Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Hùng John trở lại, tranh cãi tiếp tục

Hùng John trở lại, tranh cãi tiếp tục

Tác giả của “John đi tìm Hùng” (cuốn sách từng gây tranh cãi và từng được trích để bình trong đề thi đại học) xuất hiện trở lại với một tác phẩm về nuôi dạy con, mặc dù anh chưa từng làm bố. Sách vừa ra mắt, đã dấy lên hai luồng khen chê.

Hùng John trong một buổi dạy tiếng Anh miễn phí cho trẻ em ở Thanh Hóa trong chuyến đi xuyên Việt 2012

Trần Hùng John viết cuốn sách đầu tiên: “John đi tìm Hùng” hoàn toàn bằng tiếng Anh, sau đó nhờ bạn dịch sang tiếng Việt. Đến cuốn thứ hai, vừa mới xuất bản “Cây to bắt đầu từ mầm nhỏ”, Hùng đã có thể tự viết bằng tiếng Việt. Hùng nói tiếng Việt vẫn giống như “người nước ngoài”, song lại khẳng định: “tôi viết tiếng Việt tốt hơn nói”.

Chưa từng làm bố song lại viết sách về nuôi dạy trẻ, vì sao anh lại chọn đề tài này?

Chuyên ngành Đại học của tôi ở trường Berkeley (Mỹ) là về tâm lý học trẻ em. Cuốn sách này cũng không phải là sách dạy người khác nuôi dạy con. Nó chỉ là chia sẻ của tôi dưới góc nhìn của một nhà tâm lý, về những phương pháp giáo dục của cả Việt và Mỹ từ khi tôi còn nhỏ.

Tôi lại thấy trong sách lại có rất nhiều mệnh lệnh cách, khiến cho nhiều bố mẹ cảm thấy bị “dạy đời”?

Tôi biết là mình không thể bắt buộc người khác thay đổi, cũng không có quyền đó. Nếu tồn tại những điều như chị nói, có thể là vì tiếng Việt của tôi chưa thành thạo lắm. Tôi sẽ sửa trong lần tái bản tiếp theo.

Anh có hài lòng về cuốn sách mới của mình không?

Nó giống như một đứa con của tôi, tôi yêu nó. Nhưng tôi cảm giác mình vẫn có thể làm tốt hơn nữa!

Tôi đã nghe những người biên tập nói rằng bản thảo chưa phải ở phong độ tốt nhất của anh, song sách vẫn ra. Anh sốt ruột?

Không, không! Tôi đã viết cuốn sách này trong suốt một năm rưỡi, lâu gấp ba lần “John đi tìm Hùng”. Tôi cũng hy vọng các biên tập viên đề ra yêu cầu cao hơn với tôi, song họ không đưa ra các đề nghị chỉnh sửa nào cụ thể cả.

Độc giả đã phản hồi trực tiếp với anh về cuốn sách chưa?

Có rồi, và đa số là phản hồi tốt. Mới đây nhất, trên facebook của tôi, một độc giả gần 80 tuổi đã viết rằng: “Đọc những điều cháu viết, cô nhận ra một số điều ngày trước cô làm đã ảnh hưởng tiêu cực đến con cô! Cô sẽ thay đổi khi ứng xử với cháu của mình”. Vậy là mừng rồi, một cuốn sách của mình mà có thể tác động tích cực đến một vài người, tôi đã coi là thành công.

Vậy chắc anh chưa nghe những phản hồi kiểu này: “một người chưa từng nuôi con thì dạy người khác nuôi con kiểu gì, lý thuyết suông à” (nick Mẹ Bống Tôm).

Tôi đã có kinh nghiệm với những phản hồi kiểu này. Hồi tôi viết “John đi tìm Hùng”, có đoạn “Phần nhiều người Việt có tính cách thụ động, là những người đi theo chứ không phải người tiên phong” – đoạn đó sau này được lấy để đưa vào đề thi đại học. Lúc đó nhiều bạn đã “mắng” tôi: “mày chẳng biết gì cả. Mày có phải người Việt Nam đâu mà nói như thế”.

Thứ tôi mong muốn khi viết cuốn sách này là cung cấp những thông tin khác về cách nuôi dạy con, và phản biện lại cách dạy con truyền thống của nhiều người Việt, mà tôi đã từng phải chịu đựng. Tôi cũng hình dung được, khi đọc cuốn sách, sẽ có người đồng ý với tôi, có người muốn chửi mắng tôi và quẳng cuốn sách đi. Nhưng xin hãy đồng ý một điều là: chúng ta không nhất thiết phải có chung quan điểm về mọi vấn đề!

Một lời chê nữa nhé: sách của anh nhiều “kết quả nghiên cứu” quá, song lại thiếu những dẫn chứng thực tế, ví dụ trong chương “nên đánh con hay không nên đánh”, tôi thấy GS Nguyễn Lân Dũng viết thuyết phục hơn anh.

(Cười). Tôi lại lo viết nhiều chuyện của cá nhân quá sẽ làm cho người đọc có cảm giác bị dạy dỗ. Về cái chương mà chị nói, khi viết tôi vẫn nghĩ: thỉnh thoảng nên đánh con, đó cũng là một cách dạy dỗ có hiệu quả. Song bác Lân Dũng đã làm tôi thay đổi. Tôi với bác Dũng rất thân thiết, bác yêu cầu mỗi hai tuần tôi phải qua nhà bác chơi một lần. Khi đọc chương này, bác bảo: Không nên ủng hộ trường phái đánh con, bố mẹ bác có tám người con trong đó có bảy người là Tiến sĩ, sáu người là Giáo sư, phó Giáo sư nhưng ông bà chưa bao giờ đánh ai, cũng không mắng chửi nặng lời bao giờ. Tôi đã về đọc lại tài liệu và các nghiên cứu, cuối cùng tôi đồng ý với phương pháp của bác Dũng: chúng ta có thể tìm những cách hiệu quả hơn để dạy con mà không cần dùng đến bạo lực.

Khen và chê đều mạnh

Lần đầu tiếp cận bản thảo của Hùng tôi rất nghi ngờ. Tất cả những điều Hùng viết mình đều biết hết rồi mà, nó có trong hầu hết những cuốn sách về nuôi dạy con khác. Khi đó tôi muốn đặt Hùng viết tự truyện về thời thơ ấu của cậu ấy hơn. Song, khi đọc lại, tôi bắt đầu bị Hùng thuyết phục. Những kinh nghiệm của Hùng rất riêng, gần như chỉ xảy ra ở Việt Nam, do cậu đã từng trải nghiệm, và có điều kiện tham chiếu với các cách nuôi dạy khác, cụ thể ở đây là Mỹ.

Giám đốc NXB Phụ Nữ - Khúc Thị Hoa Phượng

Tôi không thích cuốn này của Hùng, tôi thấy cậu ấy chưa nuôi con nên không hiểu tường tận. Ví dụ nói: đừng cho con học nhiều quá, nhưng trong hoàn cảnh như ở Việt Nam, nếu không muốn con bị “trù”, vậy hãy cho chúng tôi một giải pháp đi. Và cậu ấy đã không chỉ ra được những cách cụ thể. (Trần Hà Phương – Ngân hàng Vietinbank).

Tôi học được vài điều cụ thể từ “Cây to bắt đầu từ mầm nhỏ”, ví dụ: âu yếm và nói yêu con mỗi ngày – cảm thấy cảm xúc quả thực tốt hơn. Hoặc là khi chơi với con thì tập trung tinh thần, không cầm theo điện thoại, ipad, tôi thấy con tôi cũng vui vẻ hơn. Riêng về việc giáo dục giới tính cho con, tôi nghĩ nên lùi lại hai năm so với đề nghị của Hùng, con 7 tuổi mà nói về “âm đạo”, “dương vật” thì hình như hơi sớm. (Nguyễn Thu Hà – Công ty du lịch Viettravel).

Theo Hạnh Đỗ - Tiền phong

Truyện ngắn của Tru Sa: Nhà hoang

Truyện ngắn của Tru Sa: Nhà hoang
Tên thật: Nguyễn Thanh Phong Sinh năm: 1989, tại Hà Nội. Có truyện ngắn đăng trên một số báo, tạp chí.
Vấn đề hoàn toàn không mới. Vẫn là chuyện các thế hệ không có một tiếng nói chung. Lối sống ngày càng ích kỷ của một lớp trẻ ở đô thị, người mẹ chồng từ nông thôn ra phố không thể nào hòa nhập được kiểu sống phố phường, lại bất lực trước con dâu và cháu mình để rồi họ hoàn toàn xa cách nhau, chối bỏ nhau từ từ trong sự lặng lẽ đầy đau đớn mà không ai tự cho rằng mình có lỗi. Nhưng cái kết của truyện ngắn mới là nỗi đau, còn hơn cả nỗi đau, là sự nghiệt ngã tàn nhẫn của số phận con người trong cái ngôi nhà ai nhìn qua cứ ngỡ là hạnh phúc nhưng đã từ lâu chỉ là “nhà hoang”. Tôi không được đọc nhiều ở Tru Sa, ngoài vài truyện ngắn của anh in trên LĐCT, nhưng luôn tin rằng anh có thể còn đi tiếp trên con đường văn học…
Y Trang


(Minh hoạ của hoạ sĩ Đỗ Phấn)




- Có lẽ phải đưa mẹ về quê! Ở thế này mệt mỏi lắm! - Anh nói.

- Ấy dại! Ở quê có còn ai đâu, mới cả đưa mẹ về bà lại kể lể cho đám nhà quê đó thì bẽ mặt - Anh nói.

- Anh tính thế nào thì tính chứ ở thế này không được đâu!



Để sau đợt hàng này gom tiền xây thêm tầng 4. Vợ chồng mình ở tầng hai, thằng Duy ở tầng 3, thế là yên chuyện.

Anh cười khì khì, anh tiếp tục xem vô tuyến. Cô vợ thở dài, cô cầm lấy tập kịch bản quan trọng mà cuối tuần đã bắt đầu bấm máy ra đọc. Phòng của cô nằm dưới phòng bà mẹ chồng, trần nhà lại tương đối mỏng nên bà làm gì cô đều nghe rõ. Cô diễn viên xinh đẹp không thể chịu được tính cách khắt khe của bà mẹ chồng khó tính, cái khăn, cái áo hay thậm chí cái cốc uống nước dù đã cũ, hỏng nhưng bà vẫn một mực giữ lại và dù cô có cãi tới đâu, thậm chí len lén lúc bà cụ lên phòng để ném tất cả vào sọt rác thì sáng sớm hôm sau cô vẫn thấy nó ở một nơi nào đó trong căn phòng. Cô và mẹ chồng cãi nhau với đủ mọi lý do. Mọi cử động của cô đều bị bà nhòm ngó, chỉ cần cô sơ xẩy làm hỏng chuyện gì là ngay lập tức bà cụ xuất hiện và sau vài lời phê bình là cả một bài giáo huấn cổ hủ mà bà luôn nói rằng “đạo làm dâu phải hiểu”.



Thằng Duy học lớp 8, nó và bà nội cũng chẳng hợp nhau. Hễ bà ôm lấy nó thì nó lại lè lưỡi nói: “Bà nội hôi rình”. Rồi thì nó phủi đít, chạy tót xuống nhà và vùi mình hàng giờ vào trò games. Bà không bảo được nó.



Chuyện gì trong ngôi nhà này hễ có chút xíu đả động tới bà cụ hom hem đấy là cô lại thấy khó chịu. Chồng cô bảnh trai và có ánh mắt phong tình nên cô không muốn thuê người làm. Giúp việc trẻ cô không an tâm còn người già thì cô rất hãi. Cô cáng đáng hết việc nhà, chỉ cần xong vai diễn là cô tất tưởi chạy về nhà, lo chu toàn mọi chuyện trong gia đình. Riêng chủ nhật cô xin nghỉ để quét dọn nhà cửa. Cô chưa lần nào làm anh phải cau mày, nhưng bà cụ khó tính kia thì có.


Có lần bà mẹ chồng đánh đổ bô nước tiểu cất trong gầm giường xuống sàn nhà, bà với tiếng gọi cô với giọng khẩn khoản và khi tức tốc chạy lên thì một mùi khó chịu ộc lên khiến cô buồn nôn. “Lau cho mẹ nhé! Mẹ nhỡ tay”. Cô bịt mũi, mùi khăm khẳm của nước tiểu để lâu ngày bốc sặc sụa khắp căn phòng. Cô oẹ một cái rồi chạy xuống buồng dưới, lát sau cô đi lên và cùng với sự cau có anh dọn hết tất cả.


Anh nói:

- Nhà có buồng vệ sinh riêng sao mẹ không dùng?

- Tao quen ở quê thế rồi! Con dâu gì mới nhờ chút việc đã bĩu môi rồi, rõ là...

- Thôi, lần sau mẹ nhớ vào nhà vệ sinh nhé!

Anh chẳng nói gì, hôm sau lén lén lúc bà cụ ra ngoài đem cái bô vứt đi. Bà biết nhưng cũng đành im lặng, từ hôm đó trở đi bà giận anh ra mặt.



Năm sau, thằng Duy lớp chín. Ngoài đi học nó vẫn chỉ chơi games. Anh xây thêm tầng nữa, bà dọn lên tầng trên và côi cút trên đó. Nhưng dù là thế thì việc giáp mặt nhau vẫn khiến cô khó xử. Hằng tuần cô vẫn phải lên đó quét dọn và lần nào mùi bã trầu, rác và mùi khăm khắm của nhà vệ sinh lâu ngày không dội cũng khiến cô khó chịu. Cô đeo khẩu trang, cầm chổi quét còn ánh mắt thì thỉnh thoảng cứ nhìn bà cụ như kẻ thù.



Bà nội bị đau gan cấp tính, bệnh rất nặng. Anh phải mua đủ thứ thuốc về. Bà uống nhưng mọi thứ chẳng thể khôi phục được sức khoẻ đang ngày một héo mòn. Bà ngày càng gầy, khuôn mặt co lại như quả dừa khô, các nếp nhăn ngày một nhiều, đi chuệnh choạng như người say. Đôi lúc bà ho ra đờm và lần nào bà cũng cuống quýt nhổ trên sàn nhà.


Những bãi đờm đặc sệt dính nhơn nhớp khắp nơi làm cô cảm thấy khó chịu, cô nói khéo để chồng đưa bà cụ về quê nhưng không được. Bà phàn nàn về đủ mọi chuyện trong nhà, chỉ có thằng Duy là dám hỗn công khai với bà. Có hôm bà nhờ nó đấm lưng, nó ậm ờ rồi đấm vài cái thật mạnh khiến sống lưng của bà như sụm xuống, rồi khi bà ngã xuống nó chuồn thẳng. Cô trách con vài câu rồi bảo: “Mày mà còn tới gần bà nội là tao đánh tuốt xác”. Thằng Duy “dạ” một tiếng rồi tót vào phòng.

Bà nội nằm liệt giường, không cử động được. Chứng xơ gan ngày càng nặng và việc phẫu thuật lại trở thành vấn đề nan giải.



- Hay đưa bà vào viện đi!

- Chỉ sợ bà không đồng ý.



- Ôi dào! Anh đặt một suất ở bệnh viện bác sỹ Triệu. Trọn gói luôn. Vợ chồng mình bận bịu, còn chuyện học hành của thằng Duy nữa. Cứ đưa bà vào viện, khi nào khoẻ thì đón về.

Cô có chuyến lưu diễn ở nước ngoài nên phải vắng nhà một thời gian, anh cũng lo cho chuyến hàng sắp tới nên việc đưa bà cụ vào bệnh viện trở thành biện pháp cấp bách. Bà liệt phải nằm một chỗ nhưng khi hai vợ chồng vào trình bày chuyện chuyển vào viện bà có thể nhìn thấy vẻ mừng rỡ của cô con dâu. “Ắt hẳn đây là ý kiến của nó, nó muốn tống mình ra khỏi nhà”. Bà lườm cô cho tới lúc cô ra khỏi phòng. “Lát nữa bác sỹ sẽ tới đón bà, chúng con phải đi rồi”. Cánh cửa được đóng chặt lại, ra khỏi phòng cô bảo: “Nhẹ cả người anh nhỉ”.



Cô vào phòng thằng Duy, lấy cái phong bì dày cộm đưa cho nó rồi bảo: “Lát bác sỹ đến con đưa cái này cho ông ấy”. Thằng Duy không ngoảnh lại, nó dán mắt vào màn vi tính chăm chú như đang khảo cứu công trình khoa học. “Mẹ và bố vắng nhà một thời gian, việc học hành ăn uống con tự lo lấy. Đồ ăn đầy trong tủ không cần mua đâu”. Cô lấy trong túi ra hai triệu, đặt ở mép bàn, bảo: “Cầm lấy đóng tiền học... Làm gì thì làm”. Thằng Duy không nói gì, những con quái thú với đủ mọi hình thù vẫn cuốn hút nó hơn.



Bà nội nằm trên phòng, bà cố gượng dậy nhưng không được. Từ ngày lên thành phố bà đâm ra lười nhác. Sự nuông chiều của con trai không khiến bà vui chút nào, vật chất đầy đủ vẫn khiến bà cảm thấy thiếu thốn. Bà định gọi thằng Duy lên trò chuyện cho đỡ buồn nhưng ý nghĩ vừa mới manh nha đã lập tức biến mất. Bà thở dài, hai tay đặt lên bụng, bà cố ru mình vào giấc ngủ.



Lát sau bà nghe thấy tiếng bấm chuông, bác sỹ đã tới, vậy là thời gian tới đây bà lại phải nằm trong căn phòng xa lạ nồng nặc thuốc sát trùng.



***



Căn phòng lâu ngày không có ai quét dọn trở nên bừa bãi và luộm thuộm. Thật chẳng rõ thằng Duy bày biện kiểu gì mà nhà cửa tan hoang như một bãi rác. Vỏ bánh, vỏ kẹo, mỳ tôm, hộp cơm nằm la liệt khắp nơi trong phòng, mùi xú uế quện đặc sệt. Chẳng hiểu số tiền thằng Duy đã làm gì mà hai tuần đã hết nhẵn. Nhưng dù sao thì cô vẫn cảm thấy vui vì bà cụ ít ra là tạm thời không còn làm phiền cô. Hôm sau chồng cô sẽ về và để tạo sự bất ngờ cô quét dọn nhà cửa thật sạch sẽ. Sau bộ phim cô được nghỉ hai tuần. Thời gian này thậm chí vợ chồng cô có thể cùng đi du lịch, bởi cũng lâu rồi khong được xả hơi cùng nhau…



Cô quét dọn cẩn thận tất cả ngóc ngách trong căn nhà, dĩ nhiên là trừ tầng tư của bà nội. Trước khi bà tới bệnh viện căn phòng đấy đã được cô quét dọn cẩn thận. Thằng Duy thì chẳng bao giờ lên đó nên chắc việc quét dọn cũng không cần. Hôm sau anh về và sau bữa lẩu thịnh soạn hai người vào phòng. Hai người quấn chặt lấy nhau như đôi trăn kỳ động dục. Chưa lần nào họ quan hệ thỏa thuê đến thế!



Anh định mua ít thức ăn vào viện thăm bà nhưng cô gạt đi. Cô nói: “Không cần đâu, mình đã đưa ngần ấy tiền cho ông Triệu, ông ấy là người biết chuyện, chắc chắn sẽ chăm lo chu đáo”. Anh ậm ừ nghe theo. Rồi anh nhìn thằng Duy, nó đang lục lọi đống bim bim ở tủ lạnh để mang lên phòng. “Hay mai đi học về con ghé thăm bà nội đi”. Thằng Duy sững người lại, mặt tái đi rất nhanh, những gói bim bim được gom thành đống trước ngực rơi lẹp bẹp dưới đất. Cô vỗ mạnh vào vai anh rồi nói: “Con nó còn phải học, thời gian đâu mà...”. Anh định nói thêm vài câu thì cô đã cười xoà rồi lấy lý do phải đọc kịch bản để đuổi thằng Duy lên lầu. Rồi điện thoại cầm tay của anh reo vang. “Tôi là Triệu, bác sỹ của bệnh viện... Thành thật xin lỗi anh hôm trước nhận lời anh tôi đưa xe tới đón bà cụ nhưng bấm chuông không ai mở cửa. Tôi định điện để hẹn lại thì có người ở viện bảo có một ca phẫu thuật cần có sự giúp đỡ của tôi. Sau đó tôi cũng bận quá nên không báo lại. Xin lỗi anh, chiều nay tôi tới đón bà cụ được chứ?”.



Anh hoảng hồn, hỏi lại thì vẫn chỉ nhận được lời xin lỗi vu vơ. Anh chợt nhớ tới đống thẻ Võ lâm có mệnh giá 500 mà thằng Duy cất ở ngăn tủ phòng riêng. Anh không lạ gì, thằng Duy trước giờ chưa có thói quen tiết kiệm… Anh lao lên phòng bà và khi cánh cửa được mở ra thì mùi xú uế bốc ra nồng nặc, căn phòng tối âm âm. Anh nín thở, mò mẫm tìm công tắc đèn.



Căn phòng bật sáng, mùi hôi thối chùm lấy căn phòng như bàn tay người khổng lồ. Bụi ẩm mốc, trong không gian ngột ngạt đó anh nghe thấy tiếng vo ve của loài ruồi. Tấm rèm màu trắng đặt ở cửa sổ đã chuyển màu cháo lòng và khi nhìn về phía chiếc giường toàn thân anh co rúm như con mèo bị nhúng nước, hai con mắt mờ đục lồi ra, chiếc chìa khoá bé con con trượt khỏi bàn tay.



Mùi xú uế ngày một nồng. Bóng đèn kêu “tách” một tiếng rồi từng chùm sáng nhạt dần. Những con ruồi bay quanh chiếc giường. Chúng vo ve bài bản như một cuộc diễu binh.

(Truyện ngắn của Tru Sa)

Báo Lao động Cuối tuần

Bên bờ sông cụt - Truyện ngắn của Hạnh Trần

Bên bờ sông cụt - Truyện ngắn của Hạnh Trần

Con sông Cái đổ ra biển lớn tự dưng có một nhánh rẽ ngang vào làng Mại. Nhánh sông cụt lủn nước không chảy một dòng mà lên xuống theo thủy triều. Sông cụt đi qua giữa làng không bồi đắp nhiều phù sa màu mỡ nhưng tuyệt nhiên chẳng bao giờ lở. Ở đoạn giữa làng, chỗ nước nông nhất người ta bắc tạm mấy cây tre để qua lại. Gần bến đá là cái cống xây bằng gạch mộc đưa đưa nước sông vào đồng làng, lòng cống thì sâu, đôi chỗ  có những hủm cát xoáy hút, nghe bảo xửa xưa có con giải hay bắt người, mà từ trước đến giờ cứ ba năm lại bắt một mạng đều chằn chặn. Đình làng ở bên sông cũng thiêng lắm, toàn oan hồn về ngự.

*

Đêm thanh vắng, người ta thường nghe thấy tiếng ầu ơ ru con vẳng đến từ bến đá. Tiếng ru không ề à để dỗ trẻ mà lại là một bài mà gái trai hay hát đối ở những dịp hội làng.

Người đàn bà ngồi trên bậc đá, tay bế một bọc nhỏ ấp vào bầu ngực. Chiếc áo nâu non xộc xệch mà vẫn hằn nét căng phồng mưng mức, quần vắn ngang đùi, bàn chân trần thõng xuống bờ nước vừa khỏa vừa hát.

À..ơi..

Con cò đỗ cọc cầu ao

Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua

Ngày ngày ra đứng cổng chùa

Trông về nơi ấy có vua đúc tiền...

Người làng ai cũng cám cảnh. Các cụ chép miệng thương cái số kiếp đàn bà, hồng nhan như thế đúng là bạc mệnh, xưa nay nói cấm có sai.

Người đàn bà ấy đẹp, mà cả cái xóm ấy toàn người đẹp. Con sông cụt chia làng thành hai bên Mại Đông và Mại Đoài. Đất xóm Đoài cao ráo nên nhà cửa đông đúc, cây trái xum xuê. Bên kia sông, xóm Đông đất trũng hơn, đay cói xanh rì mướt mát, ở đó toàn những người dân ngụ cư. Ở chung một làng nhưng gần như mỗi nơi lề ăn thói ở có nét khác nhau. Thường thường người hai xóm hay ghẹo nhau, bên này sông bọn con gái bắc tay làm loa gióng giả:

Cha đời con gái xóm Đoài

Áo mới mặc ngoài, áo cũ mặc trong.

Bên kia cũng không kém, gào với sang bên này sông mà giễu.

Cha đời con gái xứ Đông

Áo mới mặc trong, áo cũ mặc ngoài.

Quả là gái xóm Đoài được ăn trắng mặc trơn mà da ai cũng ngăm ngăm, vóc dáng to cao nhưng thô ráp, mặt người nào cũng bành bạnh vuông. Bên kia sông là vùng trũng, nước đồng vừa sâu vừa mặn chỉ trồng được cói, người dân lam lũ, ăn mặc xuề xòa là thế mà con gái phía trước phía sau cứ nây nẩy, tóc đen má đỏ. Mà đôi mắt dao cau chỉ liếc qua một vệt đã làm trai xóm Đoài nghiêng ngả.

Ngày hội làng, chiếu chèo rải giữa sân đình. Hai xóm tụ làm một, người chen người xem hát. Gái trai hai xóm có dịp gặp nhau mà ngắm nghía, thề hẹn. Mại Đông có cô Tơ mới mười bảy, má hây hây đỏ lại có lúm đồng tiền sâu như lỗ cáy nhìn thấy anh Khúc xóm Đoài đang diễn vở Lưu Bình - Dương Lễ thì xốn xang trong lòng. Cái dáng thư sinh nho nhã trong vai anh vai học trò nghèo lại thêm giọng ca ấm ngọt làm Tơ say đến mức hội đã tan mà chưa muốn về. Tơ nấn ná đợi anh Khúc ra rửa mặt bên giếng đình, vờ ra xin gàu nước uống. Trai tài gái sắc gặp nhau chả cần mối lái.

Chiều chiều bên này sông, anh Khúc với mấy đứa con trai Mại Đoài ngồi trên bờ cống câu cá rói, hóng sang bãi cói xanh mướt mà hát.

...Ngọn sông đào vừa trong vừa chảy

Anh kén vợ mười bảy năm nay

Tình cờ anh gặp nàng đây

Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Bên kia sông, bọn con gái đùn đẩy nhau hò lại. Tơ buông liềm, vóng vót.

Mây gặp rồng mây tươi mây tốt

Cá gặp nước cá ngược cá xuôi...

Cứ bên hô, bên đối như thế được chừng non năm thì có hai đôi Đông - Đoài nên vợ chồng. Đám anh Tuần cao lênh khênh chuyên nghề hoạn lợn cưa được cô Tằm giỏi dệt chiếu. Còn anh cu Rạng be bé hay đánh rậm thì đưa được em Na trắng trẻo, mặt trái xoan về làm dâu. Tơ với Khúc rõ trai tài gái sắc như thế mà vẫn im hơi lặng tiếng. Chẳng biết Khúc đã lội sông sang bên bãi cói và Tơ đã qua cầu bao nhiêu lần nhưng phải mãi mấy năm sau Tơ mới về ở nhà Khúc. Cặp nào cưới cũng phải rước dâu qua cái cầu tre xiêu xiêu giữa sông. Tơ cũng qua sông nhưng là trốn nhà sang bên Đoài theo Khúc nên chẳng được ai dặn thả tiền giấy và vứt kim xuống nước như các các đám cưới vẫn làm hèm... Có phải vì thế mà con giải không bằng lòng?

Người đàn bà hát ru đêm đêm bên cống sông ấy là cô Tơ, tóc xõa ra, áo quần trễ nải, xộc xệch, vẫn cứ đẹp mặn mà.

*

Anh Khúc về làng, người ta đưa cho cái tã chéo. Cái tã vợ anh cắt từ cái áo cũ sờn, mặn mùi mồ hôi quen thuộc của chồng để cho nó có hơi cha con. Cái tã được khâu vằng viền chỉ đều chằn chặn, đường khâu ấy chỉ đôi bàn tay nõn nà của Tơ mới khéo như thế.

Cái tã có hơi khai của nước đái thằng cu và ngầy ngậy mùi sữa non của Tơ. Thằng cu tí là con cầu tự. Hồi vợ chồng về ở với nhau những hai năm mà chưa có gì. Các cụ bảo tại thằng Khúc hay câu cá cống sông nên có ma trẻ con nó theo, nó không cho đẻ. Nghe các cụ, đôi trẻ rủ nhau lên đình làm lễ, vào thắp nhang khấn khứa xong lúc về Tơ chợt thèm dái mít non liền vặt trộm ở cây mít già cửa đình một cái về chấm muối trắng.  Lâu sau, Tơ ra bến đá ở gần cống sông vớt rươi, đau bụng rồi sinh thằng cu ngay bờ sông cụt. Đứa bé khóc váng lên to đến nỗi cả hai làng ven bờ cũng nghe thấy. Anh Khúc được gọi, vứt cả ôm lá thuốc lào vừa cắt xuống ruộng, sấp ngửa lội ào qua sông cho nhanh. Thằng cu bé tí đỏ hỏn đang nằm trong bọc tã ngọ nguậy, má Tơ thì ửng hồng, mắt long lanh hạnh phúc.

Pháo trên bốt vẫn liên tục câu về làng, nơi Tơ vừa đẻ rơi lúc sáng thì ban trưa bị một quả, sông cụt loang vết máu. Làng ngày càng có nhiều cuộc vây đuổi. Thỉnh thoảng lính lại kéo về bắt một vài người. Mà tận lúc bị bắt người ta mới biết ông ấy, bác nọ tham gia vào tổ chức bí mật. Cha anh Khúc là nhà nho với ông Húc chuyên hoạn trâu và hai người nữa bị bắt cùng một hôm, chúng đưa lên bốt rồi đêm đem ra cầu sông cụt bắn, vứt xác. Người làng đưa về làm ma, hai mắt ông Kiêm không nhắm được cứ mở trừng trừng nhìn lên bầu trời xám đục, còn cha anh Khúc đôi tay bị trói chặt tím đen như màu mực tàu ông vẫn mài. Lâu lâu chúng lại kéo về làng một bận, không bắt được ai chúng bắt trâu bò đem bắn rồi mổ lấy thịt đem đi, quăng lòng xuống cống sông. Dân vừa khóc, vừa vớt lòng về chia nhau. Mấy bà chổng mông vỗ bồm bộp về phía đồn đóng trên chợ huyện mà chửi. Các ông phẫn uất, năng đi họp kín hơn. Khúc cũng theo đi.

Nghe tin có lính trên bốt về tìm, Khúc giục mọi người kịp tản đi khỏi làng. Lâu lâu thấy tin báo yên, về nhà được người làng đưa lại cho một cái tã chéo. Anh gầm lên đấm thùm thụp vào tường. Chả đoán cũng biết tên Binh Kinh xứ Đông đã đưa lính về làng lùng sục rồi bắt vợ Khúc. Thực ra nói Tơ là vợ Kinh cũng không sai. Ngày ấy, trước khi theo Khúc về bên này, Tơ biết đã bị gả cho Kinh cùng xóm. Tơ vốn chả lạ gì  con người to cao, thô thiển, ít học ấy nhưng bố mẹ hai bên đã “chỉ phúc vi hôn” hứa gả con cho nhau từ trong bụng. Là con gái không muốn cãi lại cha mẹ, Tơ cũng định phó mặc. Nhưng sau bận xem chèo ở sân đình, Tơ ngày đêm nhung nhớ anh học trò thư sinh đóng vai Dương Lễ. Chiều chiều, lấy cớ ra bãi cói ven bờ sông làm lụng để hóng sang bên kia, hò đối với đám trai xứ Đoài. Đùng một cái có đợt bắt lính, Kinh bị đưa đi rồi thì việc cưới dừng lại. Nhưng cơi giầu dạm ngõ đã ăn rồi. Bẵng đi ba năm, nghe người ta nói Kinh đã chết mất xác, thế là Tơ trốn nhà sang bên này với Khúc...

Đám lính về làng có Kinh đẫn đầu. Kinh không những còn sống mà còn đã thành chỉ huy, có lính trong tay súng ống rôm rốp. Công đôi việc, vừa lùng Việt minh vừa bắt lại vợ. Tơ được báo vội kịp trốn vào giữa làng. Đứa bé đỏ hỏn để bà bế chưa kịp chạy, bị giằng đem phơi ra bờ cống sông mùa gió bấc. Binh Kinh nghĩ Tơ xót con phải mò về. Bọn lính lùng sục chán các nhà, đốt phá vơ vét rồi kéo nhau đi. Tơ chạy bổ về nhưng đứa bé đang sốt đậu Lào lại gặp gió bấc đã tím ngắt.

Khúc mất cả vợ lẫn con. Người ta vớt được cái tã Tơ hay ôm mà hát ru dạt vào bờ. Người ta bảo đêm ấy trăng lu, có tiếng trẻ con khóc oe oe vẳng về, rồi tiếng hát ru bỗng im bặt. Chẳng biết cô đi theo tiếng khóc hay bị con giải kéo xuống lòng sông? Hôm ấy nước thủy triều rút mạnh, xác Tơ trôi ra tận cửa sông, chỉ còn mỗi cái tã chéo bập bềnh nơi bến đá. Người ta đưa xác Tơ về chôn gần đình làng. Ngày tuần ngày rằm các vãi vẫn kêu cầu cho linh hồn Tơ siêu thoát. Mỗi khi trở gió lại có tiếng ru con ầu ơ văng vẳng vọng về. Có người bảo còn nhìn thấy rõ ràng có người ngồi bên cống sông đêm trăng... ai cũng thương xót cho con người hồng nhan, tiếc cho anh Khúc.

Dân làng ngày càng nhiều người bị lộ. Chẳng hiểu sao bọn lính biết cả hầm bí mật đào dưới gốc tre. Lần nào bọn lính kéo về cũng dẫn một đứa chỉ điểm, đầu đội kín khăn đen chỉ hở hai con mắt. Sau này thêm nhiều người bị bắt, anh Khúc với mấy bác bí mật dò la, hóa ra tên chỉ điểm chính là người làng theo giặc. Vợ nó người xóm Đông, về làm dâu xóm Đoài, ngày ngày bế con vờ đi chơi khắp làng thay chồng nghe ngóng tin tức, thỉnh thoảng chồng về, nó đưa tin, chồng nó lại dẫn lính trên bốt về bắt. Thêm mấy người bị chúng đem lên cầu bắn. Máu nhuốm mặn cả đoạn sông cụt...

Khúc đang đêm được gọi ra bờ sông. Mấy người thì thầm với anh như bàn giao một nhiệm vụ bí mật. Trời nhá nhem tối, anh thấy một bóng người bị trói quỳ, mồm bị buộc tấm khăn đen. Cơn uất của Khúc bốc lên ngùn ngụt. Con trai, bố và vợ của anh đã chết bởi một mụ đàn bà này. Bao người làng chống giặc cũng bị bắt và bị giặc giết bởi người này, trâu bò của cải lợn gà bị chúng đem đi, chúng đốt nhà, xới hầm cũng bởi mày chỉ điểm... Dân làng đã bắt được mày, hôm nay mày phải đền tội... Bao ý nghĩ bùng cháy lên, nóng phừng phừng trong người. Hình ảnh Tơ ôm con lại lấp loáng hiện về. Bao nỗi căm giận từ lâu bị nén lại trong lòng giờ như bật tung lên thành tiếng hét lớn...

Làng nghe thấy tiếng súng vang lên giữa đêm. Gió bấc thổi rú rít qua những mái rạ nâu làm ai cũng rùng mình vì lạnh.

*

Cầu sông cụt quê tôi chỉ để các bà đi chợ bên đình làng khỏi ướt chứ bọn trẻ trừ mùa rét, cứ vén quần mà lội qua cho nhanh. Cái sông cụt đó bọn trẻ trâu thuộc từng khúc nông sâu, chỗ có hủm đôi khi lặn hết hơi mà chưa sờ thấy cát. Đấy có lẽ là nơi của con giải ngự chăng? Có người bảo đấy là hố do pháo trên bốt câu về làng đúng mùa cạn nước. Hồi đó tôi mới sáu, bảy tuổi, chỉ biết được mẹ bế nhao xuống cái hầm tối om tránh đạn. Nghe mẹ kể  nhà bà nội có cánh cửa lim dày hàng tấc thế mà bị mảnh pháo găm vào, xuyên thủng. Ngoài sông cụt khi ấy ông Nghình đang tắm cho bò mà bị hẳn một quả pháo, đến nỗi ruột sổ ra nổi lều bều trên cống sông. Năm ấy mùa rươi đỏ ối nổi từng mảng mà không một ai buồn vớt. Chỉ có bọn trẻ chúng tôi ít sợ ma chứ ở làng các bà hay dúm lại mỗi khi phải qua đấy buổi tối, bảo cứ thấy tiếng trẻ khóc nỉ non. Vài năm trước đó khi vào thời nạn đói người ăn xin đầy đường, có mua cho con miếng bánh đúc vôi cũng phải cầm đòn gánh đứng canh kẻo người ta giật trên miệng, người chết nhiều đến nỗi không chôn xuể. Có nhà sáng ra mở cánh cổng thấy uỵch một cái, hóa ra người đói xin ăn dựa vào đó chết tự lúc nào. Thương nhất là chuyện người mẹ không nuôi nổi con bèn gánh con đi chợ đình, bòn tiền mua cho mỗi đứa một cái bánh rán rồi đem hai đứa đổ ùm xuống cống sông rồi nhảy theo. Người ta đã đưa hồn về đình làng nhang khói...Khi ấy tôi còn bé nên chưa biết gì mà đau với buồn.

Mươi tuổi, tôi thường theo bọn trẻ câu cá và tắm ở bến sông. Dân chài mạn hạ lưu thì bảo thấy người chết đuối chớ cứu, vì vua thủy tề muốn bắt, đừng chống lại mà phải đền mạng. Tôi ỉm tịt không dám nói với mẹ về vụ suýt chết. Bận đi học qua cái cầu, các bà đi chợ thì xuôi về, bọn trẻ đi học sớm thì muốn sang, ra giữa sông, các bà đội thúng né sang phía tay vịn nhường lối, cây tre xiêu đi rồi lật nghiêng. Các bà các chị la oai oái túm vào nhau rồi bu cả vào cây tre với cọc chéo, thúng mủng, rau rợ trôi lều bều. Bà Ương còn bị túm rách cả quần lụa phải úp thúng mà về. Bọn trẻ quê mười đứa thì chín đứa biết lội. Tôi bơi vào đến bờ, nhìn ra vẫn còn thấy cái đầu nhấp nhô, đích thị là của cái Mùi. Cái Mùi không biết bơi là có dòng có giống. Đời ông nó cũng sợ nước, hồi bị giặc đuổi mọi người bơi qua sông chạy trốn còn ông cái Mùi bí quá, bịt mũi bò bộ dưới lòng sông cụt, ấy thế mà cũng thoát chết... Đến đời bố cái Mùi thì thấy nước là sợ, số là còn bé đang ngồi cầu ao bị bọn trẻ trêu ném cho cục đá, giật mình lăn ùm xuống, uống nguyên bụng nước. Từ đấy đâm ra sợ nước, mà tất lượt con cái cũng bị cấm tiệt không cho mon men ao chuôm.

Khi tôi tóm được nó, cái Mùi quặp chặt vào người, ôm ghì kéo xuống nước. Sắp ngạt thở đến nơi tôi vùng vẫy, quẫy đạp mãi mới gỡ được nó ra để ngoi lên. Thoát thân rồi mới đợi nó chìm hẳn, túm tóc kéo vào bờ. Áo quần cái Mùi tung hết, lồ lộ vồng ngực chũm cau mới nhú.

Được ăn cua cá của sông bọn trai làng tuổi tôi phổng phao rất nhanh. Lớp lớn trước thì đã đi bộ đội hết, chỉ còn bọn thanh niên vừa mới vỡ giọng. Trai xóm Đoài toàn rủ nhau sang xóm Đông, chả gì gái bên ấy cũng đẹp có tiếng. Riêng tôi thì không đi theo, chả phải sợ bọn trai làng ấy chặn đánh rồi quăng xuống ao bèo mà là tôi đã có nơi để mà hẹn. Những ngày đi làm đồng, lúc rỗi rãi thường tạt sang bên vườn cói nhà Mùi. Mắt trước mắt sau kéo tay nó len vào giữa đám cây cao lút đầu, lấy chân đạp một đám xuống mà ngồi, tha hồ mà nói chuyện. Tôi khi chỉ muốn choàng tay ôm ghì Mùi, dí xuống đám cói mềm mượt, nhưng lần nào cũng bị ngoay ngoảy đẩy ra.

- Khiếp, ngày trước chả tự ôm chặt lấy người ta lại còn..

- Biết đâu được, đang sắp chết thì vớ được cọc. Biết là sung chát hay đào chua mà vơ lấy... - Mùi nguýt một cái rõ tình.

- Này thì ứ thèm! Đây giả lại cái ôm ngày trước. Mai tôi đi đầu quân, Mùi có đợi tôi không?

Tôi ghì chặt hơn, hai đứa lăn trên thảm mượt, Mùi không đẩy ra nữa mà lại cười khinh khích rồi rúc vào nách tôi, hai tay quắp chặt người tôi như hồi chìm nghỉm dưới nước. Hương cói mật, mùi tóc hương nhu và mùi con gái ngầy ngậy quấn quện vào nhau. Tôi thấy mình như đang ngụp lặn ở một con sông sâu mát rượi, bềnh bồng...

*

Tôi trở về làng, thơ thẩn ra cống sông ngày xưa hay câu cá rói. Ngày trước ngay chỗ này nước sâu nhất, cá cũng nhiều nhất, con nào con nấy câu lên mắt đỏ đòng đọc. Mẹ tôi bảo cá mắt đỏ là cá thiêng, dặn chớ có đem về nhà mà thần phật quở phạt. Nhớ khi còn bé, bọn trẻ chúng tôi chơi ở đình về bị ốm, người lớn lại tra hỏi xem có phạm vào điều gì không. Đứa thì trộm oản cúng, đứa để trâu ăn lúa ruộng đình, đứa thì trót tè bậy vào gốc hoa dâm bụt, thảo nào chim bống lên như cái ấm tích... Nghe thế các bà mẹ lại sấp ngửa vào làng đi tìm mua nải chuối, nén nhang ra tạ tội. Mẹ cấm tôi không được tắm cống sông kẻo ma cô Tơ trêu và cấm vặt cả dái mít non vì cây mít đình có nhiều linh hồn chết oan ở cống sông cụt được nhà chùa đưa về ngự... Tôi vâng dạ thế chứ mít nhà chùa bọn tôi vẫn vặt về rấm ở đồng cói rồi đi thả trâu lại chia nhau ăn. Bọn tôi trèo cây, cái Mùi đứng cảnh giới, được quả nào thì nó vùi vào quang thúng, phủ cỏ lên vờ gánh cỏ cho bò. Mít rõ nặng mà nó lại vừa đi vừa chạy nên đôi mông cứ lắc tanh tách như xênh võng nom khá vui mắt. Chiều đến tắm đàn, đứa nào đứa nấy trần như nhộng, lông tay lông chân bám đầy phù sa như lông cáy. Khúc dưới bọn con gái tắm, chúng tôi mon men lặn đến rút chân, bọn con gái la oai oái. Mỗi cái Mùi ngồi trên bờ trông quần áo cũng bị chúng nó hò nhau khiêng quăng ùm xuống rồi bỏ chạy, tôi lại phải đỡ lên. Áo Mùi ướt dính, ngực mềm ấm chạm vào người tôi rõ mồn một. Tôi thấy dọc thân thể như có luồng khí chạy xộc lên đầu...Thế là đã nhiều lần tôi đòi Mùi từ dưới sông về, không cho giải bắt.

Sau này tôi bán tin bán nghi hỏi ông Khúc.

- Ông ơi, thế liệu có con giải thật không?

- Thế cậu có nghĩ là có không? - Ông nheo mắt hỏi lại tôi.

- Ông Khúc nhìn về phía cống sông, tôi chắc ông đang nghĩ về cô Tơ ngày xưa. Cô Tơ cũng bị con giải cống sông mang đi trong một đêm lặng gió. Ông Khúc không oán con giải, từ ngày cô Tơ chết, ông sôi sục ý chí căm thù theo cách mạng. Giặc Pháp rút quân, ông về làng rồi lại tham gia chống Mỹ. Giờ thì ông nhận trông coi đình, ngày ngày hương khói...

Tôi thi thoảng lên đình ngồi nghe ông kéo nhị. Bài hát ru từ thuở tôi còn bé tí lại ngân lên da diết. Ông Khúc khe khẽ ới a...

- ...Ruộng tư điền không ai cày cấy

Liệu cô mình ở vậy được chăng?

Mười hai cửa bể anh đã giăng

Cửa nào lắm cá “thời” anh quăng chài vào...

Chả biết trên cao ấy Mùi có nghe được không? Thời tôi thanh niên thì chẳng có ai để diễn chèo, không còn ai bắc loa tay hát đối vì lơn lớn một tí thì đi bộ đội hết. Làng vắng teo, chỉ còn người già và trẻ nít... Chẳng biết những năm tôi xa nhà con giải cống sông còn bắt thêm bao người nữa. Bát hương của Mùi ở đâu đó lẫn giữa nhiều bát hương người ta gửi lên chùa. Mùi cũng bị con giải cống sông đưa đi mất. Người ta kể, hôm ấy vội vàng thế nào cuống lên, chỗ nông vẫn lội hàng ngày qua sông thì không đi mà lại đi xiên phải chỗ sâu. Mọi lần tức bố mẹ, nó vẫn lội qua sông trốn sang bên làng Đông nơi dì ruột nó ở. Hôm ấy người ta đến ăn hỏi, người ấy xấu xí, đã cứng tuổi, nghe bảo là làm ở nhà kho hợp tác. Bố nó đã ý chừng để mắt nhưng nó vùng ra được, chạy đi.

Tôi thắp nén nhang chung cho những oan hồn. Trong đó có ông tôi và những người theo cách mạng bị tây bắn trên cầu cống. Mùi của tôi, cô Tơ của ông Khúc, những người bị đạn câu... Tôi ngùi ngùi thương vong hồn những đứa trẻ vô tội của mẹ gánh con đổ xuống cống vì nạn đói. Thương đứa trẻ đỏ hỏn nhà ông Khúc chết vì hận tình của người với người cùng làng, cách mỗi con sông cụt.

Tôi cũng trải qua chiến tranh, từng nổ súng chiến đấu với lòng căm thù nhưng tôi vẫn sờ sợ khi nghĩ đến việc ai đó bắn một người mà mình từng quen biết, mà người ấy là phụ nữ. Có phải ông về giữ đình để nhang khói cho cả người đàn bà xấu số ấy? Tôi hỏi chuyện xưa của ông, ông nheo mắt nhìn xa xăm...

Khi ấy anh Khúc đã lên đạn, môi mắm chặt, cổ họng nghẹn đắng khi nghĩ đến cô Tơ và đứa con trai đỏ hỏn, nghĩ đến bố và những người bị giặc bắn hất xuống sông. Cái con mụ đang trói quặt tay ra đằng sau lưng dựa vào thân chuối vừa hôm qua tâng tâng đi đầu làng cuối xóm xoi mói hóng tin giờ đang cúi đầu mềm oặt, tóc xõa xượi. Anh Khúc rút cái tã còn ấm hơi sữa của Tơ và nước đái của con ra quàng vào cổ, giờ phút trả hận đã đến. Anh nâng súng run run níu cò. Hôm sau, người dân bảo thấy cây chuối đầy vết đạn, người có lẽ đã trôi ra biển, mà cũng chả ai thèm tìm cái ngữ ấy. Cho rùa giải nó rỉa xác đi...

Họ cũng như tôi không biết rằng đúng cái lúc nâng súng lên, thì mụ đàn bà làm tuột cái khăn bịt miệng. Mụ van xin anh tha mạng vì cũng chỉ vì chồng bắt làm như thế chứ không muốn hại người. Anh mắm chặt môi, tay run run chuẩn bị bóp cò. Mụ bắt đầu gào lên, không gọi chồng mà là gọi con. Anh Khúc nghe trong xóm cứ như văng vẳng tiếng trẻ khóc vọng đến. Người đàn bà được tha sấp ngửa lội qua sông về phía xóm Đông, chẳng biết phiêu dạt ở phương trời nào.

Binh Kinh cũng bị xô đẩy theo chiến cuộc cho tới lúc hết chiến tranh rồi bị bắt, mãi tận sau này cũng tìm về làng một lần. Ông Kinh khi ấy đã được cải tạo, về xin ông Khúc được thắp nén hương tạ tội. Hai người đàn ông nói chuyện với nhau không phân biệt người thắng kẻ thua trong cuộc chiến, mọi thù hận, trái phải xa xưa đều bỏ lại sau tuần hương trầm ngan ngát cửa đình. Sau đận ấy ông Kinh đi biền biệt, mãi sau này có người làng vào Nam gặp ông Kinh ở trong ấy, không vợ không con, ngày ngày chèo vỏ lãi rước người ta qua sông để kiếm sống. Khi được nghe lại tiếng người quê, ông Kinh đã bật khóc rưng rức...

*

Hai xóm Đông - Đoài ngày ấy giờ nhập thành một, con sông cụt cũng đã thành nương thành bãi. Con giải cống sông không còn hủm nước chẳng biết đang mắc cạn ở đâu đó trong lớp đất nâu. Cây mít già vẫn còn, lá sắt lại nhưng thân cành vẫn chíu chít dái quả non. Những chỗ trũng xứ Đông ngày xưa trồng cói giờ thay bằng những vườn bãi đầy hoa trái. Trẻ con không biết chuyện con giải cống sông, những oan hồn, đạn bom và không biết nạn đói... Đình làng vẫn cũ kĩ rêu phong nhưng không còn chiếu chèo rải giữa sân, chợ cũng không họp ở đấy. Chẳng ai còn hát ru những bài như của cô Tơ ngày xưa và  những người đàn bà làng Mại đã từng ru.

À ơi...

Con cò đỗ cọc cầu ao

Ăn sung sung chát, ăn đào đào chua...

Theo Văn nghệ

Nhà có ba con gái - Truyện ngắn của Trần Ngọc Mỹ

Nhà có ba con gái - Truyện ngắn của Trần Ngọc Mỹ

Mẹ chảy nước mắt và quay mặt đi khi tôi cất tiếng khóc chào đời. Hồi còn bé, tôi nghe ai đó trong nhà kể lại như thế. Từ đó, đầu óc tôi luôn cột chặt ý nghĩ, mình sinh ra đã làm mẹ thất vọng.

Tôi là con gái út, trên tôi có hai chị gái. Bố mong mỏi một cậu con trai ngay lần đầu mẹ mang thai. Nhưng có lẽ con cái là lộc trời cho, muốn cũng không được. Mẹ sinh chị cả, bố mẹ cãi vã nhau suốt ngày. Mẹ sinh chị thứ hai, bố vắng nhà miết. Mọi người đều nghĩ, đứa thứ ba lại là con gái thì chắc chắn lần này bố tôi sẽ quay lưng hẳn. Bởi, vốn dĩ bố mẹ tôi đã không hợp nhau. Có phải vì thế mà mẹ khóc? Có phải vì thế mà mẹ quay đi, không muốn đối diện với sự thực mẹ đã sinh tôi, một đứa bé gái hiện hữu trước mặt mẹ?

Minh họa: QUANG CƯỜNG

Mọi đoán già đoán non đều sai hết. Ngày mẹ sinh tôi, bố vui vẻ ra mặt. Sáng sớm bố đã xách làn lủng lẳng đi chợ mua đủ thứ, cứ như trong nhà chuẩn bị tiệc tùng liên hoan. Hàng xóm láo liên ngó sang nhà tôi soi xét. Họ ngơ ngác trước thái độ rộn ràng của bố tôi. Mẹ tôi còn sững sờ, ngạc nhiên hơn nhiều. Không ai lý giải được tại sao lại thế. Bố rất ít khi bế hai chị, ngược lại bố bế bồng tôi suốt. Càng lớn, cô con gái út lại càng hợp bố.

Tính bố gia trưởng, mọi người trong nhà luôn phải tuân theo khuôn phép bố đặt ra. Thậm chí, bố dùng roi vọt để răn đe hai chị. Tôi cũng phạm lỗi khá nhiều, nhưng hình như tôi được đặt ngồi phía ngoài vòng luật lệ của bố. Có lần bố đi vắng, ở nhà tôi lấy bộ ấm chén bố mới được tặng ra chơi. Không may, tôi để tuột tay nên một chiếc chén rơi xuống và vỡ choang. Chị tôi nhìn thấy, mặt mũi xanh lét sợ hãi, mặc dù người gây ra lỗi lầm này không phải là chị. Tôi cũng sợ sợ.

Bố về, chị tôi lẩn vào trong buồng ngay, nằm im thin thít. Tôi lần chần hồi lâu rồi lấy hết can đảm, lân la gần bố và khai báo:

- Bố ơi, hôm nay con phạm một lỗi, bố cho con xin lỗi ạ!

Bố nhìn tôi nghiêm nghị:

- Con phạm lỗi gì?

- Con sơ ý đánh vỡ của bố… một cái chén. Cái chén ở trong bộ ấm chén mà bố được tặng đợt đi thi đấu cờ tướng ấy ạ.

Tôi nói xong cúi mặt xuống, không dám nhìn bố và chuẩn bị sẵn tinh thần đợi hình phạt khủng khiếp đến với mình. Bố đánh thì đau lắm. Tôi đã nhìn thấy bố đánh chị gái như thế nào. Trống ngực đập thình thịch, thình thịch. Tôi cảm giác rất rõ ánh mắt bố đang nhìn tôi chằm chằm, hẳn là bố giận dữ. Không giận sao được, bộ ấm chén này là món quà kỷ niệm quý giá của bố.

- Đấy, các chị phải học em út đây này. Làm sai điều gì phải biết nhận lỗi và xin lỗi ngay.

Tay bố xoa xoa đầu tôi:

- Lần này bố tha lỗi cho con. Từ giờ phải cẩn thận, không được làm bể đồ, nghe chưa?

- Vâng ạ!

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Hóa ra tôi phạm lỗi mà lại ghi điểm.

***

Bà nội tôi sinh được năm con gái, hai con trai, là bác cả và bố tôi. Năm 1950, bác cả nằm trong những người xấu số bị mắc bệnh đậu mùa rồi ra đi. Bố tôi trở thành con trai duy nhất của bà nội còn sống. Vì thế, chuyện bố mẹ tôi phải sinh được một cậu con trai để thờ cúng tổ tiên càng quan trọng. Mẹ sinh ba cô con gái nên lúc nào lòng cũng day dứt không yên.

Từ khi bước chân về nhà chồng, mẹ luôn tất tả bận rộn. Bố chẳng mảy may đến công việc trong nhà nên mọi thứ dồn lên đôi vai mẹ. Ban ngày, mẹ đạp xe mấy chục cây số đến cơ quan làm việc, tối về lọ mọ dọn dẹp, khâu vá đến khuya. Sáng sớm đã dậy giặt giũ quần áo. Mẹ chăm chỉ, tần tảo vun vén gia đình nhưng bà nội vẫn không ưa mẹ, ra vào lườm nguýt. Mẹ sinh ba đứa con, bà nội không bế hộ đứa nào. Hai chị tôi cách nhau có hơn năm nên ngày nào mẹ cũng phải cắp nách hai đứa trẻ mang đi gửi.

Tôi nhớ như in dáng bà nội thường ngồi ở góc sân, tay phẩy cái quạt phành phạch, miệng ngâm nga:

- Chúng con là lũ vịt giời, bé thì ăn hại, lớn rồi bay đi.

Bao lần như vậy, mẹ chỉ biết cúi gằm mặt, rơm rớm nước mắt.

Thỉnh thoảng có khách đến chơi, họ chêm nếm câu chuyện:

- Cô cậu phải đẻ thêm đứa nữa thôi, ba đứa con gái thì sau này lấy ai nhang khói, hương hỏa tổ tiên. Cậu lại là con trai duy nhất trong nhà.

Bố tôi cười xuề, đáp:

- Con cái là lộc trời cho. Con nào mà chẳng là con hả ông. Con gái cũng được, miễn sao nuôi chúng lớn lên ăn học tử tế, hiếu thuận với mình.

Nói thế thôi chứ bố mẹ tôi đều muốn có một mụn con trai. Nếu không khao khát có con trai thì bố mẹ chẳng sinh thêm tôi làm gì. Muốn con trai đến mấy cũng chỉ dám đẻ đến ba, chứ không kham nổi bốn nên bố mẹ tôi quyết định thôi. Hơn nữa, nếu sinh bốn đứa đều là con gái thì chết dở.

Ba chị em tôi lớn lên khỏe mạnh, xinh xắn, lại học giỏi. Dần dần có vẻ bố mẹ đã hài lòng với lộc trời cho. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng. Bạn bè của bố hay châm chọc, khích bác, bảo mẹ chỉ đẻ được vịt giời.

Mẹ lo nghĩ hoang mang, sợ bố nghe thiên hạ nói nhiều, lòng sẽ dao động. Không biết bấu víu vào đâu, mẹ đến gõ cửa cô đồng, nhờ gieo quẻ xem tình hình thế nào. Xem ở đâu không xem, mẹ xem cô đồng ngay trong làng, người ta lạ gì gia đình tôi. Cô đồng phán:

- Số chị chỉ có con gái thôi. Đẻ nữa cũng vậy. Chồng chị có hai người đàn bà. Đây này, nhìn rõ nhé, người đàn bà kia tóc ngắn, môi đỏ, lưng dài… khi vợ chồng chị già sẽ có con trai riêng của chồng về nhận mặt.

Tôi đi cùng mẹ hôm đó. Về nhà, mẹ cứ vỗ về tôi “mẹ biết tính bố con chẳng thế đâu, cô ấy xem vớ xem vẩn”. Khổ, tôi có nghĩ gì đâu, người dằn vặt trong lòng là mẹ tôi mới đúng. Có lẽ mẹ nói thế để tự trấn an chính mình.

Một buổi trưa, tôi đang thiu thiu trong buồng thì nghe tiếng chan chát ngoài sân. Chạy ra thấy mẹ sụt sịt ở góc sân, còn bà nội đang cầm thanh củi đập hết chỗ này đến chỗ kia, vừa đập vừa chửi đổng:

- Chị về cái nhà này chỉ ăn hại. Chị xem, thằng bố nó đi tối ngày. Làm vợ gì mà để đàn ông không ngó ngàng đến nhà cửa. Đẻ không biết đẻ, lại còn hay cãi mẹ chồng. Tôi bảo chị mang thóc ra vườn vãi cho gà ăn, chị lại vãi ở giữa sân thế này. Chị cố tình gọi gà vào sân ỉa bậy, để tôi giẫm vào phân chứ gì. Chị mất dạy nó vừa vừa thôi.

Tôi trừng mắt lên nhìn bà:

- Sao bà chửi mẹ con? Những chuyện ấy đâu phải lỗi của mẹ con! Vườn toàn rau, gọi gà ra vườn để nó rỉa rau hả bà?

Mẹ vội vàng chạy lại bịt mồm tôi, đẩy tôi ra ngõ chơi. Tôi đi được đoạn xa vẫn nghe tiếng bà lanh lảnh bên tai:

- Ối giời ơi, cái con rách giời rơi xuống. Mẹ nào con đấy rồi. Chúng nó giỏi rồi. Ối giời ôi là giời. Ông Quân ơi là ông Quân ơi, ông chết sớm để mình tôi…

Nghe chẳng lạ gì, đây là điệp khúc cũ mèm bà vẫn gào mỗi lần không ưng điều gì đó ở bố mẹ tôi. Bây giờ đến tôi.

***

Theo tháng năm, chị em tôi trưởng thành và “bay” đi theo lời bà nội. Yên bề gia thất, công việc ổn định, chúng tôi cứ “bay” đi, rồi lại “bay” về ngôi nhà chung yêu dấu. Tôi lấy chồng xa nhất mà tháng nào cũng về thăm mẹ. Bố tôi mất trước khi tôi lấy chồng. Ngày bố đau bệnh, chị em tôi thay phiên nhau chăm sóc bố. Rồi biết bố tôi bị ung thư giai đoạn cuối, thể trạng suy yếu phải nằm miết trên giường, chị cả tôi quyết định rời xa công việc, chồng con, về ở nhà chăm bố. Bố đuổi đi cũng không đi. Chị nói gia đình thì đã sắp xếp ổn, còn công việc sau khi bố tôi khỏi bệnh, chị xin ở đâu chẳng được. Bố tôi nằm trên giường bệnh chảy nước mắt. Bố nói, bố tự hào khi có ba đứa con gái ngoan ngoãn, hiếu thảo.

Mẹ vẫn đau đáu lời phán của cô đồng. Lúc trẻ thì mẹ lo sợ, còn bây giờ mẹ lại nghĩ thoáng, mẹ bảo nhà thêm người thì thêm vui. Nhưng bố tôi mất đã bao năm mà chưa thấy cậu con trai nào về nhận.

* * *

Khi mang thai, tôi muốn có con trai. Bác sĩ siêu âm đã nói rõ rằng thai 36 tuần, con gái. Nhưng lòng tôi cố chấp, vẫn hy vọng chẩn đoán của bác sĩ sai. Mẹ chồng biết thái độ của tôi, liền thủ thỉ: "Con gái càng tốt con ạ, xưa mẹ đẻ hai thằng con trai hãi lắm rồi. Con nào mà chẳng là con. Con đừng suy nghĩ nhiều, tội cho con bé trong bụng". Mẹ chồng nói không sai, tôi cũng không biết tại sao mình lại mong thế. Trước mẹ tôi bị người xung quanh và gia đình nhà chồng tác động đã đành.

Sinh được hơn tháng, tôi bế con gái về nhà ngoại chơi. Bà hàng xóm sang hỏi thăm, ngắm con gái tôi cứ xuýt xoa:

- Trộm vía, bụ bẫm, đáng yêu quá! Nhưng hình như giống bố, giá mà giống mẹ thì xinh hơn, mẹ xinh xắn thế này cơ mà.

Tôi đùa vui:

- Đáng lẽ là thằng cu, đến giờ chót lại tòi ra thị tẹt đấy bà à.

- Ối giời, cần gì con trai. Cứ nhìn ba cô con gái của bà nhà đây thì ai chẳng muốn đẻ con gái.

Tôi cất giọng bắt chước bà nội ngày xưa:

- Chúng con là lũ vịt giời, bé thì ăn hại, lớn rồi bay đi. Chúng con có làm được gì cho mẹ con đâu bà.

Mẹ vừa cúi xuống bế bé, vừa mắng yêu tôi:

- Tiên sư cô! Phúc lộc của nhà tôi đây. Nào, để bà bế vịt giời đáng yêu của bà nào!

Tôi nằm im ngắm mẹ, tôi thấy rõ nụ cười an nhiên, hạnh phúc và ánh mắt rạng ngời trên gương mặt mẹ. Lòng tôi vẫn trăn trở câu hỏi, mẹ có thất vọng về tôi, về ngôi nhà có ba con gái không?

 

Nguồn QDND

Hai mẹ con và nhà thơ cùng phố

Hai mẹ con và nhà thơ cùng phố

 

Vì con thuyền của Noah xuôi dòng
(Nelly Sachs)

Nhà hai mẹ con nằm chênh vênh trên con dốc cao nhất thành phố. Bên cạnh là nhà thờ xây dựng năm 1935, phá hủy hoàn toàn năm 1967, năm 1997 giáo xứ thành phố mới có điều kiện xây lại. Cạnh nhà thờ là nhà một nhà thơ. Nhà thơ có vợ theo đạo, bản thân thì không. Làm thơ từ hồi về hưu, đã có bảy tập thơ in chung, tập nhiều nhất được in năm bài kèm ảnh chân dung và ba dòng lí lịch, không được đồng nhuận bút nào, phải bỏ tiền ra mua năm cuốn, giá 120 nghìn/cuốn, người in tám bài phải mua tám cuốn, in riêng thì chưa.

Lần được in năm bài, vui quá, nhà thơ cắn răng lừa vợ lấy tiền nộp điện nước mua thêm năm tập nữa. Tổng cộng ông có mười tập thơ mới cáu cạnh, chữ in rõ ràng, giấy thơm nức. Nhà thơ muốn mọi người biết mình là nhà thơ. Khệ nệ mang bảy tập thơ mới cứng, nặng hơn kilôgam mỗi tập đến cơ quan cũ: Hội nông - lâm - ngư nghiệp của tỉnh, nơi ông gắn bó mấy chục năm, từ ngày còn chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ. Bảo vệ cơ quan buổi sáng thường điểm tâm kèm mấy li rượu, say rúc đi tìm chỗ ngủ. Nhà thơ tự tin, phấn khởi đi lên tầng hai, vào thẳng phòng chủ tịch. Vừa nhìn thấy ông cùng thơ lễ mễ trong bị cói chủ tịch thoáng chau mày, miễn cưỡng đứng dậy bắt tay.
- Chào bác, lâu rồi mới thấy bác ghé chơi. Bác đợi cháu...

Nhà thơ nhận ra thái độ khó chịu của người đối diện nhưng độ lượng bỏ qua. Chấp thế gian làm gì. Chấp giống người ngu muội tâm hồn khô cằn sỏi đá làm gì. Chủ tịch vội vàng sang phòng bên gọi kế toán sang.

- Cụ bán thơ. Quý hóa quá. Em xuất hai trăm nghìn mua thơ ủng hộ cụ.

Nhà thơ vui quá, hóa ra thơ đúng là thành phẩm trí tuệ của loài người như tivi vẫn nói. Cuống cuồng, ông rút vội hai tập thơ trong bị ra định kí tặng. Tính ra vẫn lỗ 40 nghìn, nhưng có hề gì, quan trọng ông đã gặp được người có tâm hồn đồng điệu.

- Thôi, cụ không phải kí đâu. Coi như chúng cháu đã mua nhưng cụ cứ mang về. Để cũng có ai đọc đâu. Phí ra.

Chưng hửng. Đang từ thiên đường nhà thơ rơi tọt xuống địa ngục. Lập bập. Không nhận tiền, không chào, nhà thơ lầm lũi ngược ra khỏi phòng. Đi đến cuối hành lang mà tiếng của bà kế toán vẫn văng vẳng. “Đám thứ ba sáu đến bán thơ trong tháng này rồi đấy. Chả còn khoản nào quyết toán ngoài khoản giấy vệ sinh. Cũng may không phải mua nữa. Thơ với chả thẩn.” “Khéo phải làm biển ở đây không mua - bán - cho - tặng thơ may ra mới đỡ khổ.” Thơ thật dễ làm người ta xa nhau. Tình cảm đồng nghiệp, đồng chí, bạn bè bao năm cũng có thể vì thơ mà hết. Từ ấy nhà thơ không còn ý định tặng thơ ai nữa. Nhất là khi về vợ ông bắt nhịn tiền mua báo Văn nghệ nửa năm để bù vào tiền mua thơ.
*
*     *
Ngày ngày, nhà thơ cần mẫn bước một đi xuống chân dốc và ì ạch bước một leo lên. Chẳng phải lúc nào ông cũng đi xuống để gặp mấy ông bạn cùng câu lạc bộ thơ uống nước chè loãng, đọc thơ, nghe thơ hay ra bưu điện mua báo. Ông đi theo thói quen. Thận trọng, bước một, nhìn xe về số vù lên thật nhanh và hãm phanh lăn xuống từ từ. Thứ hai cho đến chủ nhật. Xuân kéo hết đông. Nắng tãi qua mưa. Ngày nào cũng thế. Nhà thơ nhắc nhở cho phố nhỏ cuộc sống vẫn đang diễn ra.
Câu chuyện tôi đang kể ra đây chẳng liên quan gì mấy đến nhà thơ. Ông không phải nhân vật chính. Tôi đang kể về căn nhà nằm vênh trên con dốc cao nhất thành phố. Nhà có hai mẹ con. Người con quá lứa nhỡ thì gần bốn mươi chưa lấy chồng. Cô thích làm bánh. Mà sắp trung thu rồi nên cô làm bánh trung thu. Bánh cô làm ngon không? Tôi chưa ăn. Bạn cũng thế. Nhưng cứ giả dụ bánh cô làm ngon lắm. Vậy thì đã sao? Một cô gái làm bánh rất ngon, gần bốn mươi, quá lứa nhỡ thì có gì hấp dẫn? Thực là cũng chẳng có gì. Ngoài làm bánh cô còn đi dạy thêm. Vài đứa lớp ba, vài đứa lớp tám, chín, một đứa lớp mười một mà vẫn đánh vần. Vậy đã đủ hết tuần. Thỉnh thoảng buồn buồn cô đi siêu thị. Mua xà phòng, dầu gội đầu, sữa rửa mặt, bông ngoáy tai, ít đùi gà cùng bao tử cá ba sa, nếu ít người đợi mua bánh mì cô sẽ mua thêm bánh mì. Bao tử cá ba sa cô xào sả ớt ăn cùng cơm nóng hoặc bánh mì nếu có. Đùi gà cô tẩm bột rán mỗi lần hai cái. Thường mẹ cô ăn nửa cái còn cô ăn một cái rưỡi. Việc ăn uống cũng không phải là việc chính ở đây.

Nhà thơ ghét ăn cá và thịt gà, chỉ thích thịt lợn rim nước mắm thật mặn. Nhiều khi bà vợ kho nhạt quá ông cau mày, lắc đầu, đặt đũa xuống đứng dậy ra ngoài sân nhìn xuống thành phố phía dưới. Cái đói làm cho thành phố phía dưới huyền ảo, lung linh hơn. Một vài cánh mây trắng muốt nháng qua trước mặt. Ông ước mình là mây bay. Bay mãi về phía dòng sông thơ ấu nơi ông đã cất tiếng khóc chào đời. Ở đó không có tục chôn nhau thai mà nhau thai được thả xuống dòng sông trôi về phía biển. Đứa trẻ sinh ra đã là con thủy thần. Thủy thần. Ông giật mình, trong truyện cổ tích thủy thần là Thủy Tinh, vậy mà giờ ông sống chót vót trên đỉnh đồi cao thế này có khác gì con cháu của Sơn Tinh đâu. Sơn thần. Ông bỏ dòng sông tuổi thơ từ năm mười hai tuổi. Bãi bờ lau ngút ngàn hút mắt. Dưới lòng sông là bãi cọc ngầm cùng xác tàu chiến. Xác người bị cá và bùn đáy sông gột sạch sành sanh từ đời nảo đời nào. Dòng sông vẫn thế, nhau thai trôi dập dờn đỏ lợ phù sa. Ngày ông bỏ sông đi mẹ ông cho ăn một con cá nướng với hai quả cà khú, chẳng có cơm, rau. Cá cháy nghẹt lại nơi họng đắng nghét. Mùi thum thủm của hai quả cà vẫn theo ông đến giờ. Nhưng phải có gì khác nữa ở lần bỏ đi đó chứ? Ông muốn trở về lần nữa để xem năm mười hai tuổi ông có bỏ quên gì không?

- Thịt kho lại rồi, vào ăn cho xong đi.

Bà vợ khó chịu đổ vào nồi một phần ba chai nước mắm cốt. Mùi nước mắm sôi phong tỏa cả phố. Thịt rim thành muối. Nhà thơ không thấy đói. Cái đói làm cho người trí thức hèn và nhục đi. Phải vượt lên tất cả mọi tầm thường của vật chất. Mà sao ông không mơ được giải Nobel văn chương cho bằng bạn bằng bè? Từ trước cách mạng tháng Tám anh văn sĩ Hộ của Nam Cao chẳng mơ rồi còn gì. Ừ, ông thấy đau, thấy hèn và tủi. Gần bảy mươi rồi mới thấy hèn và tủi kể cũng là bi kịch. Nếu nhận ra sớm hơn biết đâu cuộc đời chả đưa ông sang một ngã rẽ khác. Vinh quang hơn. Và nhục nhã hơn cuộc sống hiện tại với lương hưu hai triệu hai một tháng. Lương. Không có nó khéo ông chết mất. Nhà thơ thở dài với cái ý nghĩ nổi loạn bất thành của mình. Ông chầm chậm vào nhà, mâm cơm còn nguyên không đậy lồng bàn, bát thịt kho lõng bõng nước mắm ngả màu nâu cánh gián, bát cơm ông mới xều hai xều nằm cạnh bát canh rau đay mùng tơi nguội ngắt.

- May nhà này trên cao không có ruồi.

- Ruồi bọ gì. Ăn nhanh đi còn dọn. Chỉ cạnh khóe là không ai bằng.

Nhà thơ cầm bát cơm lên cắm cúi ăn cho hết bát. Ông biết nếu cố đôi co thì người chịu thua thiệt vẫn là ông. Vợ ông không làm thơ hay viết văn nhưng bà có cách ví von gắn với các loài động vật rất hay, mà thường là loài bốn chân giải đen, kiêng ăn vào đầu tháng. Kinh nghiệm ví von này xuất phát từ thời làm ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Nơi lấy “Phục vụ kiểu mẫu” làm tôn chỉ làm việc. Nhưng rốt chẳng ai biết phục vụ kiểu mẫu cuối cùng là cái gì.
*
*     *
Cái phố nhỏ trên dốc cao nhằm đúng ngày rằm trung thu thì nhốn nháo. Hàng phố đột ngột nhận hai tin, một lành, một dữ. Người lớn xôn xao. Trẻ con háo hức vì trung thu được rước đèn lồng Trung Quốc có nhạc ỉ eo từ đỉnh dốc xuống. Viết về nó vài dòng chắc cũng không hại gì đến khoảng thời gian rảnh rỗi của bạn.

Nhà thơ bỏ nhà đi vào tối mười bốn. Trăng mười bốn tròn lắm. Chú Cuội ngồi ngó xuống trần gian nơi chú ở từ ngày xưa. Giờ có cho chú xuống lại dưới trần chú cũng chẳng biết chơi với ai. Trăng từ bao đời vẫn cứ tròn rồi méo, méo lại tròn. Chú chẳng buồn vì mình cô đơn nơi đây. Cô đơn mãi thành quen, đâm nghiện. Nghiện cô đơn đích thị nhà thơ. Khéo dưới trần gian chú thành nhà thơ nổi tiếng có sách bán chạy hàng mấy chục nghìn bản một lần, tái bản ngay sau ngày phát hành, độc giả đứng xếp hàng dài chục cây số xin chữ kí rồi cũng nên.

Chú Cuội trải chiếu xuống khoảng đất phẳng gốc đa, thở dài xong ngủ.

Nhà thơ lần mò xuống dốc, vẫy taxi, cho ra bến xe X ngay, càng nhanh càng tốt.

Lái xe taxi tên Trần Nhã Tượng, tạm trú tại số nhà 20, ngõ 6, đường K, phường Vải Cắt. Cao 1m7, nặng 60kg, tóc nhuộm vàng, rẽ ngôi giữa, đeo kính đen, mặc áo sơ mi trắng, quần âu, đi dép xỏ ngón xanh dương. Học đại học mĩ thuật năm hai thì bỏ không rõ lí do, độc thân, có quan hệ mờ ám với gái ăn sương. Biển số xe Tượng lái là 18H.0988. Hãng taxi Cáo Trắng. Logo công ti là hình hai con cáo đang hôn nhau biểu hiện cho sự thân mật, nhiệt tình của hãng xe đối với khách hàng.

Người lái xe taxi là người liên quan đầu tiên đến vụ mất tích bí ẩn của nhà thơ.

Minh họa: Lê Anh Vân
Nhà thơ đã đi đâu? Không ai biết. Khi đi ông mang theo gì? Hiện tất cả đều là những lời phỏng đoán không căn cứ. Người thì bảo ông có vợ cả ở quê, nay già gom hết tiền bạc của cải của vợ lẽ ở phố về quê sống cho thanh thản. Người thì bảo ông nuôi bồ dưới trường cao đẳng văn hóa của tỉnh, nay năm cuối cô bồ cố ý bòn rút cho kiệt nên rủ ông trốn vào Nam. Người bảo ông có con riêng thời chiến tranh chống Mĩ, nay nó đón ông đi du lịch châu Âu. Nhưng du lịch châu Âu thì cứ đàng hoàng mà đi chứ sao phải dấm dúi. Ừ, mà có bồ dưới trường văn hóa thì người ta đã đồn ầm lên rồi, có phải cái bánh, cái kẹo đâu mà giấu được. Kể cả có vợ cả ở quê thì dễ vợ lẽ ông ấy để yên. Bà ấy chả tìm bằng được, xé tan xác chấm mắm nhai sống. Từ cái hồi làm mậu dịch bà đã nổi tiếng chua ngoa không ai bằng. Một mình dám đứng ra chửi nhau với ba mụ sồn sồn buôn chuyến từ Móng Cái về. Cái gì che đi thì bà cho lên mồm phun ra, kết hợp với những bài chửi truyền thống.

… Mày đi đằng đông bà gông bà cùm. Mày đi đằng nam bà giam bà giữ. Mày đi đằng tây bà vây bà bắt. Mày đi đằng bắc bà dắt mày về…

Vậy mà ông vẫn đi thoát khi bà đang còn mải xem phim Cô dâu tám tuổi, khi Anandi đang khóc ở tập hai trăm lẻ mấy. Bà cũng khóc theo Anandi. Ông mặc pyjamas màu cháo lòng đi đi lại lại trong sân như tập thể dục. Vừa đi vừa lén nhìn vào nhà như kẻ trộm. Anandi vẫn khóc, bà nội Anandi vẫn mắng té tát, anh chị em cô dì chú bác vây quanh hai người. Ống kính máy quay lia rõ từng khuôn mặt. Nếu mặt vợ ông xuất hiện trên màn hình kia cũng chẳng lấy gì làm bất ngờ. Nhà thơ khẽ mở cổng, nhấc túi bóng đen vùi trong thùng rác mang đi. Bên trong là quần áo, khăn mặt, bàn chải đánh răng cùng tiền tháng lương vừa lĩnh lúc chiều. Đi xuống dốc ông thấy thân mình như đang bay lên ở quãng cao, xa lắm. Đằng trước là con sông tuổi thơ cùng bờ lau xanh ngút mắt. Lần đầu tiên của cuộc đời người làm thơ ông cảm thấy mình thật gần với Chúa, người sáng tạo. Giờ mỗi vần thơ gieo xuống là một hàng châu ngọc đi vào lịch sử văn học thế giới.
Xuống gần hết dốc ông gặp cô gái ế dạy học, làm bánh nhà cùng phố. Cô e lệ gật đầu chào ông. Gái bốn mươi nhưng cái e lệ vẫn còn đẹp lắm. Má lúm đồng tiền, cười chúm chím, đưa tay lên vuốt tóc mái xòa xuống cài vào mang tai. Ông gật đầu chào lại. Chào xong, ông thấy sờ sợ, nhỡ ra cô ta lên dốc gặp vợ ông đi xuống khéo chuyến bỏ trốn thành công toi. Vội vàng ông vẫy chiếc taxi vừa nhao đến trong sự chưng hửng của hai người ở lại.

Hai người ở lại
Một là cô gái sống cùng mẹ trên căn nhà chênh vênh như ta đã biết. Vậy người còn lại là ai? Việc này liên quan đến tin lành cả xóm xôn xao mấy hôm rồi. Bà cô bốn mươi của xóm có người yêu. Con nhà gia giáo hẳn hoi, đi xe SH màu mận chín, tóc vuốt keo ngược về đằng sau lộ trán bóng láng, đeo kính trắng, mặc sơ mi dài tay tím than, quần bò xanh, giày đen. Thường hẹn ở dưới chân dốc rồi đưa nhau đi đâu không rõ.

Trông ngấm ngầm mà cũng ra trò.

Mấy anh choai choai của xóm giờ bắt đầu nhìn cô với con mắt khác. Họ thấy cái răng khểnh kia có duyên đến lạ. Vòng một, vòng ba cũng đầy đặn, cuốn hút như hoa hậu Mai Phương Thúy chứ kém gì. Vài anh tiêng tiếc, giá chấp nhận làm phi công biết đâu chả được lái máy bay Airbus Z40 lượn vòng quanh ngọn đồi cao nhất thành phố. Giờ thì muộn mất rồi. Mấy anh ham cờ bạc càng tiếc tợn, bà cô ông mãnh thiêng lắm, xin số nào được số đó, nhiều chỗ người ta còn lập miếu thờ chứ ít à. Cả cái phố trên dốc cao này còn mỗi một bà có thể thành bà cô nay cũng đi lấy chồng nốt. Đời cơ bản là buồn. Cả đám rủ nhau nhậu. Tiễn một người sắp đi lấy chồng là cái cớ nhân văn nhất trong tháng. Năm lít rượu trắng, xoài xanh, mấy quả bòng, gói ngô rang, họ gọi tên cô khi nâng chén lên, gọi khi đặt chén xuống, gọi khi ê a hát, gọi khi bắt đầu nôn thốc nôn tháo và lảo đảo đi tìm nơi giải quyết nỗi buồn.
*
*    *
Nhà thơ đến bến xe X vào quầy vé hỏi nhận được câu trả lời cấm cẳn của chị bán vé tóc nhuộm đỏ, răng vẩu, môi đỏ chót đang giũa móng tay: “Không có xe, chuyến sớm nhất năm giờ sáng mai.” Nhà thơ buồn bã tìm một chỗ ngả lưng trong nhà chờ. Bên ngoài là bóng tối hành hương qua các ngả. Nhà văn Nga Lev Tolstoy cũng chết cóng trong một nhà ga. Lần tìm giấy bút trong túi bóng đen bên mình để viết con chữ đầu tiên, con chữ tử tế không hô hào xông pha, không đấu tranh giai cấp, không yêu đương sướt mướt, không thấm nhuần tinh thần đủ kiểu trong cuộc đời một nhà thơ phố lẻ. Và ơn trời ông bỗng nghĩ đến cô gái hàng xóm gặp lúc tối. Giờ cô ta làm gì? Liệu cái anh chàng đi cùng có phải người yêu cô ta? Nếu vậy thì tốt quá, một đám cưới diễn ra trên đỉnh ngọn trời, cô dâu chú rể trong nhà thờ đẹp tinh khôi, thuần khiết. Lúc ấy mình đứng từ trong nhà nhìn ra, chếch về phía phải là ngôi nhà lợp ngói chơ vơ của hai mẹ con. Khung cảnh thật đẹp, xen vào là sự buồn man mác khó tả. Tuổi thanh xuân đã qua chẳng trở lại. Hồi trẻ mình chẳng mơ có một đám cưới trong nhà thờ với chuông giáo đường, các dãy ghế băng dài, cha xứ hỏi Con có đồng ý lấy… làm vợ hay không? Dù có ốm đau bệnh tật, nghèo khổ, quan tâm cô ấy suốt cuộc đời. Nếu quay ngược thời gian trở lại nhà thơ hẳn sẽ nói không nếu cô dâu là bà vợ bây giờ. Còn nữa, suốt cuộc đời là cụm từ mang tính đày đọa thít chặt các chân trời bay, lời tuyên án chung thân không có ngày ra, viên đạn bọc đường bắn đi sáu bảy chục năm mới đến đích, kẻ đồng lõa của sự phiền muộn, âu lo… Sự tức giận chớm ùa đến, nếu để nó chế ngự thì cảm xúc thi ca đang trào dâng cũng sẽ tan biến như bọt biển.

Nhà có hai mẹ con và nhà thơ cùng phố

Nhà thơ viết câu đầu tiên. Câu thứ hai không tự động nhảy ra như lí thuyết mọi sự tự kéo nhau đến. Thơ bỏ rơi nhà thơ. Bà vợ bỏ bả cho thơ chết ngoẻo. Giá ông không nghĩ đến bà thì đã có bài thơ hay. Câu thứ hai, thứ ba, thứ n, theo hình ảnh bà vợ nhảy xuống đáy mồ. Ông cất giấy bút đi, thắt chặt, luồn cổ tay qua quai túi ôm vào lòng, cảnh giác không lúc nào thừa, tuổi già sức yếu nhỡ ra thằng trộm cướp nào không có lương tâm đi qua nhìn thấy giật, chạy vụt đi thì có giời đuổi. Công đoạn cảnh giác đã xong, nhà thơ nhìn ra bốn xung quanh tìm cảm hứng. Cảm hứng và cảnh giác là đôi bạn thân luôn đi cùng nhau.

Có hai người đàn bà đang rì rầm nói chuyện trong góc, một người mặc áo thổ cẩm như người dân tộc, người kia mặc áo lao động cũ. Cạnh đó đứa trẻ gối lên hộp đánh giày co ro ngủ. Người bảo vệ gà gật trên băng ghế ngoài. Chị bán vé chấm chấm vào màn hình điện thoại như đếm tiền trong ngân hàng, chốc chốc lại ngẩng lên. Lâu lâu mới có xe miền trong xuất bến, khách vào bến đa số lên thẳng xe trả tiền chứ không mua vé tại quầy.

Càng khuya thiêu thân càng bay vào nhiều, chạt cả mấy bóng đèn. Muỗi từ mương nước phía trước thấy hơi người bay tấp đến. Nhà thơ là con mồi béo ngậy cho muỗi. Áo rộng thùng thình, chân đi dép tổ ong màu trắng, chỗ nào cũng là món ăn ngon lành cả. Nhà thơ khổ sở gãi chân, tay, lưng, bụng, gãi cổ, gãi mặt... Đập chết vài con, tưởng yên, nào ngờ những con khác thấy mùi máu, thấy đồng đội hi sinh càng vây lấy tợn, quyết tiêu diệt bằng được kẻ thù hiểm ác. Nhà thơ bắt đầu hối hận. Bãi lau ngút ngàn giờ cũng không che được hiện thực phũ phàng đang phải đối mặt. Rất hiện thực, nhà thơ nghĩ đến việc quay về. Nhưng nhỡ ra bà ấy hỏi đi đâu thì sao? Nhà thơ khí khái vốn không quen nói dối. Nếu nói thật chấp nhận việc nhiếc móc nhiều năm nữa. Ông có thể hình dung ra tạm một số câu nhẹ nhàng nhất: Có giỏi sao không đi luôn đi. Kỉ niệm với chả hồi ức, mài ra mà ăn được đấy chắc. Hay là có con nào hơn con này thì cứ nói, đây chẳng cấm, báu bở lắm chắc. Bao nhiêu năm đi làm không sao, nay già bỗng đốc chứng làm thơ rồi vào hội văn nghệ. Hội với chả hè, toàn một lũ dở hơi với nhau. Nào, nói đi, con này không đáng để nhà thơ lớn ban cho vài lời hả...

Không thể chịu nhục nhã mãi được. Không thể về. Nhà thơ vẫy chiếc xe đầu tiên xuất bến. Xe mười sáu chỗ, không dừng, vẫy thế nào cũng không dừng. Cứ từ từ quay đầu, chầm chậm tiến, đến cổng bấm còi inh ỏi ra hiệu cho bốt trực mở cổng. Nhà thơ lao ra vỗ mạnh vào cửa xe. Cửa mở. Cái đầu trọc lốc cùng thân hình xăm trổ rồng phượng ngó ra.

- Đ... mẹ, xe đến nghĩa địa đấy, lão đi không?

- Bao tiền một vé?

Nhà thơ quả quyết. Chết xuống địa ngục một lần biết đâu chả viết được trường ca để đời như Thần khúc của Dante.

- Vô giá. Thôi đi mày. Mẹ kiếp, đời lắm người điên thế.
*
*     *
Tối mười bốn trong căn nhà nằm chênh vênh trên dốc có cuộc hỏi cung.

Ở giữa là bàn uống nước phủ kính loang vũng nước hai đầu; trên có hai chiếc chén hoa hồng mất quai, đóng cặn; ấm mất vòi; móc chìa khóa logo Chelsea; gạt tàn thuốc lá hình cô gái khỏa thân sáng bóng; cốc nhựa màu xanh đựng nước vối lưng lửng; giẻ lau bàn cắt từ tay áo hoa cũ; bàn tay nhăn nheo của người đàn bà sáu mươi cụp vào, duỗi ra. Bóng đèn từ góc phòng thả chập chờn vàng vọt. Tường quét ve vàng loang lổ vết đen. Bóng người loang một góc rộng phủ về lối xuống bếp. Tivi đang phát chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc ở mấy huyện vùng giáp biên. Ngoài đường vắng hoe, thi thoảng có chiếc xe máy rồ ga vọt qua. Hương ngọc lan thoang thoảng. Tiếng chuông nhà thờ ngân lên thánh thót rồi đột ngột chìm hẫng giữa không trung. Tiếng động bị màn đêm thu lấy đựng trong chiếc túi lớn của mình mang đi cả. Những người dưới phố lên đọc kinh đã về từ trước đó cả tiếng. Họ không đi ngang nhà, họ đi lối tắt xiên ra giữa phố.

- Thằng đi cùng mày tối nay là ai?

- Bạn con.

- Bạn kiểu gì? Mày không cẩn thận nó lừa cho trắng mắt ra thì khổ. Gần nửa cuộc đời giữ gìn chứ ít gì. Mà thằng đó công ăn việc làm thế nào? Nhà ở đâu? Gia đình cơ bản không? Hơn kém mày bao nhiêu tuổi?

- Mẹ hỏi như thẩm vấn tội phạm.

- Chả tội phạm. Mày không thấy báo, đài, tivi đưa nào cướp, giết, hiếp đầy ra đấy hả. Có ngày nào là thế giới yên ả đâu. Đến chúa trời cũng bó tay đi ngủ rồi. Làm thân con gái thì phải biết giữ gìn. Của mình mình giữ chứ mong ai giữ cho. Cái thân già này gần đất xa trời rồi, chẳng còn sống mãi được. Thằng bố mày…

Đột nhiên bà im lặng. Lần nào nhắc đến chồng của bà, bố của con gái bà cũng đều im lặng. Quá khứ đè nặng lên các quãng sống đều đều. Dù cố quên thì quá khứ vẫn đấy, chỉ chờ cơ hội lập tức ùa về chiếm giữ các giác quan. Ngày chồng bỏ đi cũng vào mùa thu thế này. Hoa sữa lúc ấy chưa đủ nhiều để phủ vây các tuyến phố, trở thành nỗi ám ảnh của các dãy nhà, ca thán của các tờ báo lá cải lẫn lá khoai lang. Dốc nhà thờ còn đường đất chưa đổ bê tông, có cây hoa sữa thâm thấp nở nhiều hoa ở lưng chừng. Trong ánh tù mù của buổi sáng sớm bà không đuổi kịp được bố của con gái bà. Ngã dúi dụi, mồm miệng đầy đất cát. Hoa sữa vẫn tỏa hương thoang thoảng. Bóng người lờ mờ xa ngái chỉ còn là vệt đen sẫm phía trước. Bà gắng nhổm dậy lao theo. Chân dốc chẳng có ai ngoài bà cùng gió heo may. Tóc lòa xòa trước mặt, gió hiu hiu, nước mắt ứa ra hòa cùng với gió. Đứng mãi mỏi chân bà lên dốc cùng gió. Ngang qua cây hoa sữa kiễng chân vặt một chùm hoa.

- Mẹ thì lúc nào cũng chỉ giữ gìn.

Cô gái bỏ vào phòng nằm đắp chăn, tắt điện vờ ngủ. Nhà có hai mẹ con. Bà mẹ không phải là nhân vật chính của câu chuyện này. Vậy nhân vật chính câu chuyện tôi đang kể là ai? Nhà thơ, không phải. Bà vợ, không phải. Mẹ cô gái, cũng không. Chỉ còn cô gái. Cô gần bốn mươi tuổi, mọi người đồn cô đã có người yêu. Mà nào đâu có phải. Cô thở dài thườn thượt, mơ màng nhuộm màu buồn lên ánh trăng qua song cửa len vào. Cái anh chàng mà mọi người vẫn tưởng là người yêu cô thực ra đến mời đám cưới. Sự hiện diện của bạn là niềm vinh hạnh của gia đình chúng tôi. Anh ta bảo học cùng cô cấp hai, ngồi cùng bàn, vẫn hay chép toán của cô. Cô chưa bao giờ giỏi toán, cũng chẳng mấy khi ngồi cùng bàn với con trai. Trong ngăn trí nhớ không có cái tên nào như tên anh ta. Cậu phải nhớ ra tớ là ai mới được. Thật lòng cô chẳng nhớ. Anh ta đến gặp cô ba lần, mời đi uống nước, đưa ba thiệp mời và sẵn sàng đến tiếp nếu cô chưa hoàn thành việc nhớ ra tớ là ai mới được. Ba lần uống nước anh đều giành trả tiền, mười lăm nghìn một cốc màu đá, tổng cộng anh ta trả chín mươi nghìn cho sáu cốc của anh ta lẫn cô. Cô vẫn thật tâm không thể nhớ, nhưng ở lần gặp thứ ba vào tối mười bốn cô nói có: Mình nhớ ra chút rồi. Nhất định đến dự đám cưới. Còn mười tám người nữa chưa nhớ ra anh ta là ai khi đã qua lần uống nước thứ tư, tám người trong số đó không có thiện chí đi uống nước cùng nữa. Chả trách họ được, quá khứ rất lạ, với người này thì quan trọng, người kia thì là thứ bỏ đi, như những giấc mơ của đàn kiến lửa. Anh ta hài lòng bắt tay cô thật chặt bảo nhất định sẽ đợi để giới thiệu cô với vợ sắp cưới. Một cô gái tuyệt vời. Gặp cậu sẽ thích ngay cho xem.

Càng khuya sương xuống càng nhiều, cái lạnh ùa vào chiếm giữ căn phòng. Cô nhoài người khép cửa sổ lại. Phòng ngoài mẹ vẫn ngồi gặm nhấm kỉ niệm về bố. Giấc mơ của đàn kiến lửa kéo cô vào giấc ngủ của chính cô. Trong mơ cô là cô dâu mặc váy cưới trắng, xếp tầng đứng trong nhà thờ, anh bạn cấp hai không nhớ ra là chú rể. Nếu cô không nhìn xuống dưới người dự lễ thì tốt biết mấy. Nhưng cô đã nhìn xuống, phía dưới là những con kiến xếp hàng nối nhau kéo đến cửa nhà thờ, ra cả ngoài sân. Nhìn sang, anh bạn cũng hóa kiến. Giật mình tỉnh giấc. Giờ thì cô đã nhớ anh bạn cấp hai kia chính xác là ai. Anh ta từng làm thơ tỏ tình với cô, thật thế, thơ lục bát na ná của Nguyễn Bính và Nguyễn Duy. Cô có quyền lựa chọn, cô không thể đi dự đám cưới một kẻ mới nứt mắt đã ti toe biến thơ thành công cụ để tán tỉnh và chiếm hữu.
*
*     *
Cô gái cũng không phải nhân vật chính của câu chuyện.

Chỉ còn người lái taxi tên Trần Nhã Tượng chưa có hành động gì để chứng tỏ mình xứng đáng có mặt trong câu chuyện này. Anh nói với tôi anh chẳng cần chứng minh gì cả. Chính anh đưa nhà thơ từ bến xe về chân dốc nhà thờ, nhờ người bán nước dắt lên bàn giao cho bà vợ không lấy tiền xe. Ông ta lang thang ở bến xe X mấy ngày, mắt thẫn thờ gặp ai cũng hỏi Ông bà, cô chú, anh chị, các cháu đi đâu đấy? Có biết dòng sông tuổi thơ của tôi ở đâu không? Nếu biết vui lòng chỉ. Tôi có tiền đây, xin biếu cả. Mấy thằng mất dạy dẫn ông ra mương nước, vừa vạch quần đái vừa chỉ xuống bảo: Sông của ông đấy. Không phải. Nhà thơ hét lên, nhìn vào mấy chiếc xe đang rời bến như còn đợi chuyến xe dành riêng cho mình về lại dòng sông ấu thơ, với cỏ lau, cá nướng, cà khú.

Với cả ngày xửa ngày xưa…

Trại sáng tác Đà Lạt, tháng 3/2016
Đ.P

Nguồn: Vannghequandoi

Hoa trong công viên mưa - Tản văn của Lê Tấn Quỳnh

Hoa trong công viên mưa - Tản văn của Lê Tấn Quỳnh

Công viên nằm dọc bờ sông của thành phố trầm mặc cứ hiện ra như một khoảng lặng kỳ lạ của thời gian. Nơi mà chỉ cần chút khói lụa bồng bềnh dẫu chưa đủ kịp cho một nỗi say sưa cũng đủ đã là đong đưa cả buổi chiều ngầy ngật.

Ảnh: internet

Thoang thoảng đâu đây là một chút thơm mơ hồ tỏa ra từ lòng đất đai cứ mà mượt phết nhẹ lên từng cọng cỏ, để đôi khi va vào gió rồi cuối cùng nương nhẹ trên tiếng khúc khích cười ngây ngô của những non xanh mơn mởn đang sực tỉnh giấc sau một trận ngủ dài. Sâu tận đâu trong mỗi cõi đời hoang hóa, có những tiếng thì thầm mươn mướt nhẹ cứ khẽ khàng chạm vào những tim tím, mơ mơ, nâu nâu, ngòn ngọt. Rồi tất cả lại trở về trong suốt như một lời tỏ tình từ ký ức. Và lúc này, phía ngoài sông kia là một con thuyền nhỏ đang lướt song song với dải bờ óng ả cứ như đang mải mê thổn thức lênh đênh theo từng âm thanh dập dìu đến từ một bản giao hưởng ngây ngất trắng. Tôi như thôi miên đi dọc công viên song song theo con thuyền cho đến khi chợt nhận ra quanh mình đang phủ đầy một lớp bụi trắng li ti lành lạnh. Thì ra trời lại bắt đầu đổ mưa. Cơn mưa đầu tiên của mùa xuân.

Sau vài ngày chớm tạnh cơn mưa đã trở lại và mang theo cái lạnh không còn lâm châm da thịt. Cái lạnh bây giờ như một nỗi mơ hồ về cuộc sinh sôi kỳ vĩ của trời đất, của những cái vẫy cánh mạnh mẽ của bầy chim sẻ non ríu rít tắm trong những vũng nước loang loáng hình hài nỗi nhớ. Và khi lớp sương mỏng mảnh như tờ giấy pơluya la đà trên hàng cây bên đường, đó cũng chính là khi những thanh âm trôi đi thật chậm trên những lớp vỏ cây sần sùi đang khe khẽ vỡ những vết chân chim để hít sâu cái loãng tan của thế giới, để rồi lửng lơ trên tay mình còn níu được chút hơi hướm khó tả lâng lâng. Ánh đèn vàng vô tình còn sót lại từ đêm qua bên một gốc Long não già xù xì bỗng trở nên lung linh hẳn trong buổi sớm nay. Những tia sáng ấm mang thân phận ướt rượt neo vào mỗi ánh mưa hồn nhiên đã trở nên vô cùng huyễn hoặc. Những viên sỏi trắng đủ hình thù ngồ ngộ nép mình dưới chân cỏ cứ lấp lóa ngoài ra như những nốt hoài âm hơn hớn. Công viên bây giờ như mở ra một cánh cổng khác, một thế giới khác cứ vun đầy sự sắp đặt của ký ức. Ta bắt gặp ở đó chút nỗi buồn lấp lánh, ít niềm vui bâng quơ, đôi ba nét trầm tư hoài nhớ, một vài tiếng trầm trồ xuýt xoa… Và bao trùm lên là cả một thứ màu vàng mơ run run khắc khoải, để đà đẫn thấm dần vào sâu tận những ngóc ngách ngả ngớn đang trốn chạy trong mình mà dậy lên một nỗi chờ rưng rưng kỳ dị. Thế giới ấy là thế giới của những cái giật mình bất chợt, như ta vẫn lạc hoài ngay ở nhân gian. Cũng lâu lắm rồi mới tìm lại được cảm giác như thế này, chẳng biết lòng buồn hay vui mà cứ chen lên cái cảm giác trĩu đầy vô tận trong từng góc quán trọ thiên di.

Trời đang mưa xuân nhưng có lẽ từ lâu nắng đã ươm mầm xuống nỗi cồn cào của cỏ, để chờ một ngày thức dậy long lanh. Và rồi cứ mỏi miết theo hai bên con đường nham nhám lát đá xanh chạy giữa công viên, bụi mưa li ti cũng đã kịp bám đầy lên những nụ hoa hạnh ngộ. Những chấm vàng nhỏ xíu đã ấp ủ sự lấp lánh màu nắng rơi tự bao giờ để nhịp nhàng hòa cùng những lắng sâu dâu bể. Từng cụm hoa như từng ánh nghĩ nôn nao lời gọi mời nào thao thiết. Chẳng cần bon chen cũng chẳng lời hẹn ước, những nụ hoa cứ vun lên nỗi tần ngần hoang mang xứ sở. Chẳng cần phải là một hình hài cụ thể, hoa cứ nhịp đập của tim mình mà nhoài lên bản thể của một buổi ngày hơn hớn. Không ồn ào. Không vội vã. Những đốm hoa nhỏ bé đang dần thắp lên những chớp nắng miên man trên mỗi loài cỏ không tên không tuổi. Chúng như đang kéo những vu vơ hoài niệm trỗi lên rạo rực với từng giây từng phút chờ nhau vô biên. Nhỏ bé vậy giữa đời nhưng những nụ hoa dại ấy lại chất chứa trong mình nỗi khát khao mãnh liệt, đến nỗi có thể kéo phăng đi từng cái buông mình lơ đãng. Ngay cả bước chân mình rồi cũng sẽ bắt đầu cuộc hành trình tươi mới hơn khi chạm vào từng khoảnh khắc của thứ bình yên quá đỗi. Thử một lần hít sâu vào ngực cái sắc màu nồng ấm ấy, lại sợ mình tan biến như không. Dẫu bây giờ không còn mùa đông, trời đã cao hơn và thanh thoát hẳn nhưng cả ánh mắt vu vơ nào cũng lướt qua dịu nhẹ kẻo lỡ làm lay động những thoáng giấc bình yên ấy. Cái lạnh của cơn mưa mùa đông xơ xác đã hết nhưng cái se sắt của cơn mưa đầu mùa xuân vẫn còn đủ cho những bàn tay nắm chặt nhau hơn, và những nụ hoa tình tang cũng thử nói lời hồi hộp.

Đi gần hết cả một buổi mà sao không hết chiều dài của công viên. Những ám ảnh kỳ lạ mỗi lúc mỗi tăng lên theo những vết màu cổ tích. Tiếng mưa hay tiếng trở mình của cõi hoàng hoa cứ ngân dài lên xao xuyến. Bên những sắc hoa như mây ngày chúm chím, cứ chợt muốn một lần chênh chao tìm nỗi vắng mơ hồ. Ánh hoa đã tràn lên thổn thức nhưng phía du ca người như vần cứ tan dần. Mình cũng tan trong mưa, trong sắc hoa đầy hớn hở mà mỗi bước chân đi qua là mỗi lời chuyện trò trong mênh mông. Từng chồi hoa tinh khiết nhất cứ rung rinh trong gió nhẹ như phảng phất cơn xao động cuốn một ngày mơn man mùa đến. Mưa không làm mờ đi được nỗi xốn xang rơi lã chả trên từng centimet không gian à ơi nũng nịu. Mưa và hoa như đã quyện lẫn vào nhau giữa từng giọt thời gian nấng na nấng níu. Như bất giác lại nhớ về bó hoa dại nồng nàn trên tay một người đã cũ lặng lẽ trao nhau trong năm tháng ơ hờ. Một bó hoa như ấm vàng góc phố nhưng cứ chút giận hờn nào mãi gởi giấc miên man.

Ngày cứ trôi qua điềm nhiên trong những yêu thương tìm về quên lãng. Cái thuở còn dùng dằng vấn vít tay nhau cũng đã đủ một lần ngơ ngác. Rạng rỡ nào đã kịp xốn xang trong hoài nhớ đời mình. Những nụ hoa vàng trong công viên mưa đã dần thắp lên từng hạt nắng trong hồn để rồi tan đi đâu mất những vụn vặt trong đời. Và một ngày đi qua trong tiếng mưa và những nụ hoa vàng ấy, lại thấy mình rất đỗi bình yên…

L.T.Q
(SH324/02-16)

Đứa bé rơi trong đêm - Truyện ngắn của Vũ Thiên Kiều

Đứa bé rơi trong đêm - Truyện ngắn của Vũ Thiên Kiều

Đứa bé ấy tên là Vội. Vội đi tìm mẹ. Mẹ ở đâu trong cái miệng đêm khổng lồ này. Vội dò đêm Vội đi. Tối quá. Chẳng thấy đâu là đất đâu là vũng nước. Hai bàn chân và lai quần của Vội đã chợp chạp những bùn. Đã phún phẩy mùi phân heo. Con đường vào sóc này Vội đã thuộc nằm lòng, chỗ nào có vũng nước, chỗ nào heo hay dầm ổ… nhắm mắt lại Vội cũng có thể kể ra được. Vậy mà đêm nay. Đêm đã làm lù lòa cái thông minh, cái khôn trước tuổi của Vội, một đứa trẻ mới bước vào tuổi mười hai.

Vội dò từng bước lên cầu. Chiếc cầu đúc bắc ngang dòng kênh nhỏ. Nơi mỗi chiều Vội và những đứa trẻ một tay tụt quần, một tay vịn chặt thành cầu mà tuôn xối xả xuống sông. Xối xả trôi về đâu. Sẽ có bầy cá chốt cá rô cá lòng tong lau chau ngửa mặt hóng hớt phía dưới. Rồi bầy cá trê sục sạo nhặt trong bùn đất ăn ngấm ăn ngầm sạch loáng những miếng kịp chìm dưới đáy. Sau buổi tiệc thịnh soạn đãi cho các loài cá, Vội cùng lũ bạn đứng dàn hàng ngang trên thành cầu đợi tiếng hô của thằng Ba Tàu.

- Một! Hai! Ba!

Nối tiếp tiếng hô, cả tiểu đội con nít đồng loạt phóng mình xuống kênh. Úp mặt xuống kênh mà không hề có cảm giác gớm ghiếc khi mới đây thôi chúng cùng thi nhau xối xả xuống nước. Luật chơi quy định rõ: Ai lặn lâu nhất thì sẽ chiến thắng. Phần thưởng cho đứa đoạt giải nhất là một rổ trái cà na chín lựng do chúng nó đã hái trước khi phát động cuộc chơi. Xem ra tụi nó cũng biết chuyện. Đã thi thố thì phải khen thưởng. Nói đến khen thì ắt phải thưởng vật chất đi kèm. Chứ khen suông thì lấy gì mà khích lệ, lấy gì mà làm mục đích và động cơ phấn đấu. Vội nghĩ thế, vì những lần đạt danh hiệu học sinh giỏi của trường, Vội chỉ nhận được duy nhất cái giấy khen có chữ ký vừa dài dằng dặc vừa rối nùi như cuốn dây chì gai của thầy hiệu trưởng và phần thưởng là cái bắt tay của chính ông với thông điệp gởi gắm rất ư là thắm thiết rất ư là tin tưởng.

Phần thưởng chỉ là trái cà na, trái bình bát, trái trâm hoặc trái bần. Toàn những thứ quà quê hái từ nơi bờ kênh, bờ ruộng mùa nào trái nấy mà sao đứa nào cũng ham. Vội nhớ có lần con Luyến bảo: Má tao đang bệnh, má biểu thèm ăn cà na ngào đường. Hôm nay tao quyết giành giải nhất.  Và để đoạt được giải nhất đầy vinh quang ấy nó cũng lập được kỳ tích có một không hai khác. Bữa đó, sau một hồi lặn mất tăm dưới kênh, con Luyến là người trồi lên sau cùng. Phụt lên mặt nước, Luyến chào chúng bạn bằng nụ cười mãn nguyện. Nhưng ơ kìa. Nó chìa răng ra cười mà cái đầu nó còn làm duyên bằng một trái chuối chín vàng.

- Bơi lẹ được ăn chuối tụi bay ơi! - Sau lời nói của thằng Ba Tàu, cả bầy chục đứa rẽ nước bơi về phía con Luyến. Nhưng dù tụi nó có trổ tài bơi lặn của Yết Kiêu cũng đâu thể nhanh bằng Luyến. Phước ai nấy hưởng. Cà na đã thuộc về nó thì chuối cũng phải dành cho người chiến thắng chớ. Như thế mới bõ mới xứng cái công mấy tuần nó cực khổ một mình luyện nhảy, luyện hụp lặn. Khi đứa bơi nhanh nhất cách trái chuối chừng mét rưỡi, con Luyến đưa tay chụp trái chuối. Úi ơi! Chuối không có vỏ. Trái “chuối” nhầy nhẫy nhớt, cơm “chuối” có hạt dưa, hạt bình bát, hạt ổi quấn quyện vào nhau. Thoáng rùng mình. Nhưng rất nhanh. Con Luyến vẫn giữ chặt “chuối” và hét to với thằng Ba Tàu đang ở xa nhất:

- Há miệng ra Tàu ơi!

Làm thủ lĩnh thật sướng. Miếng ngon không thể mất phần. Bao giờ cũng được thuộc cấp tự nguyện cống nộp. Thằng Tàu hí hửng há miệng. Con Luyến vung tay cực chính xác. Úi chao. Toàn bộ trái “chuối” đã dán bèn bẹt vào mắt, vào mũi, vào miệng thằng Tàu. Cả bọn quay lại  thấy “thủ lĩnh” Ba Tàu xơi chuối trong bộ dạng chau mày mím lợi đến tội. Ấy vậy nhưng chỉ sục mặt trong nước vài cái là thằng Ba Tàu lại cười reo tiếp tục chỉ huy tụi nó chơi keng dưới nước. Con nít mà. Biết gì là ớn. Biết gì là giận hờn. Cứ thấy hay là chơi. Thấy đông là vui rồi. Duy cái biệt danh đội “chuối”, xơi “chuối” được trang trọng gắn kèm theo tên của con Luyến, thằng Tàu như keo dính chuột. Không cách nào gỡ ra được.

Chuyện bám thành cầu của chúng có lần bay đến lớp, cô giáo và nhà trường nghiêm túc nhắc nhở. Nhưng sao họ không nghĩ. Nếu bỏ bám thành cầu thì chúng nó biết phải xối xả ở chỗ nào.  Làm hố xí kiểu đào lỗ rắc tro ư. Tiện. Nhưng mùi mọ nặng nhọc quá. Đâu thể chịu nổi khi chúng đã quen với việc ngồi tự do trong miền thông thống gió. Như thế vừa mát mẻ. Vừa dễ chịu. Ai cười con nít đâu. Mắc cỡ thì nhường cho người lớn đi. Họ đã có những cái bô dự phòng rồi. Cứ búng đầy bô cho thật sạch lòng ngót dạ. Rồi đậy hờ một mảnh lá chuối hoặc một chiếc lá môn đem xuống dòng kênh đang nằm phơi dưới nắng như con gái ngủ ngày. Ụp một cái là xong. Khoát thêm vài nhát nước là cái hỗn hợp nây nẩy màu và đặc sắc mùi mới đây thôi còn lặn hụp trong từng múi ruột của mình sẽ háo hức bước vào cuộc chu du mới. Hoặc là bụng cá. Hoặc là phù sa. Nhẽ nào cũng ích nước lợi nhà.

Gió sàn sạt quất vào nhánh cây bình bát ở mống cầu. Vội thoáng sợ. Nhánh cây như bóng người chồm qua thành cầu hù nó. Càng nhìn cái “người’ ấy càng nhúc nhích dữ. Có phải ma không.

- Mẹ ơi! Mẹ ơi!...

Vội bật lên tiếng gọi mẹ. Nước mắt đã chảy trùm khắp đôi má. Tối nay, nó đã tìm mẹ nó ở khắp các phòng học, khắp các sân cỏ và cả những lối mà các đôi yêu nhau thường hay tình tự.

Đã 12 giờ. Sao mẹ nó chưa về. Nó kéo mền đắp cho em nó rồi khẽ khàng đóng cửa lại. Nó tiếp tục lùng sục khắp các chỗ bằng đôi tai thính, bằng đôi mắt láy đen sớm vất vả và cả bằng cái trực giác về mùi mẹ. Mùi của mẹ nó ngộ lắm. Chỉ có nó mới nhận ra mùi mẹ. Nó chỉ cần hít một hơi dài trong cái vòng tròn không khí có bán kính hai mươi mét là nó biết ngay mẹ đang hoặc không ở chỗ này.

Nó điểm lại lần lượt từng chi tiết. Mẹ nó đi từ lúc nào. Đầu tối, khi nó học bài xong cỡ tám giờ. Nó giăng mùng và sửa cho em nó nằm gọn phía trong sát vách. Mẹ nó nằm giữa. Nó buộc cửa bằng một sợi dây chì chắc chắn. Nhà tập thể, vách bằng lá, mái lợp lá, cửa là một miếng giấy dầu đen đen được áp sát vào một cái khung cây tràm hình chữ nhật và những nẹp tre. Nhà thế. Cửa thế. Chủ yếu để lấy chỗ trú mưa che nắng chứ sao có thể phòng trộm chống lửa được. Nhưng cái đầu non sớm già của nó cũng biết lo toan hệt câu mẹ hay nói “Cẩn tắc vô áy náy”. Nó kéo chiếc ghế tấn chặt cửa. Dường như nó thấy cái ghế cũng chưa đủ sức. Nó lấy khúc cây vuông nó nhặt được hôm thợ sửa bàn cho học sinh. Một đầu nó chõi vào khung tràm trên cùng của cánh cửa. Một đầu nó gài vào chân bồ lúa. Tuyệt. Khúc cây vuông đứng nghiêng nhưng tạo một thế khá chắc. Quan trọng cái thế đó đã giúp nó yên tâm trong việc phòng chống trộm. Nó lại ngoặc thêm mấy cái thau nhôm vào cái đoạn dây chì còn thừa khi buộc cửa. Những cái thau nhôm này sẽ giúp nó bật dậy ngay khi phát ra âm thanh loảng xoảng.

Mà cũng lạ. Tài sản của ba mẹ con đâu nhiều nhặn gì mà sợ mất trộm. Căn nhà chừng chín mét vuông. Một chiếc tủ nhỏ xíu đựng quần áo và đồ lặt vặt. Mấy cái nồi thau. Một bồ lúa đựng ba chục giạ để làm kinh tế khi già hơi giáp hạt. Một cái giá sách đựng giấy tờ tài liệu của mẹ và tập vở của chị em nó. Một cái cà ràng để nấu ở góc nhà. Một bộ đồ nghề nấu khoai bán gồm nồi, xề, cân. Và trong gậm giường thì lá lúa, củi đuốc. Những thứ mà nó tẩn mẩn xếp nhặt rồi bó lại gọn ghẽ. Cứ thế nó ních đầy cái gậm giường.

Nó hiểu. Ở cái xứ này. Nhứt là nước. Hai là củi. Thứ ba mới là gạo. Sao lại thế. Nước thì bùm bũm xung quanh. Mùa lũ may ra chìa lại cái nền nhà là khô ráo. Hà cớ gì cần phải lo. Thì đó. Nội cái vụ leo thành cầu xả láng của tụi con nít và những cái bô nặng mùi đậm màu đã trút vào nước những nỗi niềm khó thở. Khi nước ròng. Mặt kênh rặt những của trôi vật nổi. Có bận chập tối nó ra kênh rửa xề khoai mì để luộc. Đội xề khoai về nó ra oai bắt thằng Vững xếp vào nồi luộc. Chị lột rửa rồi. Tới lượt em luộc nha. Phải có làm mới có ăn chứ. Võ mồm xíu thôi. Chứ thực ra nó muốn dạy cho em làm từng món cho quen.

- Hai ơi. Sao có củ khoai lang bóc vỏ rồi nè.

Nó cầm đèn soi. Úi ơi. Một “củ” to nần nẫn nằm cùng với những củ khoai mì đã lột vỏ. Y chang trái “chuối” trên đầu con Luyến hôm trước. Hoảng. Nó vứt cả xề lẫn khoai mì xuống kênh. Vứt sạch. Nhưng chị em nó không thể nào và không bao giờ tẩy được hình ảnh cái “củ” to nần nẫn ấy ra khỏi đầu. Quá xá sợ luôn.

Thế nên, nó phải gánh nước từ sông lớn về dùng. Nó nghĩ nước sông lớn sẽ sạch hơn. Từ nhà nó ra sông gần nửa cây số. Nó gánh nước về đổ vào hai cái lu ba vú để ở đầu thềm. Đầy lu. Nó quậy cục phèn trong lu nước thành những vòng tròn nước xoáy tít. Xoáy tít. Chừng một giờ sau nước trong vắt. Cả nhà nó có thể dùng ăn uống tắm táp giặt rửa thoải mái.

Mười hai tuổi. Đôi thùng nước nó gánh lệt phệt chỉ chực quét đất.

- Con nhỏ giỏi thiệt. Người nhỏ xíu mà gánh gánh nước đi te te.

Nó còn con nít. Dạng con nít già háp. Bởi vậy mê tít những lời khen. Một cô giáo nói:

- Vội đừng gánh đầy thùng thế. Mai mốt sao cao lên được. Gánh nửa thùng mỗi bên thôi con. Việc gì cũng nên làm vừa sức.

Nó cười. Mắc gì nó phải nghe lời cô giáo. Nó nghe lời mẹ nó thôi chứ. Mẹ nó có nói gì đâu. Mẹ nó mặc nhiên như khoán cho nó việc gánh nước. Không khen chẳng chê. Cũng không hối hả thúc giục. Chắc mẹ nó bận bịu việc soạn bài lên lớp. Đâu bận lòng nghĩ về những thứ cỏn con ấy.

Nhưng có lần nó buồn. Bữa đó nó cũng hăng hái gánh đôi thùng nước. Tay nó vung vẩy quẹt vào tay bà Ba Thọ ở xóm. Cánh tay bà trắng. Tay bà múp míp đeo những vòng ngọc nhẫn vàng lắc vàng. Bà giơ cánh tay lên mũi hửi. Rồi bà chu mỏ nhổ nước miếng cái rột.

- Mày đứng lại tao biểu. Mày làm tay tao thúi hoắc rồi.

Bà ta thản nhiên thọc tay vào thùng nước mà rửa mà quậy. Xong bà lấy chai dầu thơm trong xắc ra xịt xịt mu bàn tay và từng ngón. Rồi lại hít hửi một hồi mới ngúng nguẩy đi.

Nó đặt hai thùng nước xuống đất. Mắt nó ném những lửa những uất hận vào cái mông phúng phính đang gõ nhịp của bà ta.

- Đồ nhà giàu. Đồ ăn hiếp con nít. Đồ... Nó không nghĩ ra từ nào để chửi bà ta cho xứng. Bởi ngày thường nó chúi vào việc bán buôn, vào bài vở tập sách với những lời hay ý đẹp chứ có dự trữ xíu nào tiếng lóng từ tục để mà phòng thân để mà trả miếng. Việc nó có thể làm lúc này là đổ hai thùng nước cái rẹt. Hả giận. Nó quày quả trở lại bến sông múc hai thùng mới.

Tạm ổn về vụ nước. Cái đầu non sớm già của nó lại nghĩ về củi. Ngày nắng quơ đâu cũng có lá, có củi. Chỉ một vòng quanh sân trường là nó cũng có thể nhặt đẫy một ôm vỏ mía khô chụm được cỡ hai ngày. Lửa cháy của vỏ mía vừa đượm vừa thơm thơm mùi đường.

Tươi ngày nắng. Lặng ngày mưa. Mưa miền Nam thì rõ rồi. Sáu tháng gắt gỏng nắng, sáu tháng sã sượt mưa. Nhất là những cơn mưa dầm dai tháng bảy mà người ta thường gọi là tháng mưa ngâu. Để giữ lửa bếp cháy đều trong những tháng đó thì nó phải tích cực từ những ngày nắng. Nó vào chùa Khơmer Sóc Xoài lượm những cành cây sao khô, nó hốt lá dầu, nó đốn cây bình bát, cây nức ở bờ ruộng. Trong các loại “nhiên liệu” ấy, nó thích nhất cây nức. Cây nức là một vị thuốc nam. Cô Thảo bảo thế. Trước khi sanh, người phụ nữ nào cũng sửa soạn một bọc cây nức thái mỏng, phơi, sao khô hạ thổ rồi vô keo để dành nấu nước uống. Cái thứ nước màu cánh gián uống lúc nóng thấy thơm thơm ngọt ngọt đến lạ. Nó từng được cô Thảo cho uống khi cô sanh bé Ngọc. Uống riết nó muốn ghiền luôn.

Nói về món thiết yếu thứ ba là gạo. Gì chứ gạo thì vô tư. Bởi mẹ nó có chế độ mười ba ký một tháng. Thằng Vững bảy tuổi cũng có chế độ tám ký một tháng như nó. Hết thảy là hai mươi chín ký. Nó cũng thấy lạ. Thường một người tham gia công tác chỉ được ăn theo một xuất, nhưng nhà nó là đặc biệt. Đặc biệt vì nhẽ nào thì nó chịu. Nó không quan tâm đến sự đặc biệt ấy. Nó chỉ nhẩm tính mỗi ngày nó nấu ba bữa cơm, sáng một lon, trưa và chiều mỗi bữa xấp xỉ lon rưỡi. Chừng giáp tháng thể nào thùng gạo cũng dư ít nhất là hai ký. Cái phần dư dả ấy đã chứng minh sự khéo lo khéo co của nó. Khiến cô giáo nhỏ tuổi hơn mẹ nó bảo:

- Bé này lớn lên làm kinh tế giỏi phải biết.

Vội lại cười. Chuyện giàu có hồi sau sẽ rõ. Giờ cứ tạm bằng lòng về căn nhà nhỏ của nó, tuy không sang trọng giàu có hiện đại nhưng cũng tươm tất với hai lu nước trong vắt trước thềm, với gậm giường nhóc nhách lá nhóc nhách củi khô và một bồ lúa bề bề.

Quay về chuyện nó tìm mẹ. Nó lọc lại bộ nhớ. Lúc buộc cửa gài cây treo thau xong, nó tắt đèn chui vào mùng. Nó tấn mùng cẩn thận và nằm kế mẹ. Nó hít một hơi thật no mùi mẹ. Nó choàng tay ôm mẹ. Một chân nó gác lên người mẹ. Một tay nó sờ vú bên trái của mẹ. Chị em nó chia nhau rõ ràng. Hàng đêm, mỗi đứa chỉ được gác một chân lên mẹ, sờ một bên vú mẹ. Nhưng em nó nhỏ, chừng khuya ngủ say là rớt tay xuống giường. Lúc ý nó tham lam sờ hết hai vú mẹ luôn.

Trong lúc sắp lơ mơ ngủ. Nó nghe rõ chân giường nhà cô Hương chú Lĩnh có vách lá chung với nhà nó cứ rung lên từng hồi, sàng qua sàng lại như gấp gáp lắm nặng nhọc lắm. Nó lớ quớ hỏi: Tiếng gì bên nhà cô Hương vậy mẹ. Mẹ nó trả lời cụt lấc: Chuột chạy.

Nó thắc mắc trong đầu. Chuột gì mà kỳ cục, làm được cả chân giường rung lên. Đêm nào cũng rung. Chắc con chuột này to lắm. Sao chú Lĩnh không gài bẫy bắt nó. Dễ ợt mà. Chú Lĩnh thì bệ vệ cao lớn. Hổng lẽ đầu hàng con chuột. Hổng lẽ cứ sống chung với chuột.

- Chừng nào chân giường hết rung vậy mẹ. Nó có tật không thể bỏ, miễn chưa hiểu cái gì là phải hỏi cho tới.

- Khi chuột ăn no nhau. Đừng hỏi nữa. Ngủ đi đặng mai thức sớm nấu cơm.

Chuột ăn no nhau. Lạ nhỉ. Chuột chạy thì giường rung. Giường ngưng rung thì chuột no. Suy ra khi chuột đói thì chuột chạy. Phức tạp quá. Nó vẫn chưa thể hiểu.  Dưng thôi. Miễn con chuột ấy không chạy qua rung chân giường nhà nó là ổn rồi. Tử tế thì mai nó mua tặng nhà cô Hương mấy miếng keo dính chuột. Tạm bằng lòng kết thúc chu kỳ làm việc của một ngày. Nó khép mắt lại.

Nó khép mắt và ngủ thật. Khi nó sực tỉnh thì mẹ nó không nằm giữa nữa. Mẹ nó đi đâu vậy. Nườm nượp câu hỏi và tình huống đặt ra trong cái đầu già háp của nó. Mẹ bị đau lưng ư. Nếu đau lưng thì đã bảo nó cạo gió ngay lưng. Nó có bao giờ để mẹ phải đau một mình đâu. Mẹ nhức đầu nó bắt gió ngay trán và hai bên thái dương. Rồi nó nấu nồi nước với đủ thứ thuốc lá như lá xả, lá mãng cầu, lá tre... cho mẹ nó trùm mền xông. Còn như mẹ nó đến nhà cô Thảo thì không thể. Lúc nãy nó áp tai vào cửa nhà cô thấy im thít và không hề có mùi mẹ.

Hay là mẹ nó đến chỗ bác ấy. Trời ơi! Chẳng lẽ linh cảm của nó là đúng sao. Có lần bác ấy chặn đường cho hai chị em nó một đồng bạc tiền xu biểu mua bánh ăn. Nó bỗng nghi ngờ cái lòng tốt bất ngờ của bác ấy. Nó lắc đầu không nhận và lôi em nó chạy nhanh. Nó sợ đứng lâu nó sẽ cầm lấy mất. Không phải nó ham tiền. Mà bởi nó không cầm lòng khi ai đó năn nỉ nói ngọt. Nó cũng lại thường nghe mẹ nó nói “mật ngọt thì chết ruồi”. Nó không muốn chết như con ruồi ham ăn. Nó làm được, lo được. Nó sẽ mãi lo được cho mẹ nó và em nó.

Nếu mẹ đến chỗ bác ấy thật thì sao. Từ nhà nó tới chỗ bác ấy chừng ba cây số. Đường đêm này sao mẹ nó dám đi. Nó nhìn lên trời. Thẫm một màn đêm. Đêm vụt sáng lên nhờ một ngôi sao. Trên trời có sao. Dưới đất có nó. Phải tìm mẹ. Phải tìm mẹ về với chị em nó. Nó chạy vút vào đêm.

Sắp tới rồi. Cái phòng bảo vệ của bác ấy đặt sát cổng. Không có ánh đèn nào trong phòng. Nó đã ngửi được mùi mẹ. Mừng quá. Nó đi thật khẽ. Xíu nữa nó giật mình khi nghe tiếng mẹ rấm rứt khóc:

- Gần năm tháng rồi anh. Thai đôi. Không hút được nữa. Làm sao giờ anh. Chắc em chết mất.

- Để thủng thẳng anh tính. Nếu không có hai đứa nhóc thì hay quá.

Trời đất như sụp dưới chân nó. Mẹ nó có bầu. Nghĩa là bác ấy làm cho mẹ nó có bầu. Nước mắt nó trào ra. Đau đớn quá. Cái lời của bà thầy bói thật ác nghiệt. Lần mẹ nó cùng các dì xem bói. Bà ta bảo em nó: Thằng này em đông lắm. Đông gì. Nhà người ta có hai chị em mà? Ý nghĩ của nó chen vào. Nhìn cái đuôi rùa của nó kìa. Ít nhất là năm đứa em.  Bà thầy bói quả quyết.

Bác ấy nói không có hai đứa nhóc là sao. Nghĩa là không có chị em nó ư. Chị em nó là nùi cỏ chặn dòng chảy của cống nước ư.

- Tính sao giờ. Bụng mỗi ngày một to. Con Vội lúc này nó canh em dữ lắm.

- Nó con nít lo gì. Quan trọng là hai đứa mình thương nhau.

- Con em em biết. Nó người lớn lắm. Đâu dễ nó chấp nhận mình đâu.

Mẹ nó nói đúng. Nó đâu dễ chia mẹ cho ai được. Nó lo toan sấp ngửa trong nhà vì nó thương em yêu mẹ. Mẹ thì gầy yếu, em thì nhỏ. Nó phải là chỗ dựa vững chắc cho mẹ, cho em nó chứ.

- Hay em gởi nó về bên nội nó. Hàng tháng mình trợ cấp nuôi nó.

Trời ơi! Người ta đang toan tính chia lìa nó với mẹ nó. Nó sao thể sống xa mẹ nó, em nó được. Mẹ nó và em nó là máu thịt của nó. Trời ơi! Sao đành để nó khổ vậy. Tuổi mười hai nó đã làm tất cả, từ buôn bán nấu cơm, gánh nước kiếm củi giặt đồ. Những mong mẹ nó vui, em nó ngoan.

Mẹ ơi! Mẹ không thấy được cái tình của đứa con gái này ư. Từng xề khoai lang lượt đi con đội vào trong sóc bán. Từng xề rau mác rau má cù nèo con đội lượt về khi bán hết khoai. Mẹ có biết xứ này đỉa vắt nhiều lắm không. Như người ta bán hết khoai là tung tăng nhảy chân sáo xách xề về. Còn con. Con lội xuống từng bờ lung bờ ruộng. Con hái rau. Từng bó rau con chất lên xề đem ra chợ bán những mong thêm chút nào đỡ chút đó. Từng đồng bạc lời từ tiền bán khoai bán rau mẹ xếp mẹ gói vào giấy xoắn lại như những chiếc kẹo. Con giở ngắm những chiếc kẹo ấy mà thầm vui. Con tự hứa với lòng lớn lên sẽ chăm chỉ làm việc kiếm thật nhiều tiền lo cho mẹ cho em. Mẹ ơi! Sao tình thương chị em con dành trọn cho mẹ, mẹ lại đi thương người ta. Chúng con đã không có tình thương của người cha. Mẹ nỡ nào lại không thương không bù đắp cho chúng con.

- Tiện thì gởi hai đứa cho nội nó nha em.

Mẹ nó như đang nấc nghẹn hơn. Như thế là chị em nó sẽ mất mẹ rồi. Đâu còn những đêm hai chị em nó ôm mẹ sờ vú mẹ. Mỗi đêm nó đã buộc cửa nẻo chống chọi thật kỹ. Vậy mà sao bác ấy còn lấy trộm được mẹ của nó. Nó cứng rắn, người lớn vầy mà còn thảng thốt khi vắng mẹ. Hỏi em nó út ít bé nhỏ sao chịu nổi đây.

- Sắp sáng rồi! Anh lấy xe đạp chở em về nhé. Đừng nghĩ lung nữa. Sẵn nghỉ hè em đem tụi nó gởi sớm. Rồi mình về quê anh làm đám tuyên bố. Mấy nữa là lại có con chúng mình mà.

“Con chúng mình”. Là lời giải đáp cái đuôi rùa của thằng Vững. Trời ơi. Khi mẹ nó có “con chúng mình”, chị em nó sẽ là cái gai, là vật cản cái hạnh phúc của mẹ nó. Về nội ư. Ba nó còn không thương nó thì biểu sao các chú thím thương nuôi được. Nhà ngoại thì đâu còn ai. Mấy dì đều theo sống bên nhà chồng.

Điều nó mong mỏi nhất là mẹ nó được vui, được hạnh phúc. Nó nhầm rồi. Nó có cố gắng cỡ nào cũng không làm mẹ nó hạnh phúc. Hạnh phúc của mẹ nó ở cái câu “Con chúng mình” kìa.

Được. Nó sẽ cho mẹ nó thỏa nguyện. Nó kéo vạt áo chùi nước mắt và chạy mút vào đêm. Nó phải chạy thật nhanh. Nhanh hơn cái xe đạp đang chở mẹ nó.

Khuya. Đường vắng tanh vắng ngắt. Nhưng đêm vẫn cuồn cuộn những mảng đen. Nó nghe rõ tiếng xe đạp lụp phụp trên mặt đá sỏi. Chiếc xe đạp sắp kịp nó rồi. Một cuộc đua trong đêm. Nó chạy trước. Chiếc xe rượt phía sau. Một cuộc đua không cân sức. Bác ấy đã thắng. Đã chiếm được mẹ của nó. Nhưng chưa hẳn. Đích đến còn xa mà.

Nó sẽ đi đường tắt. Cái bánh xe đâu thể lội nước được. Cái chân nó biết lướt bùn vượt nước. Nó sẽ lội qua cái lung đầy đỉa. Kệ. Miễn sao nó về đến nhà nhanh nhất.

Đến mép lung đỉa nó thoáng chùn chân. Cái yếu bóng vía của con nít thoáng trỗi dậy. Nước tới háng. Bề ngang gần ba chục thước. Ban ngày nó không dám lội ngang vì sợ đỉa. Nhưng ban đêm nỗi sợ còn gấp bội. Bởi trong những lùm cây đen giữa lung kia biết đâu có những con rắn con rết thì sao. Nó ngước mắt lên trời. Ông trời ơi! Thương lấy chúng con với.

Nó dứt khoát bước xuống bùn. Nó đi thật nhanh. Nó càng đi nhanh thì những bùng nhùng cỏ lăn, bùng nhùng đêm cứ níu chân nó lại. Nó đã quyết rồi. Cỡ nào cũng phải bườn qua cái lung này.

Bờ đây rồi. Bờ lung cách nhà nó chừng hai chục mét.  Nó bưng đèn soi. Nó vuốt năm con đỉa trâu và mấy chùm đỉa mén ra khỏi chân. Nó xối nước cho sạch bùn. Nó thay lẹ bộ đồ. Thời gian đối với nó gấp gáp vô cùng. Tên nó là Vội. Lúc nào cũng sấp ngửa. Lúc nào cũng vội vàng.

Nó mở cánh tủ lôi ra cái hộp. Cái hộp có mười hai cái kẹo trắng. Mỗi cái kẹo là hai mươi đồng tiền xu. Tiền. Nó có cần tiền không. Cần chứ. Làm gì cũng phải có vốn liếng. Người biết tính toán chắt bóp một đồng vốn sẽ nở ra bốn đồng lời. Mấy hồi thành giàu có.

Nó lấy hai chiếc kẹo bỏ vào túi quần và đẩy cái hộp lại như cũ.

Nó lấy tờ giấy viết những dòng:

“Mẹ ơi! Chúng con đi đây. Mẹ an tâm sống với bác Phục và đẻ con cho bác ấy. Mẹ không phải lo cho con và thằng Vững. Mẹ cứ bảo là ba đón con về bên nội. Chúc mẹ hạnh phúc.”

Nó quệt ngang dòng nước mắt vừa chảy.

- Dậy Vững. Dậy Vững. - Nó lay em nó.

Mắt thằng Vững cứ nhắm nghiền. Miệng chóp chép như đang ăn kẹo kéo. Em nó đang say ngủ rồi. Được. Nó có cách của nó.

Nó lấy chiếc áo ấm rồi cứ thế lần lượt nâng em nó từng bên tay một mặc vào. Xong nó kéo em nó ngồi dậy ra sát mí giường. Nó đội cho em nó cái mũ vải mềm. Nó lấy chiếc khăn rằn choàng sau lưng em nó và cột múi khăn trước ngực nó. Tay nó bưng hai chân em nó. Nó cõng em nó ra khỏi nhà.

Đêm đen nhợ. Đêm dùng dằng của trăng đi sao ở. Đêm bủa xuống đất bịt bùng những lo âu. Đêm hung hãn đáng sợ. Đêm câu kết với gió xới bung những tấm giấy dầu sắp nóc nhà. Nó nhìn khắp phía. Lối nào cho chị em nó. Dường như phận số của chị em nó còn tệ hơn trái “chuối” và củ “khoai” trôi nổi trên dòng kênh. Từ biệt những trò chơi con nít. Nó phải làm người lớn từ đêm nay. Đêm hung hãn nữa cũng mặc. Nó không sợ đêm. Nó chỉ sợ nó mất nốt em. Nó sợ em nó đói, em nó khổ, em nó lạnh, em nó buồn. Nó sẽ làm mẹ làm chị làm ngọn đèn của em nó. Nó sẽ quạt mát ủ ấm em. Nó sẽ lao động kiếm tiền nuôi em ăn học tử tế. Nó sẽ kiếm tiền thật nhiều để mua nhà to cho em. Mắt nó ráo hoảnh. Nó không khóc nữa. Không ai thương thì chị em nó tự thương lấy nhau.

Nó xốc thằng Vững một lần nữa cho chắc. Nó tự tin cõng em nó rơi vào cái miệng khổng lồ của đêm.

Nguồn Văn nghệ số 14/2016

Hương ngô nếp bung... - Tản văn của Nguyễn Thùy Liên

Hương ngô nếp bung... - Tản văn của Nguyễn Thùy Liên

Đến nhà một người bạn quê ở một xã miền núi tỉnh Lai Châu trong dịp cuối tuần, tôi được mẹ bạn "thết đãi" món ngô nếp bung thật ấn tượng. Ngô nếp khô được đãi bỏ vỏ ngoài, cho vào hũ sành, chế nước, đậy nắp, rồi vùi trong lửa trấu khoảng nửa ngày.

Ảnh minh họa: Internet

Khi chuẩn bị đến bữa, mẹ bạn tôi gạt tro, mở nắp hũ. Ngô nếp bung chín nóng hổi, thơm nức khiến tôi ứa nước miếng. Món ngô nếp bung quả là ngon tuyệt! Từng hạt ngô không chỉ dẻo, ngọt mà còn có vị bùi bùi, khiến tôi ăn no mà vẫn muốn ăn thêm bát nữa…

Tôi lại nhớ ngày còn nhỏ, nhà tôi nghèo lắm, quanh năm ngày tháng gia đình tôi đều phải ăn cơm độn, khi thì khoai, sắn, lúc lại ngô bung. Món ngô bung luôn là món chủ đạo bởi ngô có thể trữ khô dùng để ăn dần trong suốt cả năm. Ngô mẹ tôi mang bung thường là ngô tẻ, hạt to, chứ không phải là ngô nếp, bởi trồng ngô nếp năng suất thấp. Sau khi thu hoạch ngô, mẹ tôi thường phơi khô và chứa trong những chiếc bồ để ở chái bếp. Hũ ngô bung nhà tôi thường chia đôi để độn kèm cơm hai bữa trong ngày. Thi thoảng, nếu không luộc khoai, hấp sắn để ăn sáng, thì bữa tối mẹ bung thêm nhiều ngô để sớm mai mấy anh chị em chúng tôi lót dạ trước khi tới trường. Có khi mẹ "đãi" cả nhà món ngô bung xào mỡ lợn thơm nức. Có lúc chúng tôi lại đòi mẹ cho ăn một bữa cơm trắng không độn ngô bung. Biết vậy, nhưng vì gạo nhà còn rất ít, nên mẹ chỉ dám độn ít ngô hơn mọi ngày thôi.

Món ngô bung đã theo tôi gần như suốt tuổi thơ nơi quê nhà nghèo khó. Bây giờ được thưởng thức món ngô nếp bung, tôi lại thêm nhớ về những ngày đầy khó khăn, thiếu đói, vất vả đó. Trong tôi bỗng thấy rưng rưng, tự nhủ lòng phải luôn cố gắng vượt qua khó khăn trong cuộc sống để phấn đấu vươn lên.

 

Nguồn QDND

Trang 9 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1019
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519057

20 141
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 480 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: