Chị vẫn chờ anh, dù biết rằng chiến trường đi không hẹn ngày về, cho đến hôm nay, năm 2014, tóc chị đã bạc đầu. Anh có nghe thấy không? Chị lặng lẽ để một cành ban lên mộ anh, cành hoa chung thủy. Thứ hoa ấy có nghĩa là ngon, đẹp đẽ. Tất cả những gì ngon ngọt, đẹp đẽ đều gọi là “ban”. Và loài hoa ấy tượng trưng cho sự thủy chung trong tình yêu đôi lứa. Một cành hoa chị mang đi suốt những mùa xuân xôn xao xứ sở Tây Bắc, chỉ để đợi anh về.

Chuyến xe đi trong một cơn mưa nhỏ Điện Biên. Thành phố bỗng trắng xóa trong giây phút. Xa xa, đồi A1 nhô lên trầm mặc trong mưa với hàng cây tàn lá, gợi chút ảm đạm khó tả. Tôi lặng lẽ lên ngọn đồi được đánh giá là cứ điểm có tính quyết định nhất trong toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ, nơi đổ máu nhiều nhất của cả hai bên. Bây giờ những cây gỗ tếch, nhãn, chuối đã phủ xanh đồi khiến người ta có thể lầm tưởng đây là một công viên hay trang trại. Nhưng không, lên tới lưng chừng, những giao thông hào chằng chịt giăng như những con trăn khổng lồ quấn quanh ngọn đồi đã nghiền nát biết bao người. Người Pháp gọi là cứ điểm Eliane, cuống họng bảo vệ sở chỉ huy trung tâm nên phòng bị rất tốt. Mất ba mươi sáu ngày đêm giằng co từng tấc đất, hơn 2500 cán bộ chiến sĩ thương vong tại quả đồi này, quân Pháp cũng đánh đổi hơn 1000 thương vong, những lính Legion, Maroc, lính dù thiện chiến đều phơi thây nơi đây. Tính ra, không có chỗ nào trên quả đồi này không có xác người. Những người quả cảm nhất đã nằm lại đây. Chỉ mới đây thôi, người ta khai quật hàng chục bộ hài cốt chiến sĩ, họ chết trong tư thế chiến đấu, tay còn lăm lăm khẩu súng, chân còn tỳ tư thế bắn thù.

Lên trên đỉnh, một cái hố khổng lồ, đen úa được tạo ra vào đêm 6/5 bởi 1000 kg thuốc nổ làm rung chuyển A1. Người Pháp hoàn toàn thất bại trong sáng hôm ở A1, ngày 7/5, đồng thời với sự đầu hàng của quân Pháp trên toàn chiến trường Điện Biên Phủ. Giải quyết A1, đồng nghĩa với sự quyết định cục diện toàn chiến trường. Đứng trước cái hố ấy, tôi cảm thấy choáng bởi dư lực của sóng xung kích 60 năm về trước. Nó sẽ kể mãi muôn đời trận chiến cam go nơi đây. Cái hố ấy, những ngày mưa, nước đầy như một cái ao, một cái chén nằm trên ngọn đồi khô khan, tàn khốc. A1 mùa nhãn đến, ong bướm lượn khắp đồi thổi bừng sinh khí. Những buồng chuối rừng không ai nghĩ có thể sống trên đồi khô cằn, sỏi đá này đã trổ hoa. Nhặt một chiếc lá tếch, tôi viết lên đó những dòng biết ơn sâu sắc vì những người ngã xuống. Một lời thơ gửi về mộ địa. Bên kia, nghĩa trang đồi A1, hoa ban trắng như dòng ảo ảnh làm loang đi những hình người đang đứng đó, ngồi đó, cùng nhau kể về chuyện 60 năm, một thiên hùng sử. Thật sự tôi không muốn rời khỏi nơi này, muốn đứng mãi bên chiếc hố bộc phá, trong ấy thăm thẳm những huy hoàng và sầu muộn còn văng vẳng đến hôm nay... Tôi yêu đất nước này rau cháo/ bốn ngàn năm cuốc bẫm cày sâu (Trần Vàng Sao). Đất nước tôi mấy nghìn năm rau cháo, nhân dân tôi cày sâu cuốc bẫm, bằng chân đất áo vải, tầm vông, chông nhọn bao lần đánh đuổi giặc thù.

Nước chúng ta/ Nước những người chưa bao giờ khuất. Những người nằm xuống cho những người khác đứng lên và tất cả nhân dân tôi luôn tiến về phía trước, nơi ngọn cờ Độc lập - Tự do mãi mãi là niềm vinh quang khao khát. Nước Pháp cũng khao khát tự do - độc lập khi bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Họ là những người anh hùng sau Đệ nhị Thế chiến, cùng đồng minh giáng những đòn vào bè lũ phát xít. Nhưng chỉ phút giây ngắn ngủi ấy thôi, họ lại đội cái lốt mà người Đức vừa bỏ xuống để tiếp tục gieo rắc chiến tranh lên Đông Dương. Nếu những giống nòi trên thế giới đều yêu thương nhau thì lịch sử đã chẳng nghẹn ngào cho những thang giá trị. Với chiến tranh, những nấc thang ấy càng mong manh. Chiều hôm qua, chúng tôi đến Noong Nhai mới biết nhân dân ta khổ đau thế nào vì cuộc chiến. Noong Nhai, theo tiếng Thái, Noong là “Ao”, Nhai là “Vỡ”. Noong Nhai ví như cái ao bị vỡ bờ, nước cạn và cá chết vào cái ngày 25/4/1954. Bốn trăm bốn bốn người, đa số là người già, phụ nữ và trẻ em, nhiều gia đình chết không còn một ai ở khu tập trung này. Tôi đứng đó, dưới chân tượng đài người phụ nữ Thái buồn thảm ôm đứa con thơ đã chết, ánh mắt buồn đau vô hạn. Chiều lạnh buông xuống dần, tôi cảm giác người mình rần rần trong lớp sương giá của cái “ao vỡ” tịch liêu.
Trích đoạn lịch sử nói rằng, khi chiến dịch Điện Biên Phủ đang ở giai đoạn 2, giai đoạn quân Pháp bị bao vây thế trận. Đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn tại Điện Biên Phủ, vào hồi 14 giờ ngày 25/4/1954, tướng De Castries bất chấp dư luận, ngang nhiên ra lệnh cho 4 máy bay Dakota chở hàng trăm bom sát thương và bom Na - pan đi từ phía Nam lên ném xuống trại tập trung Noong Nhai, trong lúc nhân dân đang tập trung đông người để đưa một đám tang. Tôi chợt nhớ đến cách hành xử của người Đức với các chiến dịch Holocaust trong các trại tập trung thời Đệ nhị Thế chiến. Lịch sử sẽ minh định việc thiếu tướng De Castries thực sự không nên đeo cái lon không xứng với tư cách của ông ta vào hai bên gù vai.

Nếu có ai hỏi tôi, chiến trường Điện Biên Phủ đẹp nhất nơi nào, tôi không ngần ngại trả lời rằng đó là Bản Kéo. Bản Kéo là cứ điểm duy nhất trong số 49 cứ điểm Điện Biên Phủ bị quân ta chiếm mà không cần nổ một phát súng, không một chiến sĩ nào ngã xuống. Đó là một chiến địa màu mỡ đầy hoa với những ngôi nhà sàn luôn rộn ràng bếp lửa. Trong một chiều đầy mưa, chúng tôi ngang qua Bản Kéo. Mới 3 giờ chiều mà sương núi theo mưa lấp khuất những lối mòn. Bản Kéo nhìn từ xa như một ốc đảo toàn nhà sàn nổi lên giữa ruộng lúa xanh mênh mông. Hàng trăm nóc nhà san sát nhau, chồng cao chồng thấp như một ngọn núi nhà. Những mái lợp lá vàng rơm lẫn với những mái ngói cũ mốc đen sừng sững giữa núi rừng. Những ngôi nhà im lặng trong cơn mưa nhỏ phủ lên bản làng. Không nghe thấy âm thanh nào ở bản, một vài người già đi từ nương về, gùi đầy những ngô. Mấy đứa trẻ thấy khách lạ nhìn ta từ những ô cửa vuông, mặt mày ngây thơ lem luốc. Nhưng khi ta đứng dưới một chân cầu thang của bất kì ngôi nhà nào, trong ấy bốc lên không khí của cả một lễ hội. Đàn ông và đàn bà xúm xít ngồi bên ché rượu, bếp rực than hồng, nếp nương đồ chín, mâm vại đầy thức ăn thơm. Những cái tiệc nhỏ sau những ngày vất vả đốt nương, gieo mạ. Trời mưa, việc hay nhất là ở nhà, ngồi bên nhau kể những chuyện xa xăm của xứ Thái Tây Bắc. Bên hiên, cây ban rụng hết lá, hoa tỏa bung một góc trời. Già ngồi bên hông cửa, nhìn hoa, môi nhâm nhi chén rượu. Ban nở rồi. Mùa này năm xưa, cả bản của già làm cơm thết trung đoàn 36 và mấy tiểu đoàn Thái ta về với cách mạng. Bản Kéo luôn hòa bình, đã không ai đổ máu xuống đất này. Chị ngồi bế con trong nhà, cất điệu hát ru con, kể chuyện nàng Khôm và chàng Tao Lu tình yêu thủy chung sinh ra dáng hình hoa ban trinh trắng. Bản làng lên khói, mưa sà xuống, sương tràn mênh mông.

Tôi rời Bản Kéo như xa một áng mây lành.

Tôi đã về đây, về Điện Biên, về miền hoa ban, lì loọng ơi ta múa chung điệu xoè. Và sẽ thao thức kể mãi không thôi chuyện nàng Ban đã nở như thế nào trong tháng ba khói lửa của 60 năm trước. Chính nàng, người đã làm nhạt đi khói súng, vơi bớt đau thương, tô điểm và khơi dậy những nội chất mà chúng ta luôn khao khát trong tiếng chuông hòa bình.

L.V.T.G - Văn nghệ Quân đội

 

Giới thiệu 2 truyện ngắn của nhà văn trẻ Nguyễn Lam Thủy viết ở Hunggari

Giới thiệu 2 truyện ngắn của nhà văn trẻ Nguyễn Lam Thủy viết ở Hunggari
Nhà văn trẻ Nguyễn Lam Thủy là bác sỹ, hiện đang sống tại Hungari, đã đăng một số truyện ngắn trên báo Văn nghệ, Tạp chí Sông Hương, Tạp chí Nhà văn. Trong liên hoan thơ Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ nhất, tác giả từ Hunggary về Việt Nam tham gia với tư cách phiên dịch viên tình nguyện.

Thủ đô Hunggary (ảnh minh họa- Internet)

Piroska

Truyện ngắn của NGUYỄN LAM THỦY

Người Hung gọi chị ta là “thiếu phụ quàng khăn đỏ”. Nhưng chị ta chẳng bao giờ quàng khăn đỏ, bởi tên chị ta là Piroska. (Piroska tiếng Hung khi còn bé gọi một cách trìu mến có nghĩa là “cô bé quàng khăn đỏ”, khi lớn lên đi lấy chồng thì gọi “thiếu phụ quàng khăn đỏ”).

Piroska mới chuyển về ở cạnh nhà Zoli chưa được 3 năm.Khi Piroska chưa chuyển về, khu phố lúc nào cũng thật yên tĩnh. Khi chuyển về, chị ta mang theo một người đàn bà giúp việc tên là Maria và cả trăm con mèo, đủ các giống mèo, đủ các màu: đen có, trắng có, tam thể, vàng, mun... Kể cả nhà chủng loại sinh học cũng khó mà phân loại được. Không biết chị ta thu gom từ đâu, kể ra cũng tài. Ban đầu Zoli nghe tiếng mèo kêu giữa phố xá vào đêm vắng, cũng vui vui như mình đang được sống ở miền quê xa vắng. Nhưng nghe qua nhiều ngày, nhiều mùa đâm ra chán, lắm lúc lại bực mình, nhất là khi Zoli muốn tập trung suy nghĩ một việc gì đấy. Tiếng chim hót vào sáng sớm cứ thưa dần, những con chim rẽ đất chẳng dám sà xuống bãi cỏ sau vườn nhà Zoli để tìm kiếm thức ăn. Chỉ có đôi chim cu vẫn làm tổ trên ngọn thông cao, vẫn gù mỗi sớm, mỗi chiều. Nhưng bực nhất là gara để xe của Zoli không có cửa. Tối nào cũng như tối nào từng đàn mèo cứ leo lên nóc xe để vờn nhau. Những ngày nắng ráo thì cũng để lại những vết bẩn, chẳng sao. Những ngày mưa, xe bẩn như mới đi từ đầm lầy ra. Cửa kính trước sau và hai bên dính đầy đất bùn bởi đuôi mèo, lông mèo cứ quệt lên. Có những sáng vội đi làm Zoli lại phải chùi xe hàng chục phút. Zoli bực lắm, nhưng vì tôn trọng công việc và sở thích của người khác nên chẳng dám than phiền với ai.Nhưng phiền toái cứ lặp đi lặp lại nhiều lần Zoli đành nói với Maria.Bao nhiêu lần nói chẳng giải quyết được việc gì.Zoli đành gọi Piroska ra than vãn, chị ta cứ lờ đi như không nghe thấy gì. Có lần không kìm mình được Zoli phàn nàn với giọng cáu gắt, Piroska liền trợn mắt thét lên:

- Đó là những đứa con yêu quí của ta. Ta không nhốt chúng bao giờ. Nếu Ngài giỏi thì hãy dạy cho chúng nó giúp ta: Nơi nào là đất của ta, nơi nào là đất của Ngài. Nếu chúng biết được điều đó tôi sẽ trả công rất hậu cho Ngài. Mà kể ra Ngài là một người vô tâm không biết yêu động vật! Ta là chủ tịch hội nuôi mèo của xứ này, Ngài không biết à?

Nghe Piroska nói vậy, Zoli cắn răng đành chịu. Nếu đánh mèo, hay đặt bẫy thì sẽ phạm tội tra tấn súc vật, Zoli có thể bị truy tố và lãnh án tù ít nhất năm năm. Có lần Zoli đặt một hình nộm bằng người, không những đàn mèo chẳng sợ mà kéo nhau đến đông, ngày đêm cứ gầm gừ vờn quanh hình nộm. Lần đi du lịch Việt Nam không biết ai mách bảo Zoli tìm đến quán ăn tiểu hổ, mua một tấm da mèo đem phơi khô đưa về treo lên gara, từ đó không có con mèo nào bén mảng đến nữa. thế là Zoli trừ được một tai hoạ.

Ở lâu cả khu phố mới biết Piroska không có chồng và cũng chẳng có con. Kể cũng lạ, Piroska bảo cả đàn mèo là những đứa con yêu quý, nhưng chưa một ai thấy Piroska nâng niu bồng bế và cho mèo ăn hoặc uống, kể cả lúc những con mèo bị bệnh, việc gọi bác sỹ thú y cũng là Maria. Tất cả mọi việc trong nhà ngoài vườn đều do Maria làm cả. Piroska đối đãi với Maria như người chủ và kẻ nô lệ ở thể kỷ 18, chỉ cần Maria làm không đúng ý lại bị Piroska chửi mắng thậm tệ, chỉ sợ pháp luật nên không dám dùng gậy đánh mà thôi. Cổng ô tô ra vào có khóa điều khiển từ xa, nhưng Piroska không bao giờ mang theo, dù ngày hay đêm khuya về muộn, kể cả mùa đông tuyết rơi lạnh lẽo, mỗi lần nghe tiếng nhạc, Maria cũng phải mở và đóng cửa. Có lần Piroska về rất muộn, Maria để quên khóa ở đâu, không kịp mở, Piroska nổi giận lôi đình gào thét ầm lên cả khu phố, mọi người tưởng có chuyện xảy ra chạy đến thì thấy Piroska đang nôn thốc, nôn tháo ra cả xe và xuống vệ đường. Thức ăn, dịch nôn hằn sâu trên đống tuyết bốc lên hơi nước lờ mờ sặc nồng mùi rượu.Mọi người thấy vậy lặng lẽ tản ra xa. Hầu như tuần nào Piroska cũng ít nhất nôn ra phòng khách, phòng ngủ 2 lần do say xỉn. Mỗi lần nôn như thế Maria cũng phải lau chùi cả tiếng.

Thoạt đầu Zoli cứ nghĩ Piroska chắc sinh ra từ một dòng dõi quý tộc giàu có ở Hung, sau chiến tranh Thế giới thứ hai, cả nhà di cư qua Ý, Piroska được sinh ra và lớn lên ở đấy. Sau 1989, Hung thay đổi thể chế chính trị, cả nhà lại trở về Hung. Quần áo Piroska thường đặt may những hạng thời trang đắt tiền ở Milan(Ý) hay Paris(Pháp). Nhưng người đã quá xấu xí khi mặc quần áo đẹp và sang trọng lại càng thêm kệch cỡm diêm dúa. Piroska có một chiếc xe Mercedes mui trần màu đen bóng lộn loại đắt tiền thường đỗ trong gara dưới ngôi biệt thự sang trọng đầy tiện nghi. Cứ mỗi lần đi đâu về cách cả trăm mét, Zoli đã nghe tiếng nhạc ầm ĩ cả khu phố, toàn là nhạc vùng Nam Mỹ, nhạc Pop và nhạc Roch, càng đến gần nghe càng chói tai, nhức óc... đành phải đóng kín cửa nhà mình lại. Nhất là những ngày cuối tuần thường dẫn trai về.Toàn là những thằng đàn ông dở hơi, dở hồn, nửa người nửa ngợm - mà có lẽ là những thằng làm tiền (đĩ đực). Đèn thì bật sáng trưng, cửa mở toang, khi làm tình cứ rên gào lên như trên đời này chỉ chúng nó mà thôi! Sao mà trên đời này Piroska xấu xí, khốn nạn, dâm đãng... lại có những thằng đàn ông khốn nạn và ngu ngốc đến thế; mà chúng nó chẳng ngu ngốc đâu mà vì tiền! Nếu không vì tiền thì kể cả những thằng ngu, mù mắt, dâm dục nhất thế gian này cũng không thể nào làm được việc đấy. Bởi Piroska xấu đến mức, hơn nửa đời đi khắp thế gian Zoli chưa từng gặp ai xấu như thế!

Không biết Piroska người gốc dân tộc nào.Chưa đến tuổi bốn mươi, tóc đã hoa râm, lưa thưa, dựng cứng như lông nhím, dài không ra dài, mà ngắn cũng không ra ngắn, cũn cỡn nom đến buồn cười. Mi mắt trên và dưới đã lồi như mắt hà mã, nhưng mắt ti hí nằm chìm sâu xuống giữa hai mi mắt, màu nâu cũng chẳng phải màu nâu mà đen cũng không ra đen, lòng trắng đầy những tia máu. Khoảng nhìn hạn chế bởi hai mi mắt lồi cao, nên mỗi khi nhìn hai mi mắt cứ cố mở to ra. Lông mày thì rụng hết, những vết xăm màu đen chỗ lồi, chỗ lõm theo những khối mỡ ở trán, mũi khoằm, răng rụng hết, cả hai hàm đều răng giả, ban đêm phải tháo cả hai hàm, đôi môi bơm căng phồng suốt ngày trát một lớp sơn đỏ chót nom lại càng kinh, trông như là phù thủy. Còn thân người to quá cỡ khoảng 130 kg mà người thì không phải cao. Tuần nào cũng như tuần nào, xe thực phẩm chở đến không biết bao nhiêu thuốc lá Mỹ, bia Hà Lan, rượu Whisky của xứ Scotch, rượu vang đỏ, trắng của Pháp, loại fomát ngon hảo hạng của vùng thượng nguồn sông Rhone của Pháp, xúc xích, ba tê gan ngỗng hảo hạng đắt tiền nhất của Hung... Piroska cứ thế ăn, uống và hút thỏa thích không hề kiêng khem.

Có lần tình cờ cửa sổ nhà Zoli mở, nghe tiếng nhạc Rock cứ nổi lên xập xình inh ỏi. Ánh sáng cứ nhấp nháy mờ ảo đủ các màu đỏ tím xanh vàng... Zoli không thấy ai nhảy cả, nhìn xuống sàn thấy Piroska nằm ngửa, bụng, đầu, chân, tay cứ rung theo nhạc. Zoli cứ tưởng Piroska ngã không tự ngồi dậy được. Không, Piroska đang nhảy, do người to và nặng quá không thể nào nhảy được, mà cứ nằm ngửa rung theo nhạc và ánh đèn. Cả đàn mèo ngơ ngác quây xung quanh cứ kêu meo meo như muốn giúp chủ của chúng ngồi dậy mà không thể nào giúp được.Zoli kể cho mọi người nghe nhưng chẳng ai tin được điều đó. Kể cả mắt Zoli thấy mà cũng không thể tin vào mắt mình!

Piroska thường tìm đàn ông ở những quán bar sang trọng, hoặc khi nào muốn đi tìm người tử tế hơn để cùng đi du lịch xa thì nhờ qua văn phòng dịch vụ hoặc đăng báo tìm bạn đời. Cứ mỗi lần tìm được lại có tuần trăng mật, thường đi nghỉ những nơi đẹp và sang trọng nhất dọc dãy Alpo, nơi có những hồ nước rộng trong veo nằm giữa những rặng thông tuyệt đẹp bên cạnh những ngọn núi cao, tuyết trắng phủ dày suốt quanh năm. Mỗi lần đi chơi về các bạn trai lại cao chạy xa bay, không ai dám quay trở lại. Đi đâu cũng đi bằng chiếc xe của mình, chưa bao giờ Piroska đi du lịch đâu bằng máy bay hoặc tàu lửa. Có mùa hè Piroska không tìm được bạn trai nên tự lái xe đến Venice (Ý), rồi từ đó đi bằng tàu du lịch sang trọng cả tháng trời vòng quanh biển Địa Trung Hải, qua Sicillia (Ý), Marseille (Pháp), Barcelona (Tây Ban Nha), Tunisie, Alexandria (Ai cập)... Piroska có cuộc sống thật là vương giả.

Zoli nhớ một lần vào tối thứ bảy đã hơn chín giờ tối ánh nắng mùa hè vẫn chói chang, dòng sông Da-nuyp vẫn lững lờ chảy. Tàu du lịch vẫn lượn trên sông, đàn hải âu cứ bay lên sà xuống tìm thức ăn trên bọt sóng trắng ngầu phun ra sau những đuôi tàu. Gió từ phía tây thổi đến đưa làn không khí trong lành, mát rượi từ những cánh rừng bạt ngàn xanh ngát. Như mọi ngày Zoli đi bộ tập thể dục qua một quán bar, nằm trên bờ sông cách nha hơn ba km. Bỗng nhiên nghe tiếng người gọi, Zoli giật mình quay lại thì thấy Piroska ngồi một mình ở một bàn ngoài vỉa hè của quán bar, trên bàn có hai vỏ chai rượu Martin X.O va vỏ bao thuốc dẹt Eve màu trắng của Mỹ. Piroska mặt đỏ, mắt cứ lờ đà lờ đờ, môi lắp ba lắp bắp nói không ra tiếng; lại vừa nói vừa khóc:

- Chào ngài hàng xóm của tôi. Ngài làm ơn đưa giúp tôi về nhà được không?

Zoli đang lúng túng khó xử vô cùng, chưa kịp phản ứng thế nào thì mụ liền dí chùm chìa khóa xe vào tay Zoli - Sao hôm nay mình lại xui thế! Tối nay Piroska không kiếm được thằng đàn ông nào - Dẫu sao mụ ta cũng là hàng xóm, đành giúp đưa mụ ta về. Hơn nữa xe của Piroska là loại đắt tiền, mui trần không thể để đây qua đêm được. Zoli và hai người phục vụ quán bar vất vả lắm mới giúp đưa mụ ta ngồi vào trong xe, người to quá cỡ choán hết ghế xe. Xe nhìn ngoài thì sang trọng, trong xe thì bẩn, đồ đạc, giấy lau, giày dép... vứt lung tung, dù đã dùng nước hoa nhưng không át nổi mùi mồ hôi nách của Piroska, cộng thêm mùi rượu bia, mùi thuốc lá,... làm Zoli muốn phát oẹ, may mà kìm lại được. Về đến nhà chị ta, Zoli cho xe đỗ ngay cửa ra vào, cùng Maria dìu Piroska vào nhà.

Zoli đã chuyển về đây gần chục năm nay nhưng bây giờ mới biết trong nhà đẹp và sang trọng, trang trí theo trường phái cổ điển. Phòng khách có bộ sa lông loại cổ bằng nỉ màu đỏ sẫm rất đẹp và đắt tiền. Dưới sàn nhà có những tấm thảm rất to thêu những hoa văn thật tỉ mỉ và cầu kỳ. Trên tường treo những bức tranh của những danh họa nổi tiếng ở Hung và của Châu Âu thời Phục hưng. Những con vịt trời, chim trĩ, diều hâu, sóc... màu lông vẫn đẹp và sặc sỡ như chúng còn sống đứng trên nóc tủ. Những bóng đèn được giấu sau những tường hắt ánh sáng mờ ảo. Bên cạnh phòng khách là một phòng bar nhỏ, trong tủ có rất nhiều loại rượu đắt tiền như cognac, rượu vang đỏ, vang trắng của Pháp, Whisky Scotch, Vodka của Nga và Phần Lan...

Piroska mời Zoli ngồi xuống phòng khách và bảo Maria giúp việc bê lần lượt ra ba chiếc khay bằng bạc. Khay thứ nhất đủ các loại ly; ly có chân để uống sâm banh, rượu vang đỏ, ly lùn ngắn không có chân để uống Whisky, cognac... Khay thứ hai đủ các loại rượu. Khay thứ ba có đĩa chanh vàng đã thái những nhát mỏng, đĩa hạt dẻ đã bóc vỏ nướng mùi thơm bùi. Một đĩa nữa là fomát và một tập giấy ăn.Tất cả được bày lên mặt bàn chạm trổ rất cầu kỳ.Maria thận trọng và ý tứ rót rượu Whisky vào hai ly mời Piroska và Zoli. Piroska lịch sự nâng chạm ly với Zoli, chúc sức khỏe và buổi gặp nhau, nhưng giọng vẫn run run và sặc mùi rượu. Ngụm rượu đầu tiên, mùi thơm và men nồng làm Zoli choáng váng. Có lẽ như mỗi lần đưa đàn ông về Maria đều phải làm như thế, làm xong bổn phận của mình bà liền rời khỏi phòng khách. Maria vừa đi khỏi cửa, Piroska giống như con quỉ dâm dục, giật tung hết quần áo, đòi làm tình với Zoli. Từ trước tới nay Zoli chỉ nhìn thấy Piroska từ xa đã thấy xấu nhất trần gian này.Bây giờ lại càng thấy kinh hoàng vô cùng.Trước mặt cặp vú dài lủng lẳng như hai tổ ong rừng ở châu Phi, hai núm vú thâm xì như da trâu.Cả thân hình như một bị thịt đựng trong một bao bố đã sờn rách, chỗ phình ra, chỗ lõm vào.Cái bụng to quá cỡ xệ xuống đến nửa đùi che hoàn toàn phần dưới.Da đầy những vết nứt nhăn nheo. Lúc đó Zoli cảm thấy mình đã ăn uống thịnh soạn quá no say, bây giờ người ta lại bắt Zoli uống một bát mỡ đầy vừa đặc, vừa loãng - đến ông cụ bảy mươi đời sống lại giúp Zoli cũng không thể nào làm được! Không còn đường lựa chọn, Zoli đẩy Piroska sang một bên, đóng sầm cửa rồi chạy ra khỏi nhà. Đó là một buổi tối dở hơi, nhưng cũng là điều may đối với Zoli là sống trên thế gian đã gặp và biết rõ hơn thêm một hạng người.

Thật kỳ lạ, trên con người của Piroska có được, kể cả hình thức hay đạo đức cái gì cũng đạt đến đỉnh điểm của cái xấu. Lúc đầu chưa hiểu biết về Piroska, Zoli cứ suy nghĩ miên man theo hiểu biết của mình. Ừ, nếu theo thuyết duy tâm: Con người khi chết linh hồn sẽ bay về Trời rồi sẽ đầu thai vào kiếp sau, và cứ thế linh hồn không bao giờ mất. Không lẽ nào Piroska lại có nhiều linh hồn xấu nhập vào đến thế! Nếu theo học thuyết sinh học hiện đại lại càng khó giải thích hơn: Sao trên một con người lại có tần xuất tập trung nhiều “gen trội xấu” đến thế! Cả hai học thuyết này Zoli không thể lý giải được những cái gì có ở con người Piroska. Sao mà tạo hóa lại tàn nhẫn với Piroska đến thế! Nhưng đâu phải tạo hóa, cái chính tại ở Piroska và cái thời thế khốn nạn, cái thập kỷ cuối cùng của thế kỷ hai mươi!

Piroska sinh ra và lớn lên trong một gia đình công chức nghèo ở tỉnh lẻ, bố mất sớm vì căn bệnh ung thư, mẹ dạy cấp II ở trường làng. Mẹ rất mực thương yêu và chăm sócPiroska, Piroska ngoan ngoãn, hiền lành, học giỏi và khá xinh đẹp. Quê của Piroska ở Erdély* - đó là một miền quê đẹp nhất của nước Hung, một vùng lãnh thổ rộng lớn có rừng rậm, núi cao nhiều khoáng sản và đất đai phì nhiêu màu mỡ giàu có, nơi con sông Tisza êm đềm thơ mộng chảy qua. Sau chiến tranh Thế giới thứ I, Đế quốc Áo - Hung thua trận, phần đất đó được chia cho Rumani - đó là mot nỗi đau và mất mát lớn nhất của lịch sử dân tộc Hung. Piroska cũng như bao người dân Hung sống ở Erdély khác luôn hướng về đất mẹ thân yêu. Sau năm 1989 sự sụp đổ cua chế độc tài gia đình trị Ceausescu, biên giới Hung mở cửa đón hàng vạn ngươi Hung di tản, trong đó có Piroska và Pêter - người yêu của Piroska. Đến Hung hai năm, sinh sống bằng đủ mọi nghề.Mùa đông đi quét tuyết, mùa hè đi hái trái cây ở các nông trang, làm vệ sinh đường phố đến đi buôn ở các chợ trời, nhưng cuộc sống vẫn đầy thiếu thốn, vất vả. Piroska cùng Pêter đành phải di tản sang Ý kiếm sống. Nhờ biết tiếng Rumani (tiếng Rumani giống tiếng Ý) và tấm bằng phổ thông trung học nên cả hai đều tìm được việc làm. Piroska làm bồi bàn ở một quán bia ở một thành phố nhỏ nằm bên hồ Garda** - là một những hồ tự nhiên đẹp nhất của thế giới nằm miền Bắc nước Ý, nước trong veo. Một nửa phía Bắc của hồ nằm trong dãy Alpho hùng vĩ, có những đỉnh núi cao quanh năm đầy tuyết trắng. Một nửa phía Nam là vùng đồi thoai thoải và đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu, những trang trại trồng chanh, hồng, nho và ô liu như những dải lụa màu xanh quấn lấy mặt hồ.Đây là nơi du lịch nổi tiếng nên khách rất nhiều.Piroska không được tiền lương từ chủ tiệm, mà chỉ được nhận tiền khách cho mà thôi. Nhưng thu nhập cũng rất khá so với ở Hung. Pêter điều khiển máy nâng bốc hàng ở một siêu thị của thành phố Verona. Xong việc, cứ đêm đêm Pêter đi đón Piroska bằng chiếc xe Vespa cũ. Chưa được sung túc, nhưng họ sống thật hạnh phúc. Khi mùa xuân đến, cuối tuần Pêter đưa Piroska lên phía bắc, nơi có những ngọn núi thấp tuyết tan nhanh dưới ánh nắng mặt trời tạo ra hàng ngàn con suối nhỏ chảy róc rách bên những bãi cỏ xanh rờn và những khóm hoa rừng đủ các màu sắc sặc sỡ. Những ngày nghỉ dài họ lại đưa nhau đi xuống Napoli, Sicillia... để tận hưởng ánh nắng chói chang của miền nam nước Ý, thoả thích ăn cá tôm mà ở xứ Erdély không có.

Piroska quên sao cái đêm khuya định mệnh ấy, tuyết rơi rất dày, đường trơn cheo leo ngang sườn núi, để tránh xe camion đi ngược chiều, xe lao xuống vực. Một tháng sau Piroska tỉnh dậy mới biết mình đang nằm trong phòng cấp cứu của bệnh viện thành phố Verona và người yêu Pêter đã mất. Sau khi ra viện, nỗi đau khổ, mất mát lớn nhất cuộc đời, Piroska không thể vượt qua, đành trở về Hung, lại được tin mẹ mất, cuộc sống tinh thần và vật chất không còn ai chở che, đau khổ, buồn chán, tuyệt vọng... Piroska mắc bệnh trầm cảm và hận đời, rồi sinh ra chứng nghiện rượu và thuốc lá để những cơn say triền miên quên đi nỗi đau đớn, phiền muộn của cuộc đời. Rồi cơ may mắn gặp một người bạn thời trẻ học cấp I làm chức khá to ở ngành Đường sắt của Hung. Lúc đó, ngay toà nhà của nhà ga do chính kỹ sư Eiffel người Pháp xây ở cuối thế kỷ 19, có khu gian nhà rất rộng năm trăm mét vuông, rất đẹp và sang trọng, trước đây là nhà Bank Erste của Áo thuê, nay họ không thuê nữa. Người bạn giúp Piroska thuê khu nhà đó và cho vay tiền. Piroska nhờ kỹ sư thiết kế xây thành 20 cửa hàng - chỗ này làm cửa hàng bán lẻ thì thật tuyệt vời, có thể nói chỗ bán lẻ đẹp nhất của cả nước Hung. Nơi đây hàng ngày lưu lượng người qua lại phải tới vài trăm ngàn người vì đây là trung tâm đầu mối giao thông quan trọng nhất Budapest. Chỉ có những người làm ăn khá giả biết buôn bán sành sỏi mới thuê nổi những cửa hàng ở đây. Piroska thuê của nhà ga giá một, cho người ta thuê lại phải gấp năm lần.Hàng tháng Piroska kiếm được ít nhất 15.000 USD. Khi có tiền chứng nghiện rượu và thuốc ngày càng thêm nặng, lại học làm sang cùng với lối ăn chơi trác tráng và trụy lạc, lòng tham vô đáy lại nổi lên, khi nào cũng muốn kiếm thêm tiền của những người thuê. Lấy cớ tiêu chuẩn châu Âu, lúc thì sửa hệ thống điện chiếu sáng, phòng cháy, lúc thì thay lò sưởi, sửa đường khí lưu thông,... cứ mỗi lần sửa Piroska kiếm cả chục ngàn USD. Tệ hại nhất đến dịp Noel - đây là vụ làm ăn quan trọng nhất trong cả năm của những người buôn bán. Thế mà năm nào cũng vậy, trước Noel là Piroska cứ ra kiếm chuyện để vòi tiền. Cứ một biển quảng cáo đặt ra ngoài lối đi, Piroska bắt người thuê phải trả cả trăm USD, nếu không trả bắt dẹp vào trong. Việc nào mà Piroska chưa thu được tiền thì lại thuê công an hay những người nhân viên bảo vệ đường sắt quấy rầy và hoạnh họe, kiểu gì người thuê cũng phải trả tiền thêm cho Piroska; chưa kể đến hàng năm cứ tăng tiền thuê lên 10 - 15% lấy lý do đồng tiền mất giá. Nhưng trên thực tế đồng tiền Forint của Hung hàng năm chỉ mất giá 4 - 5% mà thôi.Mấy năm nay kinh tế thế giới khủng hoảng, ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế của Hung, buôn bán càng trở nên ế ẩm. Piroska lúc nào cũng triền miên trong trạng thái no say, sách báo chẳng bao giờ đọc, ti vi, internet không xem... Những người thuê than phiền buôn bán ngày càng khó khăn, thậm chí không bằng một nửa như trước đây nhưng Piroska vẫn không chịu biết điều đó, tham thì thâm, thấy đào được cứ đào mãi.

Hơn cả tuần, Zoli không thấy Piroska và Maria ló ra khỏi nhà.Những đêm khuya tiếng xập xình nhạc không còn nổi lên.Xe chở thực phẩm cũng không còn đỗ trước nhà Piroska nữa. Cả đàn mèo cứ nháo nhác đêm ngày, gào inh ỏi, chạy tán loạn khắp cả khu phố đào bới thùng rác, cào bới lung tung... Té ra Piroska bị bắt, Maria cũng phải về quê.Đã 10 năm nay tiền thuê cửa hàng Piroska không hề trả cho ngành đường sắt Hung một xu nào.Dù họ đã thông báo cả hai năm rồi, nhưng Piroska vẫn không trả.Cả dãy hai mươi cửa hàng phải đóng lại.Những người thuê cửa hàng ai cũng điên lên muốn xé xác Piroska bởi vì tháng nào họ cũng trả đầy đủ. Piroska bị bắt tạm giam vi tội chiếm đoạt tài sản và lừa đảo, toàn bộ tài sản, xe ô tô, nhà cửa bị niêm phong - lúc này mọi người mới biết cả nhà biệt thự và xe của Piroska đều mua trả góp đã hơn năm nay cũng không trả cho ngân hàng. Tất cả tiền cho thuê cửa hàng Piroska chi vào ăn chơi trác táng, sa đọa... cho cuộc sống điên loạn. Sao ở trên đời này có con người ngu ngốc đến thế, chỗ kiếm tiền dễ và nhiều như thế mà không biết giữ! Mà cũng chẳng phải ngu ngốc. Có lẽ Piroska muốn sớm kết liễu cuộc đời mình, để được sớm sang thế giới bên kia về với bố mẹ và Pêter.

-------------------------

* Erdély tiếng Latin: Transsylvania, có diện tích 57 ngàn km vuông, dân số 4,2 triệu người, hiện nay nằm ở tây bắc của Rumani.

** Hồ Garda ở miền bắc Ý, có chiều dài hơn 51,6 km, chỗ rộng nhất 17,2 km, chỗ sâu nhất 346 m.

Ngày cuối cùng ở Budapest

Truyện ngắn của NGUYỄN LAM THỦY

Ra viện, bạn chở Long về nhà.Nhẹ nhàng đặt túi lên chiếc giường thân yêu sau hai tháng vắng Long.Long lặng người thắp nén nhang lên chiếc bàn nhỏ có ảnh Bố.Những nén nhang vẫn cháy chưa tàn, nước mắt Long lại tuôn trào. Bạn Long thấy vậy đành rủ Long đi thăm Budapest lần cuối cùng.

Qua quảng trường Những người Anh hùng, Nhà Quốc hội, Thành Những người đánh cá, đảo Margit, núi Gellért… nơi nào cũng sạch đẹp, tráng lệ, đủ các màu hoa rực rỡ. Khách du lịch nườm nượp đi lại.

Có lẽ Budapest là thành phố đẹp nhất của xứ Đông Âu.Người ta vẫn ví nó là Paris thứ hai.Giữa lòng thành phố có sông Đanuyt trong xanh chảy từ Bắc xuống Nam chia thành phố làm hai phần.Bên tả ngạn là thành phố Pest bằng phẳng với bao nhiêu nhà kiểu cổ, đa dạng về hình thức và kiến trúc. Bên hữu ngạn là thành phố Buda, núi đồi nối tiếp nhau, thấp thoáng bao nhiêu biệt thự sang trọng đầy tiện nghi.

Nhà thờ Matyás cao vút nằm cạnh khách sạn Hilton cùng với Thành Những người đánh cá sừng sững in bóng xuống dòng sông Đanuyt chứng kiến bao nhiêu thăng trầm của lịch sử Hung. Buda và Pest được nối liền bởi 9 chiếc cầu, cầu nào cũng đẹp và có kiến trúc độc đáo riêng biệt. Dưới lòng sông không biết bao nhiêu tàu du lịch, nhiều tàu dài cả trăm mét đầy đủ tiện nghi cho du khách đi hàng tháng dọc con sông mấy ngàn cây số...

Đã 7 năm sang Hung, lần đầu tiên Long mới cảm nhận cái đẹp tuyệt vời của Budapest, nhưng anh sắp phải xa rồi và mãi mãi không bao giờ trở lại.

Sau cùng, Long nhờ bạn đưa đến bờ sông Đanuyt phía dưới hạ nguồn ở Budapest. Năm nay mùa thu đến sớm, chưa đến độ giữa thu mà hai bên bờ sông cây cối đã chuyển sang màu vàng, thỉnh thoảng có những cây táo dại cho một màu đỏ rực. Chỉ những hàng bạch dương cao vút vẫn một màu xanh thẳm xào xạc với gió chiều hắt bóng xuống dòng sông lấp lánh dưới ánh nắng chiều thu rực rỡ. Thỉnh thoảng, những chiếc lá vàng rơi theo sông trôi về với biển Đen. Dòng sông lúc nào cũng lặng lẽ, êm đềm, nước trong xanh, những đàn hải âu cứ bay lên lượn xuống, đàn vịt trời chằm bẫm tìm thức ăn, trên trời cao những đàn quạ đen nháo nhác từ phương bắc đi tránh rét. Những chiếc xà lan chở đầy quặng mang cờ Đức hay Thụy Sĩ chậm chạp ngược dòng lên phía Bắc.

Long nhớ đến tuổi thơ, những chiều chăn trâu, thả diều trên bãi bồi sông Hồng, những nương dâu mượt mà xanh ngát, bãi ngô xanh, trổ cờ, phấn hoa cứ bay nhè nhẹ. Nước sông Hồng cuộn đỏ phù sa… Nhìn dòng sông  nước mắt Long lại tuôn trào, những tiếng nấc nghẹn trào qua cổ họng. Cái chết đang chờ Long từng ngày! Cái triết lý sống chết là một chuỗi liên hoàn theo một vòng khép kín, giống như mùa thu lá phải rơi để mùa xuân nẩy lộc đâm chồi. Ai cũng sinh ra từ cát bụi rồi lại trở về với cát bụi. Vẫn biết thế, nhưng cõi lòng Long tan nát khi nghĩ và nhớ thương mẹ.

Lớn lên Long không biết mặt bố.Hàng xóm vẫn bảo Long giống bố. Long cứ mường tượng bố theo bức ảnh mặc quân ngũ đặt trên bàn thờ. Khi chưa tròn một tuổi mẹ ẵm Long tiễn bố ở chân đê đầu làng.chưahết chiến tranh biên giới Tây Nam lại chiến tranh biên giới phía Bắc, bố mãi mãi ra đi chẳng bao giờ trở lại!

Mẹ Long cả một đời khốn khó, vất vả gian nan. Ông bà ngoại mất sớm, mấy chị em côi cút nuôi nhau.Đến tuổi đi lấy chồng, chồng cứ biền biệt đi xa và mất khi Long chưa đầy 3 tuổi.Mẹ vẫn còn trẻ nhưng ở vậy, chẳng đi bước nữa để nuôi Long khôn lớn. Năm nào cũng vậy, trước ngày giỗ bố, mẹ hái những nhàng hoa huệ trắng và cam quýt trong vườn, hai mẹ con đi tàu đêm lên Lào Cai, tiếng sình sịch, tiếng còi tàu xé tai cứ vang mãi trong đầu. Đến nghĩa trang còn sớm lắm, sương chưa tan, mẹ lặng lẽ chia những nhàng huệ trắng, trái cây cho chồng và đồng đội của chồng, khấn vái xin các anh phù hộ cho hai mẹ con mạnh khỏe, an lành, học giỏi!

Long học khá, nhưng nhà nghèo quá, cái xe đạp mẹ cũng không mua nổi, trường cấp III ở phố huyện xa lắm. Long thương mẹ, ráng học mỗi ngày đi bộ hàng chục cây số. Những ngày giáp tết Long nghỉ học, thức dậy 1 giờ sáng cùng mẹ và bà con xóm giềng lội bì bõm nước sông Hồng lạnh giá dưới mưa phùn gió bấc đưa gạo, từng củ su hào...lên thuyền ngược sông lên Hà Nội, bán ở gầm cầu Long Biên, công an thuế vụ lại đuổi bắt… Bán được hàng mẹ mua cho Long quần áo mới, sách vở… mừng lắm!

Tốt nghiệp cấp III không thi đại học, Long thương mẹ chăm chỉ làm ruộng vườn, đóng gạch sửa lại căn nhà rách nát. Có đợt xuất khẩu lao động đi Iraq, mẹ chạy chọt vay mượn 50 triệu đồng, qua bao nhiêu cửa xin cho Long đi được, mừng vô cùng. Sang đến nơi chưa đầy một tháng, đang bập bẹ học tiếng thì Mỹ đánh Iraq, lật đổ chế độ Saddam Hussein. Cả đội đi bộ hàng tuần trên sa mạc cát, ban ngày nóng 40-50 độ, ban đêm lại xuống âm độ, vừa đói vừa khát đến Kuwait chờ Liên Hiệp Quốc mua cho vé về nước.

Vê đến nhà, Long lại buồn chán lang thang không có tiền, không có công ăn việc làm mà nợ thì vẫn còn nguyên. Như cái trò đánh bạc, càng thua, càng cú.Nghe có dịch vụ đi Hung, Long lại nhờ mẹ vay tiền.Một lần nữa mẹ lại cố chạy vạy, vay 100 triệu đồng lãi suất 3% tháng.May mà chuyến đi trót lọt. Sang Budapest một tháng là hết hạn visa vì tiền ít Long không xin được visa lao động, nên không xin được giấy cư trú, Long đi bán hàng hiệu giả như Adidas, Nike… ở chợ trời Bốn Con Hổ, Budapest. Cứ mỗi lần thuế vụ, hải quan, công an đến là hồn lên tận trời xanh, vì chẳng có giấy cư trú và giấy phép bán hàng.

Có lần họ “đi càn”, không kịp chạy đành chui vào tủ bán hàng, nhờ bạn khóa tủ lại. Ngồi trong tủ như ngồi trên chảo lửa, người run bần bật, mồ hôi ướt đầm đìa, hồi hộp nghe tiếng chân bước thình thịch, rồi đến tiếng máy cưa điện réo lên như xé tai. Khóa tủ bị cưa, toàn bộ hàng hóa hải quan tịch thu còn Long bị bắt, lại phải ngồi cả tuần trong nhà giam công an quận. Long thấy cuộc đời quá vô lý.Người dân nghèo không đủ tiền mua hàng hiệu thật, họ chấp nhận mua hàng nhái mác, họ hoàn toàn biết, họ đâu bị lừa. Thế mà nhà chức trách lại cấm! Trong khi đó bọn chủ Adidas, Nike… là những nhà tư bản kếch xù lại được pháp luật bảo vệ, người đi kiếm từng bữa ăn thì lại bị bắt. Toàn cầu hóa đúng là một chính sách thực dân không cần đội quân xâm lược! Dòng chảy lợi nhuận cứ tuôn về những siêu cường, những nước nghèo lại càng thêm bần cùng.

Cũng có lần tan chợ đi về nhà, đang đứng ở bến xe buýt, bất ngờ nghe tiếng phanh ken két, hai công an nhảy ra khỏi xe tiến thẳng đến phía Long. Chưa kịp phản ứng, mà chạy thì cũng chẳng kịp. Họ hỏi giấy tờ cư trú, không có… đang ấp úng trả lời thì bị lôi lên xe công an luôn. Tưởng họ đưa Long về đồn, ít nhất 1 tuần bị giam ở đó! Không ngờ họ chở Long đến đoạn đường vắng, đuổi ra khỏi xe, cả hai người công an thi nhau khám từ đầu đến chân, bắt phải cởi cả giày. Có bao nhiêu tiền trong túi và một số giấu ở bít tất cũng bị lột sạch! Không hề có biên bản, không một lời giải thích. Họ thả Long ở đó, đúng vào lúc cơn mưa chiều ập đến, ướt sũng cả người. Sao mà đời đắng cay thế! Uất ức, căm giận nhưng biết kêu ai. Trên đời này ở đâu cũng có những kẻ đốn mạt, khốn nạn hơn nữa là người lẽ ra phải giữ gìn kỷ cương pháp luật lại đi trấn lột những kẻ cùng đinh! Đông Âu đã 20 năm thay đổi thế chế chính trị nhưng người dân vẫn ngỡ ngàng, bâng khuâng và tiếc nối.

Đã bảy năm sang Hung, nhưng Long chẳng biết nơi nào. Sáng sớm ra chợ, tối về nhà.Làm sao biết về văn hóa Hung, bởi tiếng chẳng sành.Bán hàng chỉ cần cầm máy tính tiền và chỉ trỏ là đủ, quan trọng là biết cách đếm tiền. Long quên sao được những mùa đông gian nan, vất vả, cực khổ… có những ngày giá rét âm 25ºC tuyết ngập đến đầu gối, mặc 4 quần, đi 5 đôi tất lại còn phải quấn 1 lớp nylon mỏng để chống nước thấm vào, đi giày lớn hơn 2 số mới xỏ chân vào được. Phải uống rượu vodka nhảy lò cò suốt ngày để chống lạnh.Mặt Long nhiều lần bỏng lạnh ứa máu, thâm sì. Nhưng mỗi lần khách đến là quên tất cả, lao đi như con thiêu thân tìm hàng cho khách. Cả mùa đông như thế từ 6 giờ sáng đến 6 giờ chiều làm việc quên cả mệt nhọc, ngay cả người Hung ngàn đời quen chịu lạnh, họ cũng không làm thế được!

Cách đây 7 tháng Long cảm thấy phần bụng bên phải cạnh mạn sườn cứ nằng nặng, không đau, sờ gan không to, ăn uống vẫn tốt, da không vàng, mọi sinh hoạt bình thường. Nhưng linh cảm thấy có điều gì xấu đang đến với Long, thấy lo lo.Nhưng đi khám bệnh không có giấy tờ cư trú, không có bảo hiểm sức khỏe. Nếu đi khám mất cả trăm đô là chuyện bình thường, còn nằm viện mỗi ngày mất cả mấy trăm đô Long đâu có tiền, xoay mãi bạn thương tình cho mượn giấy cư trú và bảo hiểm. Đi thử máu mới biết Long bị viêm gan siêu vi B, nhưng chức năng gan vẫn bình thường, bác sĩ bảo với Long phải đi siêu âm. Kết quả gan hơi to, lá gan bên trái có khối u 3 cm. Bác sĩ quyết định cho Long chụp MR (chụp cắt lớp cộng hưởng từ) và sinh thiết tế bào gan - kết quả Long bị ung thư tế bào gan nguyên phát trên bệnh nhân viêm gan siêu vi B.

Khi biết vậy, Long đã gào khóc thảm thiết, thương mình thì ít, thương mẹ thì nhiều.Hai khoản nợ mẹ vay cho Long đi Iraq và Hung chưa trả hết.Bảy năm chưa về được thăm mẹ, 34 tuổi đầu chưa được một lần yêu, mà năm nào mẹ cũng giục về quê lấy vợ để giúp mẹ tuổi già.Để mẹ vui, Long cứ hứa hoài. Trong cơn đau tuyệt vọng những kỷ niệm vui, buồn, hạnh phúc, đau thương, vất vả, đắng cay… lại hiện về, nhưng bây giờ đối với Long tất cả đều đẹp, bởi đấy là cuộc sống! Cuộc sống thật đáng quí vô cùng! Long cầu khấn ông trời cho Long được sống, được tồn tại trên thế gian này, được về với mẹ. Không lẽ nào ông trời lại tàn nhẫn, phũ phàng với mẹ con Long đến thế!

Cái đêm chờ mổ dài như mấy chục năm, Long trằn trọc không hề chợp mắt, nhìn chai dịch truyền treo lơ lửng cứ chảy đều đều… Long thầm gọi mẹ nhiều lần.Mẹ ơi, lại một lần nữa mẹ lại phải vay tiền để tiễn con về nơi vĩnh hằng. Con sẽ không xa mẹ, nằm lại bên chân đê sau lũy tre làng…

Chín giờ sáng Long được đưa lên bàn mổ, thuốc mê truyền vào Long lịm đi trong giấc ngủ. Mãi 8 giờ tối Long mơ mơ màng màng thấy mình đang nằm trong phòng hồi sức cấp cứu. Cái bụng đau như dao đâm, chân tay đều bị trói vào giường, Long không còn sức để rên nữa, răng cắn lấy môi cố chịu đau, không cựa mình, Long nhớ lời bác sĩ dặn trước ca mổ qua chị phiên dịch:

- Sau khi mổ 3 ngày không cử động mạnh, cố đừng ho, đừng nấc… chỉ cần một cái nấc mạnh chỗ gan mới khâu có thể bục ra và chết ngay trong giây lát.

Bác sĩ, y tá thường xuyên ở bên cạnh Long. Máy đo nhiệt độ, điện tim, huyết áp, nhịp thở… cứ chạy đều hiện lên trên màn hình. Máu và dịch truyền cứ chảy liên tục.Thỉnh thoảng y tá, bác sĩ bơm thuốc giảm đau, chống nôn, chống nấc và kháng sinh vào chai dịch. Cái ống xông luồn vào trong ổ bụng cứ rỉ từng giọt máu tươi, nó đâm vào ruột gan hơn cả dao đâm…

Mổ được 2 tuần Long ra viện.Một tháng sau lại vào viện điều trị hóa chất.Mỗi lần truyền hóa chất, cả ngày lẫn đêm cứ nôn thốc, nôn tháo, đau cả ruột gan, váng đầu, trời đất cứ chao đảo xung quanh.Suốt cả đêm phải ngồi bệt gục đầu xuống toilet, có lúc lịm đi. Cũng sau mỗi lần truyền hóa chất được mấy ngày người lại sốt li bì, rũ rượi toàn thân, bạch cầu tụt xuống dưới 1.000. Bác sĩ lại tiêm cho Long những ống thuốc nhỏ 1 ml mà đắt gần 1.500 đô-la để nâng bạch cầu. Qua 6 tuần điều trị hóa chất, Long trông như một cái xác không hồn, đầu trọc lốc không còn một sợi tóc, mắt thâm quầng sâu hoắm, đờ đẫn, da tái nhợt, chân tay run lẩy bẩy.

Sau mổ gần 6 tháng, bác sĩ cho Long chụp Pet-CT (chụp cắt lớp có đánh dấu đồng vị phóng xạ) họ tìm ra những khối di căn nhỏ ở phổi và não. Những bác sĩ, y tá điều trị thương Long lắm. Bác sĩ trưởng khoa gọi Long vào phòng, ân cần nói:

- Bệnh của Long không thể chữa khỏi, Long nên về Việt Nam sống thêm một thời gian nữa. Nếu ở lại đây thêm một thời gian nữa, lúc đó Long không còn sức để về được nữa. Vả lại giấy tờ cư trú và thẻ bảo hiểm sức khỏe không phải của Long. Lúc Long làm sao, người bạn cho Long mượn giấy tờ sẽ rất phiền toái, mà chẳng những phiền toái mà còn rất phức tạp trước pháp luật.

Long cảm động òa khóc.Không ngờ tất cả khoa đều biết chuyện Long mượn giấy tờ để vào điều trị, nhưng họ đã không ngần ngại, đã dùng tất cả phương pháp và thuốc men đắt tiền nhất để cứu chữa cho Long. Chỉ tiếc họ bất lực trước căn bệnh hiểm nghèo của Long.

Long gọi điện nhờ bạn xin giấy thông hành của Đại sứ quán để đi qua cửa khẩu Hung và mua vé về cho Long. Mấy ngày cuối cùng ở bệnh viện, bác sĩ, y tá đã tận tâm săn sóc Long, truyền dịch, máu, thuốc bổ… để Long đủ sức bay chặng đường mười ngàn cây số.

Trước mắt Long dòng sông cứ chảy, nó lặng lẽ hững hờ như dòng sông Hồng quê Long vào độ tháng ba. Còn một đêm nữa thôi, đường về sao mà thăm thẳm thế, hun hút gió heo may, tiếng sào sạc của bờ tre, có bóng mẹ gầy đang đứng ngóng trông...Ôi cái làng nhỏ êm đềm ven sông ấy sao mà duyên nợ, nghĩa tình với Long đến thế, nơi sinh ra và nuôi Long lớn lên nay lại chờ Long, để mãi mãi ru Long giấc ngủ ngàn đời.

NGUYỄN LAM THỦY - Vanvn.net

​Amanda Huỳnh ra mắt sách với hoa hồng, rượu vang và nhạc Pháp

 ​Amanda Huỳnh ra mắt sách với hoa hồng, rượu vang và nhạc Pháp

Tối 14-7 tại TP.HCM, tác giả Amanda Huỳnh (hiện đang là luật sư sống và làm việc tại Pháp) có buổi ra mắt tập tản văn, truyện ngắn mang tên Lam của cô.

Cái ôm thắm thiết giữa Amanda Huỳnh với một độc giả có cùng cảm xúc khi đọc Lam - Ảnh Thành Nhân

Cơn mưa bất chợt trở nặng hạt khi buổi giao lưu với Amanda Huỳnh và cuốn sách đầu tay của chị - Lam (NXB Trẻ phát hành) càng làm cho những người yêu Lam, cảm mến Amanda Huỳnh xích lại gần nhau, ấm cúng và thân mật hơn.

Tác giả Amanda Huynh bên cuốn sách đầu tay mang tên Lam - Ảnh Thành Nhân

Mềm mại như chính tên gọi - Lam (vốn là tên của những nhân vật nữ xuất hiện khá dày đặc trong các câu chuyện của Amanda Huỳnh) mang đến một hơi thở hiện đại, đương thời.

Cầm trên tay ly vang sóng sánh, Amanda Huỳnh nhớ lại hành trình hơn một thập kỉ qua của chị tại Pháp, từ khi còn là một cô sinh viên Luật cho đến khi lấy bằng tiến sĩ tại ĐH Capitole Toulouse, Pháp. Paris trở thành “chất xúc tác” tuyệt vời để nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ ẩn trong hình hài của một luật sư.

Bức tranh Tàu đợi bên rừng gợi nhớ những kỉ niệm về tình yêu, tuổi trẻ của tác giả đã được bán đấu giá 60 triệu đồng để gây quỹ cho học sinh nghèo - Ảnh Thành Nhân

Không có khởi đầu, không có kết thúc, không có nhiều kinh nghiệm để rút ra những chân lý hay bài học nào, nhưng cách nghĩ và cách sống của những nhân vật - đa phần còn rất trẻ - trong Lam cho người đọc nhiều điều đáng suy ngẫm.

Họ yêu cuồng nhiệt, đối diện với những khổ đau, hoang mang trước quá nhiều thử thách của cuộc sống. Trong nhiều hoàn cảnh, hành trình nơi xứ người góp phần làm cho họ trở nên lạc lõng bởi quá nhiều khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ…

Tác giả Amanda Huynh trò chuyện, giao lưu với độc giả tại buổi ra mắt sách - Ảnh Thành Nhân

“Tôi không có ý định viết cho số đông, mà trước hết tôi viết là để cho chính mình” - Amanda Huỳnh chia sẻ. Có lẽ chính vì điều này mà ở Lam có những câu chuyện rất riêng tư như Một buổi chiều nào đó, cũng có những tản mạn tươi tắn ngọt ngào như Cánh thiệp từ Dubi…

Những câu chuyện vừa thơ mộng nhưng không thiếu thực tế, một tinh thần rất Lam và đậm đặc cá tính của Amanda Huỳnh.

Buổi ra mắt còn đồng thời là triển lãm những bức vẽ do chính Amanda Huỳnh thực hiện - Ảnh Thành Nhân

Ngoài 11 truyện ngắn và tản văn, Lam còn có thể xem là một triển lãm tranh nho nhỏ với 41 tác phẩm thuộc nhiều thể loại và bộ sưu tập khác nhau do chính Amanda Huỳnh vẽ.

Mỗi bức tranh là một tác phẩm nghệ thuật độc lập, nhưng bằng một cách nào đó, khi sắp đặt khéo léo bên cạnh những câu chuyện nhỏ của Lam, quyện hoà nhuần nhuyễn, khiến trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh bay xa.

Ca sĩ Phan Lê Ái Phương mang đến chương trình chút không khí ngọt ngào bằng một ca khúc do cô tự sáng tác - Ảnh Thành Nhân

Buổi ra mắt sách kết thúc với phần đấu giá ba bức tranh trong tổng số tranh được Amanda trưng bày tại buổi ra mắt.

Toàn bộ số tiền thu được từ ba bức tranh Mưa mùa thu, Tàu đợi bên rừng Lam (125 triệu đồng) được tác giả dùng cho mục đích quyên góp tiền giúp đỡ trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa.

Theo Minh Trang - Tuổi trẻ online

Khi người viết trẻ hứng thú với đề tài lịch sử

Khi người viết trẻ hứng thú với đề tài lịch sử

Nhớ lại những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi đó đã gần 40 tuổi, Nguyễn Huy Thiệp mới trình làng những truyện ngắn lấy tư liệu lịch sử làm nguyên mẫu như: Mưa Nhã Nam, Kiếm sắc, Vàng lửa… Thời gian sau đó tới những năm đầu của thế kỉ mới, vẫn chỉ có những nhà văn lớn tuổi như Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân… Trong khi rất ít cây bút trẻ có hứng thú với mảng hiện thực quá khứ này mà thiên về những vấn đề của xã hội mới.

Tuy nhiên khoảng mười năm trở lại đây, nhiều cây bút trẻ tuổi đã tìm đến các đề tài trong quá khứ, các nhân vật, điển tích để viết bằng một cảm quan hoàn toàn nới mẻ, khi đã tích lũy được vốn tri thức và ý thức đúng được giá trị của những vấn đề lịch sử. Các tiểu thuyết như: Trần Khánh Dư của Lưu Minh Sơn; Sương mù tháng giêng của Uông Triều; Truyện ngắn Bức di thư bị bỏ quên của Nguyễn Thị Luyến; tập truyện ngắn Ngủ giữa trùng Sơn của Lê Vũ Trường Giang; một số truyện ngắn của Đinh Phương…


Sách về lịch sử Việt Nam đoạt Giải vàng Sách hay- Giải thưởng Sách Việt Nam 2015 (ảnh tuoitre.vn)

Trước hết, có thể lí giải nguyên nhân xuất hiện của xu hướng này như sau: Đó là kết quả của một khoảng thời gian vừa đủ, một độ lùi cần thiết để các cây bút trẻ nhìn nhận lại lịch sử, biện giải lịch sử. Trong buổi ra mắt tập truyện ngắn, Lê Vũ Trường Giang tâm sự: “Xuất phát từ những tàn sâu vết tích của lịch sử vùng đất cố đô, tôi đã sống với nó để sáng tác ra những cái hay, cái đẹp, biện giải lịch sử và làm hoàn thiện bản thân mình bằng văn học”.

Thứ hai, đó là nhu cầu được khẳng định quan niệm của cá nhân về các vấn đề hiện thực, các phạm trù thẩm mỹ trong cuộc sống. Hay nói như nhà văn trẻ Đinh Phương đó là cái “cớ”: “Thực ra viết về đề tài lịch sử nhưng nó không phải là theo kiểu sử thi, mang âm hưởng ngợi ca… Nó là lịch sử, nhưng là lịch sử dưới góc nhìn của tác giả, một cá nhân cụ thể… Thậm chí nói là viết về lịch sử, với những nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng lịch sử lúc ấy chỉ như là cái cớ để dẫn dắt câu chuyện, chứ không “lệ cổ” như trong các truyện ngắn hay tiểu thuyết lịch sử khác…”.

Thứ ba, đó là sự ám ảnh với những món nợ lịch sử và viết như sự trả lời. Nhà văn trẻ Lưu Minh Sơn cho rằng: “đến với đề tài lịch sử không chỉ đơn thuần là yêu sử mà điều thôi thúc lớn nhất đó là những “ám ảnh”, “nghi ngờ” về những thân phận người trong lịch sử, và anh muốn “giải mã”, tìm sự công bằng cho họ.”

Từ những nguyên nhân cơ bản trên, có thể thấy đề tài, cảm hứng từ lịch sử đã được người viết trẻ tiếp cận và viết như một nhu cầu tất yếu chứ không phải là sự mô phỏng theo những cây bút đi trước. Đọc Bức di thư bị bỏ quên của Nguyễn Thị Luyến, ta bắt gặp những cật vấn trong một giả định về cuộc đánh tráo: “Trước mắt mọi người, tôi là Chiêu Thánh công chúa an phận thờ Phật. Trước ban thờ Phật, tôi là một đệ tử lòng thành. Đôi khi nhớ chính mình, trong đầu tôi nhớ một khoảng màu xanh yên bình tuổi mười sáu.

Nhà vua là người duy nhất trong hoàng cung biết rõ thân phận tôi. Nhưng ánh mắt đau đáu ngài nhìn tôi cũng chất chứa nhiều tâm sự. Cũng có ngày nhà vua xót thương tôi chăng?”

Đó là sự nhập thân của người viết trước nhu cầu biện giải lịch sử. Bằng điểm nhìn bên trong được đặt vào đôi mắt Chiêu Thánh, tác giả lí giải mọi diễn biến tâm lý của các nhân vật lịch sử mà người đọc vẫn không cảm thấy lịch sử bị thay đổi. Trong Bạc màu áo ngự, Lê Vũ Trường Giang, sự nhập thân ấy mạnh mẽ, quyết liệt hơn nhằm nhận diện về tình thế lịch sử và nhân cách của một vị vua: “Ta đốt quê hương! Ta đốt quê hương rồi đó!”.

Đó là lần cuối cùng tôi thấy Đức Hàm Nghi của tôi khóc, khóc bằng giọt nước mắt đắng. Người đã bị tước đi cái quyền được ngắm nhìn bầu trời thân yêu của mình và thành đô vang bóng chỉ còn là kí ức của kẻ tha hương. Khi bác bếp và anh thông dịch mang xô nước lên, Đức Ngự thảng thốt nói trong nước mắt trước khi giấc ngủ và mệt mỏi xô ngài gục lên chiếc ghế kê bên ô cửa: “Ta là một con chim Lạc bất hạnh vì sợi dây đang buộc chặt chân ta”. Từ cửa lớn, viên sĩ quan - quản gia người Pháp xuất hiện và hỏi anh thông dịch rằng nhà vua đã nói gì. Tôi liếc mắt nhìn anh ta và người thông dịch lắc đầu, chỉ đáp lại lời sau này anh kể lại là: “Hoàng tử chỉ muốn yên giấc trên chiếc giường của ngài!”.

Có thể thấy, với nhu cầu tiếp cận và lí giải các đề tài lịch sử, các tác giả trẻ đã khẳng định được chỗ đứng trong lòng bạn đọc. Điều này giúp họ tin tưởng hơn ở cảm quan thẩm mỹ của những người chưa có nhiều phơi trải nhưng vẫn đủ tinh tế, sâu sắc và tài hoa trong sáng tạo.

Phương Mai - Văn học quê nhà

Chờ gió cho văn trẻ

Chờ gió cho văn trẻ

Sắp tới, Hội nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX. Và câu chuyện phát hiện, bồi dưỡng những người trẻ viết văn một lần nữa lại được đặt ra, nhất là trong bối cảnh hoạt động này còn thiếu hụt như hiện nay.

Một số cây bút tại Hội nghị Những người viết văn trẻ Hà Nội lần 2.

Như một cách so sánh, liên tưởng, nếu nhìn ngay vào một số điểm đáng ghi nhận, đáng được phát triển hơn sẽ càng thấy rõ sự thiếu hụt đó. Ngoài hoạt động thường xuyên của Khoa Viết văn - Báo chí Trường ĐH Văn hóa Hà Nội trong việc bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm cho các bạn trẻ muốn đi vào con đường sáng tác, có thể kể đến một số địa chỉ có sự quan tâm đến người viết trẻ. Trong đó, tạp chí Văn nghệ Quân đội là một nơi có ý thức động viên, khích lệ các cây bút trẻ và thường khai thác, đăng tải tác phẩm của các gương mặt trẻ, mới. Trong nhiều trại viết được tạp chí tổ chức ở một số địa phương như Đại Lải, Đà Lạt, Đà Nẵng… thời gian qua, dễ thấy việc quan tâm mời nhiều người viết trẻ tham dự để “chắt lọc” từ họ một số tác phẩm chất lượng khá và tốt giới thiệu với công chúng. Qua một số cuộc thi do tạp chí này tổ chức, đã có thêm những cây bút trẻ khẳng định mình bằng các giải cao. Đây cũng là điểm dễ nhận thấy từ một số cuộc thi do báo Văn nghệ tổ chức. Nhưng tất nhiên, đó vẫn là những hoạt động dành cho người cầm bút nói chung. Để có được những hoạt động riêng cho những người viết trẻ như một số chuyến thực tế sáng tác hay việc tổ chức sân thơ trẻ do Ban nhà văn trẻ- Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ trước triển khai thì thực sự còn rất hiếm.

Cần kể đến một nét mới trong hoạt động nhiệm kỳ mới của Hội Nhà văn TP HCM. Đó là việc tổ chức vận động in ấn và ra mắt tác phẩm đầu tay của một số cây bút trẻ đang học tập, làm việc trên địa bàn TP. Hội nghề nghiệp vốn khó lòng có đủ điều kiện để thực hiện công việc này. Nên việc tiếp cận nguồn kinh phí từ xã hội để bồi bổ cho người viết trẻ là tín hiệu đáng chú ý. Và thực sự đó cũng là điều rất nhiều người, nhiều nơi muốn nhưng chưa hẳn đã làm được. Nét mới bước đầu này gợi ra hy vọng các nhà tổ chức có thể thiết kế được nhiều hơn cho những đầu việc khác nữa như đi thực tế, mở trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi hay vận động sáng tác.

Điều này, nhìn ngay sang hoạt động của Hội Nhà văn Hà Nội mấy năm qua, cũng có thể thấy ngay vẫn còn là một giấc mơ chưa khởi động. Dù có nhiều nỗ lực, tâm huyết cho hoạt động chung do một số ít nhân sự chủ chốt của Hội thực hiện với những thành quả đáng ghi nhận, nhưng riêng với công tác dành cho người trẻ, thì có lẽ nổi bật nhất chỉ có Hội nghị viết văn trẻ thủ đô lần thứ hai năm 2015, diễn ra sau 22 năm kể từ lần thứ nhất năm 1993. Tại diễn đàn của sự kiện này, những trăn trở, đề xuất của các cây bút trẻ hiện sống và làm việc trên địa bàn Hà Nội đã được thể hiện, đã có một số dự định “hậu hội nghị” được đề ra. Nhưng gần một năm trôi qua, hẳn rằng những dự định đó sẽ được… chuyển sang nhiệm kỳ mới của Hội. Cũng trong năm 2015, dư luận và nhiều cây bút trẻ quan tâm đến một số hội nghị những người viết lí luận phê bình trẻ do Hội đồng lí luận văn học nghệ thuật trung ương tổ chức. Nhưng các diễn đàn này cũng mới dừng lại ở việc: nhìn rõ thêm thực trạng, đề xuất ra kiến nghị, phác thảo một số giải pháp...

Gom vào một số sự kiện, hoạt động, nét mới hiếm hoi trên, tuy rằng chưa đầy đủ, nhưng từ đó sẽ lại càng thấy còn nhiều lỗ hổng chưa được lấp, nhiều nguyện vọng chưa được hồi đáp hay mới được nghe và hưởng ứng một cách quá chậm rãi. Đó là những băn khoăn về chính sách cho văn học nói chung, cho người viết trẻ nói riêng, về đầu tư sáng tác, quảng bá tác phẩm của người trẻ, là ý thức nhập cuộc của cơ quan nhà nước bên cạnh các hội nghề nghiệp trong khi các hội vốn cũng không thể thật “chu đáo” với người viết trẻ khi mà điều kiện chung còn eo hẹp… Những điều này thực ra đã nhiều lần được đề cập, hy vọng sẽ lại được gióng lên ở Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX trong tương lai gần, cũng như những diễn đàn khác.

Trong khi chờ đợi hay không có ý chờ đợi lắm, đương nhiên các cây bút trẻ vẫn miệt mài sáng tác bên cạnh những công việc khả dĩ có thể “nuôi” việc sáng tác, xuất hiện trên các báo, tạp chí, ra sách và nghĩ về ngày mai tươi sáng hơn. Sáng tác là việc riêng của họ, nhưng rõ ràng, góp được thêm chút gió nào cho những người viết trẻ thì sẽ hay hơn là không, hoặc chưa, hoặc... ít quá!

Nguyễn Quang Hưng - Báo Đại đoàn kết

Truyện ngắn 1200 chữ: Ông Phạm

Truyện ngắn 1200 chữ: Ông Phạm

Có người bảo ông điếc do bị một quả bom nổ ngay gần đó. Có người lại nói ông điếc do đòn roi của những năm tháng tù đày.

Minh họa: Đặng Hồng Quân

- Ông có khỏe không ạ?

- Hả?

- Cháu hỏi ông có khỏe không ạ?

- Hả? Nói to lên! Ông điếc! Điếc! Vừa nói ông vừa chỉ tay vào đôi tai mình.

Có người bảo ông điếc do bị một quả bom nổ ngay gần đó. Có người lại nói ông điếc do đòn roi của những năm tháng tù đày.

Giữa chốn núi rừng hoang vu vắng lặng này, những cuộc nói chuyện như hét vào tai nhau và hét vào bạt ngàn cây cối. Đáp lại, gió rít qua thung lũng mù sương, qua những rừng thông rào rạt và rung rung trên mái tôn xập xệ.

- Ông có khỏe không? - tôi lấy hết sức gân cổ gào lên.

- Khỏe. Khỏe lắm. Ông vẫn vào rừng hái lá để điều chế thuốc chống ung thư. Sắp xong rồi. Nay mai thôi là có thể gửi cho bộ y tế.

Miệng nói tay làm, ông đưa cho tôi một cuốn sổ vàng nhàu nhĩ mà ông viết vào đó “công trình nghiên cứu” của mình. Những hàng chữ nguệch ngoạc chồng chéo lên nhau, không hàng nào ra hàng nào, không câu nào ra câu nào. Rồi ông hứng khởi lái câu chuyện sang một chủ đề khác.

- Mày có địa chỉ của thủ tướng không? Để ông gửi cái thư kiến nghị.

Tôi thảng thốt giật mình:

- Ông muốn kiến nghị gì cơ?

- À... ừm... kiến nghị gì nhỉ? Ông bỗng thừ người ra, trầm lắng một lúc thật lâu rồi bất lực lắc đầu.

- Ông quên rồi. Nhưng khi nào ông nhớ ra thì mày viết cho ông nhá.

Rồi ông lại đột ngột chuyển chủ đề, vẫn nói như hét nhưng giọng đầy trìu mến.

- Thế cháu ông giờ làm ở đâu nào?

- Cháu làm ngân hàng ạ. Tôi bắt đầu muốn đứt hơi vì cứ phải cố gào to lên.

- Tốt quá. Tốt quá. Thế mệnh giá đôla Mỹ bây giờ là bao nhiêu ấy nhỉ?

Giữa những câu chuyện hoang tưởng u mê, đôi khi ông bất chợt minh mẫn lạ kỳ và thỉnh thoảng lại hỏi những câu đầy thông tuệ. Ông Phạm là anh ruột của bà ngoại tôi, mười sáu tuổi đã thất lạc gia đình. Sau này đất nước thống nhất, gặp lại được ông thì ông đã điếc nặng và lú lẫn.

Những người bạn tù của ông chẳng còn ai. Ông không còn giấy tờ tùy thân gì, thậm chí đôi lúc ông còn không nhớ nổi mình đã từng là ai nữa.

Bà ngoại tôi nhiều năm liền đi bộ qua biết bao nhiêu ủy ban để xin bằng được cho anh mình chỉ một kỷ niệm chương, nhưng người ta lắc đầu rằng không có giấy tờ gì xác nhận ông có công lao trong những năm tháng ấy.

Ông Phạm không vợ không con. Ông sống trong căn nhà gỗ lợp mái tôn nhỏ bé nằm dưới chân đèo Bảo Lộc. Lần nào đến tôi cũng thấy cái radio cũ sét đang mở chương trình thời sự to hết công suất.

Mùa lạnh, gió lùa qua những khe hở toang hoác trên vách gỗ, rào rào trên mái tôn. Bếp củi leo lét lửa dưới những cái đít nồi méo mó.

- Ông ơi, ông cũng bắt đầu yếu rồi. Ba mẹ với bà ngoại cháu muốn đón ông về thành phố để tiện chăm sóc ông. Hôm nay cháu đến là để đón ông ạ.

- Hả? Mày nói gì? Ông không nghe được.

- Cháu đến đón ông về chăm sóc. Tôi lại phải gào lên, tiếng tôi vang xa, vọng qua những đỉnh đồi thung lũng chìm trong sương mù.

- Không. Ông không về đâu. Ông phải ở đây để chờ trung ương đến đón chứ.

Tôi không nhớ rõ ông đã sống trong căn nhà gỗ nơi chân đèo này bao lâu. Chỉ biết sau bao năm ông vẫn nhất định không dời đi đâu, vẫn bảo đợi trung ương đến đón.

Cũng buổi chiều nhiều gió và đầy sương hôm đó, ông bỗng nhiên đóng cái cửa không có khóa, vặn nhỏ radio rồi kéo cái ghế gỗ gãy một chân lại gần tôi thì thào.

- Ông đưa mày cái chìa khóa này. Sau này ông có mất mày phải giữ lấy. Đây là chìa khóa mở cái rương của ông. Quan trọng đấy! Mà không được nói với ai đâu đấy nhé.

Nói rồi ông đặt vào tay tôi một cái chìa khóa cũ.

Tôi có niềm đam mê đặc biệt với những kỷ vật xưa cũ. Suốt nhiều năm, tôi giữ cẩn thận từ cây kèn harmonica Nhật ông ngoại mua khi mới hai mươi tuổi cho đến cái đồng hồ Đông Đức bố được tặng hồi sinh viên hay cái bàn ủi Liên Xô của mẹ có từ thời bao cấp.

Nhưng ở bên một người cũ xưa không hẳn lúc nào cũng dễ chịu.

Đã bốn năm trôi qua từ hôm đó, tôi hầu như không về thăm ông một lần nào nữa, tôi sợ phải hét to lên, tôi sợ phải đọc mấy công trình khoa học nhàu nhĩ, viết những lá thư vẩn vơ và nghe đi nghe lại mãi những câu chuyện đời hoang đường hư ảo.

Rồi ông mất. Sau đám tang, tài sản để lại của ông chẳng có gì ngoài ít nồi niêu xoong chảo, cái radio cũ, một cái rương nhỏ khóa cẩn thận, phủ đầy bụi và chằng chịt vết xước.

Có người bảo giấy tờ quan trọng mà ông giữ trong rương chẳng qua cũng chỉ là những công trình khoa học hâm dở không bao giờ được công bố. Người thì nói trong đó chứa mấy tập thơ ông viết thời đi lính. Ai mà biết được...

Tôi tìm trong đống “cổ vật” của mình, giữa những món đồ chơi từ thời thơ bé cùng rất nhiều thiệp và thư là hàng tá chìa khóa. Chìa này của cái xe đạp đầu tiên bị mất cắp, chìa khác của căn phòng trọ cũ tôi chuyển đi từ lâu, chìa nọ tôi vô tình lượm được ven đường trong buổi chiều mưa năm nào đó.

Trong số chìa khóa đủ loại, không chiếc nào đủ cũ để mở được chiếc rương. Tôi sục sạo trong ký ức nhưng mất dấu, chiếc chìa khóa của ông đã lặn sâu giữa vô số sự kiện chồng chéo của bốn năm trong đời.

Đám tang ông Phạm lặng lẽ, chỉ có vài người thân trong nhà, không kèn trống, không vòng hoa. Ông nằm lại nơi chân đèo, giữa đồi dã quỳ nở vàng rực rỡ. Dưới kia là thung lũng mù sương và những mùa gió không khi nào dứt.

Truyện ngắn của Đinh Ngọc Tâm - TTO

Khác biệt văn học trẻ phía Nam

Khác biệt văn học trẻ phía Nam

So với văn học trẻ cả nước, văn học trẻ TP. Hồ Chí Minh sôi động hơn hẳn, từ việc ra sách, bán sách, lực lượng sáng tác trẻ…

Sôi động văn học trẻ

Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là hai thị trường văn học lớn nhất cả nước, thậm chí Hà Nội còn được cho là “đất văn chương”. Thế nhưng những cuốn sách luôn nằm trong danh sách sách bán chạy hoặc có lượng xuất bản nhiều thì phần lớn xuất phát từ các tác giả phía Nam. Và với văn học trẻ, đây cũng không phải là ngoại lệ.


Các nhà văn trẻ TP.HCM (ảnh nhandan.com.vn)

Liên tiếp hai Hội sách tại TP. Hồ Chí Minh, 2 cuốn sách “Buồn làm sao buông” và “Thương mấy cũng là người dưng” của tác giả Anh Khang đều có tên trong danh sách 10 đầu sách bán chạy.

Ngoài Anh Khang có thể kể đến Iris Cao cũng là cái tên mà khi ra sách luôn có số lượng xuất bản khiến nhiều người cầm bút mơ ước.

Nếu như để nổi tiếng và có sách bán chạy đối với văn xuôi đã khó nhưng xem ra để “nổi tiếng” và “có sách bán chạy” bằng thơ còn khó khăn hơn. Thế nhưng tác giả trẻ Phong Việt ngay từ tập thơ đầu tiên xuất bản đã tạo được sự chú ý của dư luận và khiến không ít người ngạc nhiên, thậm chí nghi ngờ khi có số lượng xuất bản lên tới vạn bản.

Vào năm 2014, một số đơn vị làm sách đã công bố so sánh thị trường sách miền Bắc và miền Nam. Theo đó, ngay cả nhiều đầu sách được in ở miền Bắc nhưng mức tiêu thụ ở miền Nam vẫn cao hơn, thậm chí là cao hơn gấp đôi.

Không những thế, các buổi ra mắt sách, giao lưu ký tặng của các tác giả trẻ phía Nam thường diễn ra cảnh đông nghịt, xếp hàng dài chờ nhau để được mua sách, xin chữ ký.

Trong ngày Hội sách TP.HCM lần thứ 9- 2016 thì phần lớn các chương trình giao lưu là dành cho người đọc trẻ, độ tuổi khoảng từ 15-25. Những banner, tờ rơi quảng cáo trong hội sách tô đậm những cái tên: Hamlet Trương, Anh Khang, Phan Ý Yên, Thanh Duy, Nguyễn Ngọc Thạch... đây đều là những gương mặt nhiều tiềm năng, hứa hẹn “doanh thu” cho các đơn vị xuất bản sách.

Các giải thưởng, các chuyến tham quan, thực tế, trại sáng tác… dành cho văn học trẻ phía Nam cũng được quan tâm, tổ chức đều đặn hơn. Do đó, mặc dù số lượng các cây bút trẻ vào hoạt động các hội chuyên ngành không nhiều như ở một số địa phương nhưng lại ngày một tăng lên.

Tại sao văn học trẻ phía Nam lại sôi động?

Liệu có phải do các đối tượng viết sách khiến văn học trẻ phía Nam sôi động? Tuy nhiên, các đối tượng viết sách ở miền Nam và miền Bắc đều có sự đa dạng, từ người làm công việc gần gũi với viết lách đến người làm công việc không liên quan đến viết lách.

Phải chăng việc PR sách của đơn vị làm sách, cũng như tự tác giả PR ở khu vực phía Nam tốt hơn so với các khu vực khác?

Thị trường sách nói chung và văn học trẻ nói riêng phía Nam sôi động với lượng xuất bản dồi dào cho thấy một thị trường đầy cởi mở. Phải chăng độc giả phía Nam cởi mở hơn, gu độc giả của phía Nam cũng khác so với gu độc giả các vùng miền khác?

Việc các cuốn sách bán chạy dù chưa bàn đến chất lượng hay dở đến đâu và như thế nào nhưng rõ ràng điều này kích thích, cổ vũ mạnh mẽ người cầm bút. Đây là điều rất cần thiết, nhất là cho những người viết trẻ.

Và lý do nữa, dân số ở TP.HCM đông hơn Hà Nội khoảng 1 triệu người (số liệu thống kê của Tổng cục Dân số 7/2014) có phải là lý do để các cuốn sách của tác giả trẻ phía nam bán chạy hơn?

Mặc dù có nhiều ý kiến không đồng nhất giữa sách bán chạy và sách hay, thậm chí còn có những “cảnh báo” cho tác giả trẻ mê mải chạy theo xu hướng của đại đa số độc giả nhưng không thể phủ nhận sự sôi động của văn học trẻ khiến cho thị trường độc giả phong phú, qua đó hiểu được thị hiếu của độc giả số đông.

Trong cuộc phỏng vấn bàn về “Thế hệ nhà văn sau 1975” với nhà lý luận phê bình Văn Giá - Trưởng khoa Viết văn - Báo chí, liệu thế hệ 7X, 8X có vị trí thế nào, đã có thể đứng cùng thế hệ trước và gọi tên chung trong “thế hệ nhà văn sau 1975” hay chưa, thì nhà phê bình Văn Giá cho biết: Thành tựu của thế hệ 7x, 8x tuy đã có khá nhiều nhưng vẫn đang trong quá trình định hình, chưa tạo ra một diện mạo, một thế hệ. Để trở thành diện mạo, phải có những đặc điểm riêng biệt. Lớp những người cầm bút 9x thì đang còn mỏng cả về đội ngũ và chất lượng”.

Hà Anh - Văn học quê nhà

Trang 8 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1019
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519057

20 138
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 477 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: