Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ

Nụ cười của Sophia - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thùy Linh

Nụ cười của Sophia - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thùy Linh

Con bé lai Tây về làng như một hiện tượng lạ chưa từng có. Bởi nó chẳng giống ai ở cái làng này từ già tới trẻ. Da nó trắng như lột, lấm tấm tàn nhang trên khuôn mặt ô van và nhất là đôi mắt xanh vắt như mắt mèo. Không định nghĩa được đó là xấu hay đẹp nhưng mà lạ. Tên nó là Sophia, cái tên hay và điệu quá mức độ làng, nên người ta cứ gọi là “con Sô Phì” cho dân dã.

Con Sô Phì về ở nhà cậu ruột trên khu đất bãi có một vườn chuối, một quầy vịt và một nhà chòi kiên cố che mưa nắng. Thấy bảo nó cũng có họ hàng xa bắn đại bác mới tới với nhà tôi. Tin Sô Phì sẽ về ở hẳn nhà gã Mập, ở hẳn cái làng nghèo róc xương này còn gây xôn xao và lạ lùng hơn cái khuôn mặt của nó. Mẹ tôi vừa xúc từng thuổng mắm tôm ra phơi cho giòn nắng vừa lẩm bẩm: “Tội nghiệp con nhỏ, tưởng Tây mà sang à? Con Mầm bỏ xứ lấy chồng mắt xanh tưởng được đổi đời, nào đâu lấy phải thằng nghiện, thằng Tây nghiện còn buôn ma túy bị bỏ tù à! Giờ mang con nhỏ về gửi thằng Mập nuôi rồi đi mần việc đâu ấy. Ôi chao đời tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa khô!”.

Tôi hiểu mẹ nói “vỏ dưa” ở đây là gì. Từ ngày còn bé xíu tôi đã ấn tượng bởi hình ảnh cô Mầm xinh đẹp, đôi mắt luôn mở tròn kiêu hãnh như muốn thu lại cả cái làng ọp ẹp và cặp môi cô cong lên trước những người đàn bà khóc thét vì bị đỉa bu kín chân. “Đây là cái làng mà đến hủi cũng còn chê!”. Tôi vẫn nhớ mãi những lời thốt ra từ cái miệng tròn duyên khó cưỡng ấy.

*

Vậy là gã Mập có người đỡ việc, hay là có thêm gánh nặng, không rõ nữa. Cơ mà chắc chắn cái nhà chòi của gã thêm hơi ấm. Gã đàn ông vâm váp trên cái bãi đất đơn điệu này nửa đời gắn phận mình với mùi vịt, mùi bùn nhão và mùi chuối chín lên hương. Gã không từng có ý định buộc mình vào những dây rợ của đàn bà.

Mẹ tôi vẫn bảo, trên đời mà đàn ông nào cũng như gã thì ắt những đứa con gái vừa tầm tầm vừa vụng thối như tôi sẽ ế chỏng chơ. Tôi nghe mà cảm giác như có một sa mạc đổ dài trong mắt. Kể ra con bé tôi thế nhưng cũng được cái sáng dạ mà. Tôi vẫn từng ngày nuôi khát khao cải hoán một điều gì đó trên cái mặt đất già cỗi này, nơi những người đàn bà không bao giờ biết son diện mà tóc vẫn đỏ quạch như nhuộm thuốc quanh năm, nơi ám ảnh tôi mỗi phút khi chứng kiến cảnh có ả khóc ngất trước mương khi moi từ trong cửa mình ra một con đỉa cụ.

Tôi không chán ghét nó giống cô Mầm thuở trước. Tôi chỉ ước có ai đó (hoặc là chính tôi) có thể xé toang tấm áo quá cũ kỹ mà không chịu rách này ném vào một cảnh giới hóa thạch nào đó. Và từ khi có gái lai Sô Phì về làng, khát vọng về những điều mới mẻ lại trào lên trong tôi như một dòng nham thạch nóng. Tôi lân la thân với nó dù lớn hơn cả chục tuổi với sứ mệnh bổ túc vốn tiếng Việt cho một đứa bập bẹ và đổi lại, nó cho tôi sáng láng hơn bởi thứ ngôn ngữ và văn hóa Tây đầy ma lực.

Khuôn mặt Sô Phì không hẳn đẹp với lốm đốm tàn nhang và cái mũi xương nhưng nó tựa bầu trời trong trẻo, có ánh sáng phát ra từ vầng trán nhỏ. Tôi mơ ánh sáng đó tỏa tràn sang mình và tất cả các gương mặt đã cũ, đã tối trong cái làng bé tí tẹo. Việc học tiếng Anh cho tôi nhiều thú vị, dù không dễ dàng gì với một con bé mới kinh qua bậc tiểu học. Tôi học theo đủ các thứ mẹo của một bộ não thích tiếp thu ánh sáng. “Yêu là lấm láp (love), ghét là hết (hate), bình minh là săn trai (sunrise)”...

Minh họa: Đào Quốc Huy.

Mùa dưa cam đem đến một cảm hứng ngòn ngọt giữa cái nóng hè bỏng rẫy, cả khi đó là cảm giác bắt tận tay tên trộm dưa liều mạng. Ban đầu tôi ác cảm khi biết hắn người làng bên. Làng Chày với làng tôi vốn ghét nhau không bao giờ quan hệ. Có tích từ thời các cụ, thời còn đói rặt, làng tôi có người mò sang làng Chày mần khoai. Củ khoai bé teo bằng ngón chân cái chưa kịp đưa vào miệng người đói thì dân làng hô hoán nhau ra bắt trộm.

Ai cũng đói, ai cũng thiếu, động vào miếng ăn của nhau là động tới tổ kiến lửa. Nhưng họ xử ác quá, người xấu số chưa kịp no ruột đã bị những sợi dây thừng thít chặt và ngọn lửa liếm tràn trên cái xác khô quanh lời chửi rủa. Mối thâm thù bắt đầu từ đó. Những đứa trẻ trong làng từ lúc có nhận thức đã bị gieo vào đầu những hằn học truyền kiếp. Hai cái trường làng kề nhau thường xuyên xảy ra ẩu đả. Bọn nhóc tì trong làng cà nhẳng cà nheo mà rất máu chiến.

Đã bao năm rồi từ thời cô Mầm mà bóng tối vẫn chưa siêu thoát được khỏi làng. Viên ngọc xanh Sophia của tôi lấp lánh yếu ớt trong những hoài mộng, nhưng tôi lo sợ nó rồi cũng sẽ như những thửa đất khô khát nước, hấp thụ những hận thù tăm tối một cách tự nhiên như bao con người đất bãi. Tôi không bao giờ muốn là một bản nháp của những hằn học truyền đời. Nghĩ vậy nên tôi hạ giọng trước hắn, nhưng không nén được vẻ khinh bỉ:

- Dưa ngọt nhỉ, bạn làng bên!

Gương mặt đen nhẻm của hắn không lộ gì vẻ sợ sệt, còn ngoác miệng cười tươi như hai nửa trái dưa mới bửa:

- Xin cô em một quả nhé! Tui phụ hồ bên kia háo quá tưởng cô bé này là chủ ruộng đánh liều ra xin, cô í gật đầu cái rụp. Hì hì… Dưa thơm nhất đất bãi!

Tôi nhìn Sô Phì và cái bản tính loài mèo lại trỗi dậy khiến tôi muốn cào vào cái vẻ ngây thơ của nó. Cái con bé bên tôi như hình với bóng lại làm thui chột phút sĩ diện và đắc thắng trong tôi ngay lập tức.

- Forgive him! Cho đi, một quả thôi, chị! Trông anh ta rất là mệt.

Con Sô Phì năn nỉ tôi, mặt nó hiền khô, cái mắt mèo lại xanh vắt giữa nắng chói chang. Sao cái gương mặt ấy lúc này giống đức mẹ Maria quá chừng. Còn tôi, chắc giống một con mèo đen đuốc đứng bất lực trước một con chuột to kềnh đang sung sướng gặm dưa. Xem như nó có lý, nhưng tôi thấy tự ái. Tôi vẫn ấm ức muốn gọi hắn là tên ăn trộm, vì người hắn mở miệng xin trước không phải là tôi. Nếu hắn mà ngoác cái miệng tươi rọi kia xin tôi chắc là tôi cũng cho ngay ấy chứ. Ăn trộm mà cũng có duyên. Nhìn hắn nói cười mà tôi mơ thấy viễn cảnh hai làng sẽ có ngày mở tiệc hòa, tôi sẽ không bao giờ để con cháu chúng tôi biết về mối thù truyền kiếp kia nữa.

Gần con bé Sophia chắc tôi chóng tu thành Phật. Đầu mương bên này tôi mê mẩn bắt cho đầy thau ốc kịp buổi chợ thì đầu bên kia nó thi nhau thả ốc ra xa. Bị tôi bắt được quả tang thì nó lại năn nỉ, cái mắt mèo xanh vắt là xanh mở tròn và một Maria đồng trinh sáng láng lại hiện lên. Tôi không thể nào giận được nó, ánh mắt biết thôi miên và bên nó tôi thấy mình cũng là một ngọn đèn.

Ngọn đèn của tôi bắt đầu xanh bấc, khi Sô Phì mang về cho tôi một túi khoai lang, bảo quà hắn gửi bù thiệt hại một trái dưa cam ấm ức của tôi. Khoai làng Chày to mầm, mật ở ruột khoai thơm tràn ra đến vỏ. Hai chị em tôi không chờ luộc bẻ vội một củ ra gặm sống. Khoai sống mà cũng ngọt và tươi như cái điệu cười ngoác miệng bên ruộng dưa vàng nắng. Sau buổi bắt trộm không thành ấy, tôi chính thức nhớ hắn. Và tôi khẽ run lên khi cảm nhận hắn cũng quan tâm đến tôi.

Mẹ tôi biết chuyện có gã làng bên gửi khoai thì giận dữ vứt túi khoai và miếng khoai hai đứa tôi đang cắn dở ra bãi gò. Hai tay mẹ thoăn thoắt mang từng mẹt mắm ra phơi giữa trời nắng đốt, giọng mẹ cũng gắt như cái mùi mắm lên hơi giữa trưa. “Chúng bay đi ăn của quân ác bá, nó bỏ bùa mê thuốc chuột vào thì hay hớm nhỉ! Các cụ ngày xưa ăn có mỗi cái rễ khoai của làng nó còn bị đốt xác đấy! Bay còn quan hệ với mấy thằng làng đó thì đừng có mà nhìn mặt tao!”.

Ôi, thù làng! Cái vị khoai ngọt mát trở nên đắng nghét trong cuống lưỡi. Mắt tôi loang loáng nước nhìn Sophia và mong nó đừng bao giờ hiểu hay có ý niệm về hai chữ thù làng. Viên ngọc xanh Sophia lấp lánh của tôi sẽ mãi trong như thế. Và những tình cảm ban sơ mới chớm trong tôi sẽ là những ngọn đèn ấm áp chứ không phải thứ lửa hận. Tôi nằm trong chòi canh mà mắt lim dim tương tư một kẻ trộm dưa, không, là một kẻ tới ăn dưa với cái miệng rộng tươi tắn như trái dưa bửa đôi sóng sánh nắng.

Đã lâu lắm rồi tôi mới gặp lại cô Mầm. Nếu mẹ tôi không chỉ trỏ “con Mầm đó” thì tôi sẽ không tài nào nhận ra được người đàn bà gương mặt đầy hốc, ổ xám xanh kia từng là đóa hoa tươi vùng đất bãi. Hai mẹ con cô mếu máo chạy theo chiếc xe thùng màu xanh lại chở một người thân đi mất. “Cái số đâu mà người nhà vướng vào tù tội không à!”.

Dân làng cũng túm tụm chạy theo cái xe thần chết đến khi nó mất hút khỏi không gian toàn đất bụi này. Không ai có thể tưởng tượng được người ngồi trèo nghẻo trên xe kia là gã Mập, gã đàn ông mộc mạc cả đời chỉ biết có vịt làm tri kỷ, lấy tiếng “cạc cạc” làm tâm giao. Gã lỡ đánh chết thằng trộm vịt làng bên trong một đêm mưa rầm rĩ. Con Sô Phì đội trời mưa chạy theo cậu nó trong những lằn chớp sáng lóa. Những con vịt nháo nhác thoát ra khỏi hai bàn tay buông thõng đã không còn sức bóp chặt những cái cổ dài.

- Quân giết người!

- Quân trộm đạo!

- Quân máu lạnh!

- Quân tắt mắt!

Những tiếng thét rít lên trong gió kèm theo luồng khí nóng sực, tôi biết một cuộc chiến tranh thu nhỏ giữa hai làng bắt đầu nổ ra. Thanh niên làng vác gậy vừa chạy vừa hô hoán. Tôi cũng hớt hải chạy theo vì nghĩ đến hắn. Và khi thấy hắn cũng thấp thoáng trong đám đông hỗn loạn thì lòng tôi nhen lên một ngọn lửa ấm vì nghĩ rằng hắn cũng lo cho tôi mới chạy ra đây, giống tôi. Những đá hộc, những gậy gộc và chửi rủa giao tranh giữa hai làng khiến cái nắng như muốn nổ tung. Tôi vẫn đưa mắt kiếm tìm hắn trong cơn hoảng loạn. Nhưng tôi bắt gặp ánh mắt hắn đầy tha thiết và lo âu hướng về con bé dáng hình nhỏ nhắn đang lao đến như một mũi tên với hai tay bắt chéo nhau trước ngực.

- Stop! No war! Đừng đánh nữa!

Trời đất, con bé mắt mèo của tôi. Nó gan đến không thể tả được. Cái hòn đá không có mắt đã đáp trúng đầu Sophia. Tôi chen được tới chỗ thiên thần nhỏ của tôi thì sững lại vì nó đã gọn trong vòng tay của hắn. Hai bên giao chiến đều ngừng tay xúm lại quanh con bé có gương mặt kỳ lạ và cuốn hút như một Maria ánh sáng. Máu tươi trên trán nó tràn vào tay hắn. Hắn vội vã nhai lá chuối tươi rồi cẩn trọng đắp lên vết thương của nó và cái miệng rộng của hắn vừa gào vừa mếu:

- Không đánh nhau nữa! Các người ngừng ngay đi nếu không muốn bất cứ một sinh mệnh nào nữa phải chết!

Có những tiếng xì xào trong gió nóng:

- Đưa nó đi trạm xá ngay!

- Đánh đấm thì người cũng đâu có sống lại được!

- Thôi hòa nhé!

- Hòa nhé!

-…

Tôi như kẻ say nắng gắng mãi mới thốt được tiếng lí nhí và nắm chặt lấy bàn tay sũng mồ hôi của Sophia:

- Cố lên em, hòa rồi! Không đánh nhau nữa…

Đôi mắt mèo không mở to nhìn tôi được nhưng cái màu xanh vắt, màu xanh lạ kỳ khiến người ta cảm thấy yên bình khi nhìn vào ấy vẫn le lói sáng.

- Hòa, chị nhỉ!

Tôi thở dài mà thấy lòng nhẹ nhõm hơn. Tôi chạy theo hắn đưa Sophia lên trạm xá. Ánh mắt ấy, cử chỉ ấy, chu toàn ấy… đều dành cho Sophia bé bỏng của tôi. Con bé ngả đầu trên vai hắn cố hé nhìn tôi nở nụ cười rồi nhắm nghiền mắt lại. Có một sa mạc đổ dài trong mắt tôi, hay sa mạc từ chính nụ cười bỏng rát ấy.

 

Nguồn Vnca.cnnd

Nhà văn Phùng Văn Khai và truyện ngắn "Hồn Quỳnh"

Nhà văn Phùng Văn Khai và truyện ngắn

Truyện ngắn Hồn quỳnh được viết trong mấy ngày Tết Nguyên đán cách đây khoảng mười năm. Viết một mạch là xong. Hầu như tôi cũng chẳng sửa chữa gì. Truyện khi in ra rất nhiều người gọi điện chúc mừng, đại ý là thích cái giọng văn của truyện. Tôi băn khoăn mãi. Truyện ngắn khó - dễ, thành - bại nằm ở đường tơ kẽ tóc mà giọng văn đôi khi cũng có tính quyết định của nó. Lại đến mươi năm tôi ít viết truyện ngắn, lùi lại, nhẩm đọc những truyện đã viết của mình, thấy nhiều cái cũng sơ sài, ọp ẹp. Được vài cái trụ được chẳng qua là có cốt truyện vững mà thôi. Mới thấy đời văn thăm thẳm, càng đi càng thấy phía trước hút hắt, vô định. Nhưng rất đẹp. Đẹp trong sự bi tráng của cuộc sống lẫm liệt luôn dẫn dụ ngòi bút. Đó cũng là thông điệp của Hồn quỳnh.
Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI


Những năm cuối triều nhà Nguyễn, vùng đất cổ thuộc lộ Hải Đông cũ giặc giã nổi lên quấy nhiễu quan dân rất phiền phức. Quan tổng trấn vốn là một bậc túc nho có tiếng cơ trí mà luôn mấy năm mất ăn mất ngủ không sao dẹp yên được bọn cướp. Đồn rằng kẻ cầm đầu đám giặc loạn là một cô gái cực kì xinh đẹp tài trí hơn người cùng đám lâu la của y thị mưu mẹo khôn ngoan cứ ngang nhiên bỡn cợt quân của triều đình và quý quốc mà không ai làm gì nổi. Truyền rằng đảng cướp ngự trên một chiếc lâu thuyền cực lớn luôn ẩn hiện chập chờn nơi cửa sông đổ ra bể lau lách um sùm, cây cối rậm rạp mà lính triều đình mới nhìn thôi đã ớn lạnh. Thao lược hơn người mà Phạm Đa Biền, quan đầu trấn chưa nghĩ ra phương cách gì trị nổi bọn cướp. Một hôm, ngài cho mời Phùng Chấn Sơn, người bạn học từ nhỏ tới đàm đạo. Chấn Sơn là người gốc xứ Tuyên, học cực giỏi nhưng không thi cử gì, có tài văn võ sống nhàn dật nay đây mai đó thường kết giao với các anh tài trong thiên hạ. Phạm quan dặn nhỏ đứa gia nhân mấy câu. Người gia nhân xuôi thuyền về nếp đình cổ cuối cửa sông y như rằng Phùng Chấn Sơn đang đọ cờ với cụ thủ từ. Tên gia nhân tiến tới thi lễ rồi dâng thư mời, họ Phùng chỉ cầm không mở. Ván cờ đang vào hồi gay cấn. Bên quân trắng của họ Phùng dần dần núng thế trước nước cờ lạ của cụ thủ từ đang bí bách bỗng đâu tên gia nhân sốt ruột lên tiếng: “Hồi pháo chém tượng cờ hòa”. Họ Phùng à lên một tiếng nhìn tên gia nhân thích thú: “Không ngờ gia nhân của Phạm huynh lại biết cờ sâu xa là vậy”, rồi nhìn sang cụ thủ từ: “Tôi đi nước ấy cụ có cho hoà không?”. Cụ thủ từ liền cười: “Đã đi được nước cờ ấy là bậc đại kì rồi. Lão xin bái phục”, đoạn gọi với vào trong: “Quỳnh nhi, con mang trà ra mời khách”.

Đặt quân cờ xuống Chấn Sơn mới ngó sang thư mời của quan tổng trấn xem qua rồi bảo: “Ngươi về bẩm với Phạm huynh phải cuối tuần trăng này ta mới đến ngài được vì còn đang dở một việc”. Viên gia nhân cúi đầu lĩnh ý vừa lúc một cô gái bê khay trà ra. Khi ngẩng lên, viên gia nhân sững sờ trước vẻ đẹp thanh khiết và mộc mạc của cô gái. Cô gái thẹn thùng nhìn xuống đặt khay trà nói nhỏ, giọng trong ấm lạ lùng: “Thưa ông, con đã pha trà quỳnh. Con vào làm cơm ông à”. “Ừ, cụ thủ từ lại cười. Tiên sinh đây ưa thích trà quỳnh, con làm cả cơm gia nhân quan tổng trấn, có khi cho trước ra đây bình rượu cúc”. Cô gái quay gót vào trong mà hai người khách còn ngơ ngẩn, vân vi và từ đâu một mùi hương quỳnh khẽ lan, khẽ lan rồi dậy lên quấn quýt. Không biết hương sinh ra từ bình trà hay từ người con gái trang nhã cháu cụ thủ từ hay là cả hai đã khiến tiên sinh họ Phùng và gã gia nhân cùng lúc thốt lên: “Cụ ban cho chung trà ngon quá!”. Cụ thủ từ nhỏ nhẹ: “Thì vẫn trà tiên sinh gửi biếu hồi đầu năm đấy thôi, chỉ thêm chút hương quỳnh. Có lẽ do các ngài phấn chấn mà cảm ra ngon cũng nên”. Tên gia nhân trẻ tuổi đỡ lời: “Con hầu trà cụ tổng cũng nhiều nay mới được biết đến trà ngon nhường này”. “Ừ, chiều anh về để ta bảo Tiểu Quỳnh gói trà biếu lên quan tổng”. “Ấy chết, ai lại...”. “Có gì đâu, ta với cụ thân sinh ra ngài còn là chỗ đồng liêu”. “Hả, ra là cụ...”. Tên gia nhân định thưa thốt gì thêm bỗng lúng túng khi cô gái đã mang bình rượu cúc và lại một mùi ngan ngát hương quỳnh phập phồng đôi vai thiếu nữ. Thiếu nữ nói giọng ấm vững như khánh ngân: “Ông à, con đem bình tiểu cúc, như là mai gió bấc về”. “Ừ, tiện thể con gói biếu ngài quan tổng ít trà quỳnh, nếu còn hắc quỳnh thì tốt”. “Hắc quỳnh còn có một ấm nhỏ thôi ông”. “Cứ biếu ngài đi. Sang năm nhuận có khi ta lại có hắc quỳnh. Rồi con lên làm cơm cho sớm ngài đây còn về”. Cô gái khẽ vâng rồi nhanh nhẹn đi ra phía sau nhà. Cô đi một lát thì mùi hương như nhạt đi. Cụ thủ từ châm rượu ra chén gỗ bảo hai người khách: “Mời các vị dùng chén rượu cho ấm bụng. Mai gió bấc về đấy. Cũng đã sang đông được nửa tuần trăng còn gì”. Hai người khách nâng chén lên ngang mày hướng mặt về phía cụ từ. Mùi hương cúc nồng nồng cay cay ấm sực phủ một sắc hồng lên hai khuôn mặt khôi ngô.
Hoàng hôn dần buông nơi cửa sông. Sau mấy tuần rượu, tên gia nhân xin bái biệt cụ thủ từ và Phùng Chấn Sơn. Cụ thủ từ nét mặt như đã chuyển hẳn sang cõi thiền vi vô khẽ gật đầu đến khi tên gia nhân lẫn hút nơi triền sông mới châm thêm một chén rượu cúc miệng lẩm nhẩm: “Nước cờ lạ, thuần hậu, giản phác, uyển vị, nước nhà cần lắm những con người thế này”. Hai người đàn ông chìm trong hơi sương chiều. Phía triền sông, tiếng cuốc kêu khắc khoải.
*
*      *
Tên gia nhân nhẹ nhàng rút chiếc ván ghếch chèo nhằm hướng dinh quan tổng trấn trực chỉ. Chiều chạng vạng, dòng sông mở rộng ra hun hút. Hẳn tên gia nhân võ nghệ cũng khá và thạo việc sông nước nên chiếc thuyền nan rẽ sóng rất nhanh. Vừa ruổi chèo vượt qua một lùm cây sát mép nước vừa hồi nhớ mùi hương và giọng nói như khánh ngân của cô gái cháu cụ thủ từ tên gia nhân bất giác thấy thuyền hơi tròng trành vội ngoái người ra phía sau đã thấy lành lạnh nơi cổ. Một người nhỏ nhắn quần áo nâu bịt mặt gí kiếm vào cổ tên gia nhân giọng lành lạnh: “Ngừng chèo lại. Ta có chuyện hỏi mi?”. Tên gia nhân giả bộ lúng túng rồi nhanh như chớp ngửa người ra phía sau tránh mũi kiếm đồng thời quét ngược một ngọn cước vào chân trụ của kẻ áo nâu vừa quát thị uy: “Phường đạo tặc to gan dám khống chế ta ư? Có giỏi hãy đàng hoàng giao đấu”. Kẻ kia không phải tay vừa, y vừa đảo chân tránh ngọn cước hiểm vừa sấn kiếm truy bức tên gia nhân còn mắng: “Bản lĩnh như ngươi mà đòi giao đấu với ta ư? Đồ chó chết bám gót lang sa hại dân hại nước các ngươi nghe đây. Về bảo với chủ ngươi. Còn manh tâm truy sát người yêu nước mà các ngươi mưu mô đổ là giặc cướp và động đến bà chúa của chúng ta thì hãy liệu thần hồn”. Lời chưa dứt ánh kiếm đã lóa lên xoẹt xoẹt khiến tên gia nhân kinh hoàng ngã rạp xuống lòng thuyền bóng áo nâu đã tung người nhảy lên bờ lau lách ùm sùm biến mất như một ảo ảnh. Định thần nhìn lên ngực áo đã bị khoét một mảng lớn phía trái, tên gia nhân rúng động tâm can. Nhát kiếm thị uy đi cực khéo không động đến da thịt nhưng cắt vừa khít một hình cầu tròn vành vạnh khiến tên gia nhân càng ngắm càng hãi sợ bản lĩnh kiếm pháp của người bịt mặt. Rồi gã dần tĩnh trí trở lại mải miết bơi thuyền ra giữa sông không dám lảng vảng sát bờ như trước nữa. Con thuyền như một chấm đen nhấp nhô lẫn hút trong sương lạnh chiều chạng vạng nơi cửa sông.
*
*      *
Quan tổng trấn nghe thuật lại toàn bộ sự việc trên sông, xem xét kĩ lưỡng đường kiếm hiểm cứa trên ngực tên gia nhân, ngài trầm ngâm lắm. Đi theo ngài từ nhỏ, quan tổng trấn quá rõ tâm đức và tài nghệ của người gia nhân trẻ đồng thời cũng là vệ sĩ trung thành của ông. Ông nhắc khẽ: “Nào, ta hãy thưởng trà hắc quỳnh xua cái ánh kiếm kia đi. Nhưng sao con khẳng định đó là con gái?”. “Con căn cứ vào bộ pháp và đôi mắt. Bẩm quan ông. Y thị chắc chắn phải là một cao thủ, là bộ tướng của con cọp cái kia rồi”. Tên gia nhân vừa thong thả ủ trà vừa đĩnh đạc thưa với vị tổng trấn. Vị tổng trấn vuốt vuốt chòm râu chữ đinh chậm rãi đón chén trà nóng quấn quýt hương quỳnh từ tay thuộc hạ khẽ mỉm cười trước sự ca ngợi tên cướp thái quá của thủ túc đoạn bảo: “Cha ta một đời bái phục tài phiêu du sành nhã uyên thâm của cụ thủ từ. Không hiểu sao, người tài trong thiên hạ phần lớn chỉ ưa thích tiêu sái gió trăng. Hay ta cũng nên từ quan gác kiếm quy ẩn chăng?”. “Bẩm quan ông - Tên gia nhân mạnh dạn - Con trộm nghĩ người như quan ông mà từ nhiệm hẳn thiên hạ còn nhiễu loạn hơn, bọn ô bẩn tham lam mà ngồi vào vị trí của quan ông thì càng loạn lạc điêu linh. Vả chăng, hoàng thượng đâu chịu để quan ông ra đi như thế. Quan ông có còn nhớ...”. Viên tổng trấn càng đăm chiêu quan hoài vê chòm râu muối tiêu trầm giọng: “Triều đình có cái khó của triều đình. Có loạn lạc mới rõ tôi trung - Ngài xá tay cung kính - Hoàng thượng đã yêu ta ta đâu dám lơ là trọng trách. Hiềm nỗi, dân ngày càng điêu háo, lũ ô trọc thì vơ vét, thớ lợ, ranh ma lừa dưới dối trên. Đã mấy năm nay, lòng ta lúc nào cũng như có lửa, càng dập càng cháy...”.
Người gia nhân trẻ thấy chủ tướng trắc ẩn bất giác y tự giận mình tài nghệ còn thấp để xảy ra chuyện khống chế dọa nạt của lũ giặc cướp cúi đầu nhìn sâu mãi vào lòng chén trà. Hương quỳnh như càng da diết cứa thêm vào lòng hai người những u uẩn của thời thế riêng chung.
*
*      *
Phùng Chấn Sơn y hẹn xuất hiện tại tư dinh quan tổng trấn vào cuối tuần trăng. Hôm ấy gió bấc kéo về cũng đã nhạt và đến gần giữa đêm thì lòng giời đã mở ra một chút trăng suông. Chấn Sơn vóc người tầm thước, mi thanh, mục tú đĩnh đạc hơn người vốn là chỗ bạn học của quan tổng trấn nên bọn gia nhân rất thuộc nết ăn ở của ông. Lệnh cho gia nhân dẫn người bạn hiền đi chỉnh sửa áo quần, mặt mũi xong đã thấy quan tổng trấn ăn mặc chỉnh tề ngồi bộ tràng kỉ nơi thư phòng. Từ nhà dưới bước qua cái sân gạch rộng, qua hàng hiên gỗ, họ Phùng đã thấy thấp thoáng quan ngài ở phía trong liền lên tiếng: “Xin kính chào hiền huynh, tiểu đệ lâu ngày không tới được hiền huynh, thật là đắc tội”. Quan tổng trấn vội đứng dậy tiến đến ôm người khách bảo: “Sơn đệ, Sơn đệ lại thế rồi. Ta có việc mới mạo muội tìm đệ về. Mong đệ hiểu cho ta”. Hai người ngồi đối diện. Ngọn bạch lạp được lũ gia nhân khơi lên cháy bình thản. Tự tay nâng bình rượu cúc chế ra chén gỗ quan tổng trấn tươi cười: “Chén rượu tẩy trần này, xin chúc Sơn đệ bằng an, một đời gió núi mây hồ, sớm gặp mĩ nhân nâng khăn sửa túi”. Người khách xúc động nâng cao chén rượu trân trọng: “Đệ cũng xin được chúc hiền huynh bằng an, mạnh giỏi, cơ trí như thần, vỗ về dân chúng, không phụ ơn vua tin dùng”. Hai chén rượu gỗ cứ thế nâng lên hạ xuống độ dăm tuần người khách như có chút men nói năng phóng khoáng, quan tổng trấn luôn cười ha hả lộ vẻ cực vui. Bình rượu cúc càng uống càng nồng nét hương. Ngoài trời sương đã buông mờ mờ quấn cả vào thư phòng. Ngọn bạch lạp dường như cũng phấn khích bập bùng tỏa rạng. Cả hai cùng say chuyện đến nỗi tên gia nhân bưng lên một con gà chọi hấp muối đặt lên bàn cùng bát muối tiêu định thoái lui người khách mới ý nhị nhìn quan tổng trấn buột miệng: “Cậu này, cậu này được đó quan anh, cầm kì thi họa cũng có nghề có ngọn lắm”. “Ừ, ừ - Quan tổng trấn trỏ vào gã gia nhân trầm giọng - Nó cũng là người có chí khí, ngặt nỗi sinh bất phùng thời. Mà này. Lấy ra thêm một bình hắc cúc rồi ở lại cùng ta hầu rượu tiên sinh. Tiên sinh trà, tửu đều cao tay lắm đấy”. “Bẩm quan ông. Con xin vâng ạ”, đoạn lanh lẹn bưng ra một bình gốm đen tuyền châm ra mấy chén gỗ cung kính. “Bẩm quan ông, thưa tiên sinh, xin mời thưởng hắc cúc. Chắc là có chuyện lớn quan ông mới cho dùng loại này”. Quan tổng trấn ha hả cười lớn nhìn gã gia nhân: “Thế là khá, đã dần hiểu được bụng ta”.
*
*      *
Nhận lời với quan tổng trấn điều tra hoạt động của toán cướp Hải Đông, đám cướp dám lấy cả tên một vùng đất đặt cho nhóm băng đảng của mình hẳn chí khí của bọn cướp không phải loại xoàng. Lại nghe đồn tên cầm đầu là một thiếu nữ cực kì xinh đẹp thì họ Phùng bất giác mỉm cười, khen thay miệng lưỡi thế gian thêu dệt hư thực ra sao chưa biết nhưng hẳn nhiên đã là nữ tặc thì cả quan cả dân ngoài trọng trách nghĩa vụ trong lòng còn tò mò muốn làm rõ thực hư. Xem xét kĩ lưỡng đường kiếm hiểm lưu trên ngực áo gã gia nhân, Chấn Sơn buột miệng khen thầm: “Kiếm pháp người này quả là ảo diệu khôn lường. Đây hẳn là chiêu quái kiếm dòng kiếm cổ tưởng đã thất truyền. Này Phạm An, họ Phùng thân mật gọi tên tục của gã gia nhân, ngươi thấy bộ pháp người đó uyển chuyển lắm phải không?”. Gã gia nhân nhìn thẳng vào đôi mắt tinh anh của người khách chậm rãi: “Dạ, bẩm tiên sinh, bộ pháp vi diệu lắm, phi thân xuống thuyền nhẹ như lá rụng, kiếm kề cổ mà thuyền không động đậy. Quả là phi phàm”. “Ngươi, ngươi cũng khá về võ nghệ cơ mà. Sao không thử vài chiêu xem sao?”. “Dạ bẩm tiên sinh, ngay từ đầu con đã bị động. Lại không thấy đôi mắt người kia có ý ác nên không dám manh động, sợ quan tổng trấn ngài giận”. “Ừ, ừ, thế cũng hay, quan ngài cho ngươi đi cùng ta chuyến này là cũng có ý tứ riêng, ngươi cẩn trọng, nhu mì, nhẫn nhịn thế là tốt. Làm việc lớn, có khi phải nhịn nhục cả lũ đàn bà”.
Minh họa: Đào Quốc Huy

Thuyền xuôi ra phía ngã ba sông. Tiết trời tháng Chạp rét ngọt càng cứa vào tâm sự hai người. Hai bên bờ sông không bóng thuyền chài, dân tình mấy năm nay đói kém cùng cực. Đám cướp xuất hiện vào đúng năm giặc Tây nổ súng tấn công cửa Hàn, hôm súng ngoại bang nổ vào máu thịt đồng bào, quan tổng trấn cho tìm Chấn Sơn. Hai người đêm ấy uống cạn mười bình rượu cúc. Rồi Chấn Sơn rũ tay áo ra đi. Hai người không ai nói gì nhưng từ lâu đã quá hiểu nhau. Ngầm ý của quan tổng trấn muốn nhắc Chấn Sơn đừng manh động vào Đà Nẵng lúc này vì ý của triều đình còn chưa rõ. Phe chủ chiến vẫn mạnh thế lắm và mấy vị đại thần bè bạn của ông hẳn nếu còn sống dưới gầm trời này sẽ chẳng bao giờ để quân cướp nước yên thân. Chuyện còn chưa rõ ngô khoai thì liền đó chính quan ông cũng đang khốn khó với bọn cướp nơi trấn nhậm. Càng nghĩ, Chấn Sơn càng thấy khó cho cái thế lưỡng nan hai đầu thọ địch của quan tổng trấn. Nếu ở thời thế khác, hẳn nhiên đây là một bậc quan hiền để dân chúng cậy trông. Càng nghĩ, họ Phùng càng giận bọn cướp quấy quả mấy năm nay. Đã không biết an phận lại còn đứng làm tà đạo giữa lúc việc nước việc dân rối như canh hẹ thử hỏi thiên lương của chúng ở đâu. Chao ôi! Ta chỉ những muốn giáp mặt viên đầu lĩnh mà biện bác cho ra lẽ thì hay biết mấy. Nghĩ đến đấy, họ Phùng luôn miệng thở dài nhìn ra dòng sông đang trôi vô định tận chân trời.
Con thuyền mỏng cứ bập bềnh trôi giữa vùng trời nước mênh mông đã mấy đêm ngày nơi cửa sông mọi người vẫn đồn thỉnh thoảng thuyền của toán cướp Hải Đông xuất hiện. Cả hai bên mui thuyền họ Phùng đều tự tay viết hai dòng chữ Nôm bằng sơn ta rắn rỏi: “Phùng Chấn Sơn xin gặp đầu lĩnh lộ Hải Đông”, họ Phùng đã nhún mình không đề thêm chữ cướp vào cho nó có hòa khí mà đã dăm đêm ngày lênh đênh không một bóng người. Đã thế hôm qua quan tổng trấn còn cho chim thư đưa đến báo việc toán cướp Hải Đông vừa táo gan cướp sạch toàn bộ quân lương của triều đình đưa đến rồi bọn giải lương của triều đình còn lu loa lếu láo khai khống gấp ba bốn lần lại còn đổ cho ngài không tròn phận sự trấn nhậm đến nỗi giặc cướp giỡn mặt cả triều đình làm ngài đang phải ứng phó mấy hôm nay. Ngài còn than với người bạn học hiện phe chủ chiến ở triều đình cũng năm đường bảy mối và cái họa ngoại xâm là không tránh khỏi vì chính nạn nội xâm cực kì hung hiểm đang lộng hành trong khi máu đồng bào quân sĩ trung trinh vẫn đêm ngày đổ xuống mới là cái ngài lo sợ nhất còn như toán cướp chẳng qua túng vụng làm càn xin được giao cho hiền đệ tùy cơ khuyên giải. Chao ôi! Đọc đến đây Chấn Sơn càng ngao ngán bời bời càng thở dài sườn sượt nhìn sang tên gia nhân vẫn cúi đầu đợi lệnh lòng ông bỗng dấy lên muôn sự quan hoài bèn bảo: “Ngươi cho chim về đi. Thư từ làm gì cho quan ngài thêm rối trí. Quanh quẩn đêm nay thế nào cũng gặp bọn chúng. Ta đã bấm quẻ ứng điềm ấy rồi”. Người trẻ tuổi không nói gì vỗ vỗ vào lưng chú chim câu. Con chim chớp chớp mắt nhìn hai người rồi tung cánh sải vào lòng trời xám càng gieo thêm một mối ngẫm ngợi vào hai người sơ mảnh cùng con thuyền giữa ngã ba sông.
*
*      *
Trăng hạ huyền mảnh lạnh đẫm khói sương kéo một vệt chếch tận đỉnh giời leo lét rót xuống vài tia mờ mờ. Khoang thuyền ắng lặng nghe rõ cả tiếng nến sôi rí rách họa cùng tiếng sóng lóc bóc phía mạn ngoài tạo ra một âm sắc thê lương. Thi thoảng, tiếng quạ kêu sương rởn óc vẳng lên rồi chìm mất hút trong màn nước sông sậm sịt. Đã khoảng canh ba. Người trẻ tuổi đã ba lần khơi nến lặng nhìn tiên sinh họ Phùng ngồi bất động phía góc thuyền. Vừa lúc khơi thêm ngọn nến thứ tư tiên sinh khẽ thốt lên: “Họ đến đấy!” cùng lúc thuyền khẽ động đậy, ngọn nến chao nghiêng rồi lại ấn vững như thường. Tiên sinh họ Phùng đĩnh đạc bảo gã gia nhân: “Ngươi ra mời khách vào đi!”. Gã gia nhân định thần vừa phục tài thính lực của tiên sinh chưa kịp bước ra thì đã một tiếng người vọng vào, đúng tiếng người hôm trước đã mắng mỏ khống chế y trên chiếc thuyền hôm đi mời Chấn Sơn. “Chủ tướng cho mời tiên sinh sang lâu thuyền đàm đạo. Xin kính mời tiên sinh!”. Họ Phùng mỉm cười sửa áo quần đứng lên vừa bảo: “Cho cả anh bạn trẻ này đi cùng, cũng là hào kiệt cả đấy”. Không thấy tiếng đáp, chỉ một tấm ván lót vải điều ở đâu đậu xuống cửa chiếc thuyền nan không một tiếng động. Họ Phùng bảo gã gia nhân: “Họ đồng ý rồi đấy, ngươi cứ đi theo ta”. Hai người dắt nhau đi hun hút trên tấm ván nhỏ như khói sương giữa lòng sông. Trước mặt dần dần hiện lên chiếc lâu thuyền hư ảo ngự giữa sông bốn bề sương khói, không một tiếng động, không lộ chút ánh sáng đèn nến nào cả. Chàng trai trẻ đi sau bất giác rùng mình làm tấm ván khẽ chao động, tiên sinh họ Phùng nhắc: “Ngươi cẩn thận, tâm trí cho an tĩnh mà đón nhận lời mời, đừng sợ”. Cánh cửa lâu thuyền mở ra đón hai người khách rồi khép lại ngay. Trong thuyền đèn nến sáng trưng, nội thất bài trí cực kì tao nhã. Bình tĩnh nhìn khắp một lượt thấy hai thiếu nữ tươi như hoa đứng cạnh một chiếc ghế trúc xinh xắn. Người ngồi trong ghế là một phụ nữ trẻ dáng điệu đoan trang khẽ đứng dậy cúi đầu chào khách vừa nói: “Xin cảm ơn tiên sinh và cậu đã nhận lời mời. Thật lòng xin cảm ơn tiên sinh”. Hai chiếc ghế trúc như từ đáy thuyền hiện lên theo bàn tay ra hiệu của bà chúa thuyền. Một người nho nhã như họ Phùng đã sớm nhận ra chiếc ghế của mình nhô cao hơn và gần với bà chúa thuyền hơn. Một con người phép tắc lễ nghi dường này mà đi làm cướp ư? Lòng còn đang thắc mắc thì bất giác cả hai thầy trò khẽ nhìn nhau ngầm bảo ơ hay sao lại có mùi hương quỳnh ở đây được nhỉ. Mùi hương quấn quýt, xoắn bện ngầm lan tỏa rồi như vây lấy hai người. Như hiểu được thắc mắc của khách, miệng hoa khẽ mở, tiếng ngân nga như tiếng khánh: “Tôi vốn ưa thích trà quỳnh, xin mời các vị dùng chung trà quê”. Cả hai người khách như cùng lúc trút được mối nghi ngờ. Hai tách trà do hai tiểu nữ như mọc ra ngay bên cạnh. Thong thả nhấp một ngụm, tiên sinh họ Phùng lên tiếng: “Xin cảm ơn...”. Nói đến đây Chấn Sơn hơi lúng túng không biết xưng hô thế nào cho phải phép đã thấy người đẹp đỡ lời: “Xin tiên sinh cứ gọi ta là Tiểu Quỳnh”. Chấn Sơn đã tự nhiên hơn, phấn chấn: “Xin cảm ơn Quỳnh muội. Trà ngon quá. Hẳn Quỳnh muội rất sành trà đạo”. “Trà quê ấy mà tiên sinh. Loạn lạc mấy năm nay ta cũng không dám để tâm lắm vào chuyện thưởng trà. Có gì xin tiên sinh cứ dạy”. Chấn Sơn nhìn kĩ người đẹp phía trước chịu không đoán nổi tuổi vì nàng đã hóa trang cực kì kĩ lưỡng. Vóc người tuy trẻ song khuôn mặt tươi mát mà vẫn thâm trầm ẩn chứa sự từng trải và cách nói cực thông minh biện bác của nàng. Đúng! Đã thời loạn lạc lại để tâm vào mấy thứ trà, rượu còn ra làm sao. Ông hiểu ngay đó là câu khai chuyện cũng là chiếu tướng mình bèn tươi cười nói: “Xin Quỳnh muội xá cho ta đã lạm bàn chuyện không đâu. Xin thưa thẳng với muội ta tìm gặp muội gửi lời ngài tổng trấn thăm hỏi cùng một số ý của quan ngài nếu muội thích ta sẽ cùng đàm đạo. Ý muội thế nào?”. Người đẹp lắng nghe mặt không lộ vẻ gì suy nghĩ, mắt vẫn nhìn thẳng người đối diện rồi bất giác khẽ thở dài nhỏ nhẹ: “Tiên sinh dạy quá rồi. Cũng phải biết trà biết rượu chứ. Nhưng ta là phận nữ nhi ham muốn sao tiện. Vả chăng, vả chăng đời còn bao nhiêu đại sự. Mời tiên sinh dùng đôi chén rượu tẩy trần”. Hai chén rượu gỗ hương hắc cúc thoảng đến gây nên biết mấy tâm tư của hai vị khách. Thế này nghĩa là không có cái gì Tiểu Quỳnh không biết. Còn biết cả sở thích, sở trường, sở đoản của quan tổng trấn, của ngài đến thế thì thương thuyết khuyên răn cái nỗi gì. Như đoán được tâm tư của Chấn Sơn, người đẹp lại mở lời: “Thưa tiên sinh. Hay ta bày ra đây một cuộc cờ để đôi trẻ tỉ thí còn ta từ đó mà biện luận vào công việc chăng? Có khi thế là ta tự đi đường vòng mà lại hóa thẳng cũng nên. Gia tướng của ta cũng biết cờ đấy”. Chấn Sơn đắc ý: “Xin chiều Quỳnh muội. Muội quả là thấu hiểu ý ta. Chắc ta không phải là địch thủ của muội trên bàn cờ rồi. Muội cũng biết là Phạn An đây sành cờ ư. Xin bái phục. Xin bái phục”.

Bàn cờ gỗ mun đen tuyền được đưa ra. Những quân cờ ngà xinh gọn trang nghiêm trên lòng gỗ thẳng thớm đẩy ra một không khí thâm trầm kì lạ. Từ đầu, Phạm An chưa nói một tiếng nào và giờ đây đối diện với tên gia nhân chính là cô gái rất xinh đã cầm kiếm kề vào cổ mình bữa nọ, bất giác trong lòng họ Phạm nảy nở mối thiện cảm vô bờ trước tài sắc của địch thủ. Kiếm pháp đã hơn đứt ta nay cuộc cờ mà thắng ta nữa thì còn mặt mũi nào đây. Mới thấy ở đời bể học vô cùng tận, việc luyện rèn càng không nên phút nào sao nhãng còn chưa đến đâu và cái đức tự học của quan tổng quả là đáng làm gương biết mấy. Đang mải nghĩ thì cô gái tươi như hoa phía trước đã cất lời: “Xin mời Phạm huynh đi trước”. Tiếng nói như tiếng chim khuyên làm họ Phạm sực tỉnh bảo: “Cảm ơn cô. Tiên chủ hậu khách. Xin mời cô đi trước cho”. Cô gái liếc nhìn về phía chủ nhân thấy khẽ gật đầu luôn tay nhấc quân ngà lên đi một nước rất nhún nhường thế mà chỉ mấy nước sau trận tuyến đã dàn ra cực kì nghiêm cẩn. Có lẽ hiếm khi nào lại xảy ra một cái việc như ở lòng thuyền đêm nay. Ngoài trời sương thì cứ buông và ở đâu đó súng vẫn đang nổ, máu đang chảy, bao nhiêu toan tính của triều đình và những hi sinh của người yêu nước, kể cả quan tổng trấn cũng khó mường tượng ra các môn khách của ngài đang làm một việc khác thường là mượn vào cuộc cờ mà luận bình thiên hạ. Đôi trẻ càng say đánh giở hết sở học tỉ thí thì Chấn Sơn và Tiểu Quỳnh cũng thao tài biện bác, ngôn ngữ càng lúc càng hàm súc, tình ý càng ngày càng thâm viễn uyển chuyển như thế trận trên bàn cờ trong mùi hương trà quỳnh, rượu cúc càng nồng đậm lãi lên. Đến khi canh năm sắp tàn, mấy bình rượu cúc đã dốc ra những giọt cuối cùng trên chén gỗ cuộc cờ đang ở thế giằng co bất phân thắng bại thì vị chúa thuyền chợt khoát tay bảo: “Xin phép tiên sinh cho tạm dừng cuộc ở đây, mong ngày khác ta lại có duyên tri ngộ”. Chấn Sơn lúc đó mới như choàng tỉnh bái tạ bảo: “Quỳnh muội quả thật tâm thế khác người, tài kiêm văn võ, học trò của muội cờ lực phóng khoáng, phách lược dị thường, ta xin bái phục”. “Tiên sinh lại dạy quá rồi. Chẳng qua bọn chúng dựa vào ý ngài mà di quân khiển tướng đó thôi. Cảm phiền tiên sinh tri ân”. Lời nói đã dứt mà âm giọng còn vang ngân, đôi trẻ ngẩn ngơ buông quân cờ xuống mặt bàn gỗ mun nhìn nhau không nói một lời. Khoảnh khắc sau khi nằm trong khoang thuyền nan mỏng mảnh dập dềnh Chấn Sơn cứ thở dài thườn thượt lẩm bẩm: “Tài ấy, đức ấy... Trời ơi...”, rồi ngài thiếp đi lúc nào không biết trong hơi men rượu cúc.
*
*     *
Đến quá ngọ hôm sau Chấn Sơn mới tỉnh lại hồi nhớ việc đêm qua không biết là thực hay mơ còn đang tự cười mình vẫn tự cho là cao thủ tửu đồ mà mới cạn mấy bình hắc cúc đã chìm vào giấc Nam Kha. Tiên sinh nhìn quanh không thấy gã gia nhân họ Phạm đâu còn chưa hiểu đầu cua tai nheo thế nào bỗng đâu phía liếp thuyền có một phong thư gài sẵn chữ thảo tuyệt đẹp như sau: “Tiểu muội mạn phép tiên sinh đã dong buồm ra bể thuận lòng người theo phò đánh giặc nơi hòn tên mũi đạn chắc là khó gặp. Một đêm coi như tri kỉ, thưởng trà thưởng rượu còn nhớ đến tri âm. Nay Phạm An nhất quyết vượt sông đi theo xin tiên sinh về thưa giúp mấy lời với quan tổng trấn. Tiểu Quỳnh thủ bút”. Chấn Sơn cơ hồ chấn động tâm can sực tỉnh nhìn ra mây trời sông nước dường như cũng đã rạng lên lại thấy ngay sau phía trái liếp thuyền một phong thư nữa, thư của Phạm An. “Xin được tạ lỗi với thầy. Được gần thầy chẳng mấy, con hằng hiểu tấm lòng trung trinh của thầy với đời, với nước. Đêm qua nghe thầy đàm đạo trong cuộc cờ cùng với chủ lâu thuyền con đã ngộ ra đường đi của mình. Thầy hãy xin lỗi ngài tổng trấn giúp con. Con mãi mãi là học trò của ngài tổng trấn, của thầy và của nước non này. Kính thư bái lạy. Phạm An”.
Phùng Chấn Sơn đọc xong hai phong thư bất giác rơi mấy giọt lệ xuống lòng chén rượu gỗ đã cạn. Ở đâu mùi hương quỳnh thao thiết ùa về bám riết ông như đêm trước, như bao đêm ở đền cùng cụ thủ từ hay khi đàm đạo với quan tổng trấn. Còn đang chìm vào những suy nghĩ riêng chung thì chim câu ở đâu sà xuống mang đến một phong thư. Thư của quan tổng trấn. Chắc có điều gì trọng đại xảy ra rồi mà thư nét mực còn tươi mới: “Gửi Sơn đệ. Ta đã tự tiện từ quan do bọn xiểm nịnh lường gạt định khép ta vào tội làm thất tán quân dụng. Quân dụng nào đâu, chẳng qua là mưu mô của lũ gian thần thấy ta có ý chủ chiến với bọn giặc Tây nên cố tình xúc xiểm hãm hại. Từ giờ trở đi, hiền đệ tùy tiện hành tẩu giang hồ, cũng đừng tìm ta vô ích. Hẹn bao giờ non sông vùng lên rửa hận, ta lại cùng hiền đệ thưởng rượu cúc, trà quỳnh. Bái biệt”.

Chấn Sơn đọc xong lá thư tâm thế mang mang nhìn chú chim câu lòng dạ không khỏi xốn xang bất giác chạnh lòng thương loài chim tận trung và thông minh kì diệu càng thương hơn những tri kỉ tri âm tài đức vẹn toàn mà sinh trong cảnh lạc thời lạc thế chạnh nhìn xa xa chỉ một màu mây đục. Phùng tiên sinh tấp chiếc thuyền nan vào bờ đoạn ruổi chân về phía nếp đình cổ cuối sông. Mặt giời vừa hé ra được một chút buổi trưa đã không còn thấy tăm tích đâu cả nhường cho những vạt sương chiều khói sóng bốc hơi mờ mịt mặt sông. Nếp đình cổ thân thuộc nép mình bên mấy cây đa cây si hôm nay như có điều gì đã xảy ra chăng mà có vẻ nghiêm ngắn lạ thường. Đình vắng lặng. Bàn cờ vẫn còn nguyên quân nơi đầu hiên nhưng không thấy cụ thủ từ ngồi trầm ngâm và làn khói thân thuộc của Quỳnh nhi cũng tịnh không có lấy một giọt mỏng. Bước vào trong tấm phản nơi góc đình mọi vật vẫn y nguyên. Bình rượu cúc và cặp chén gỗ còn vương hơi men nồng đậm. Tĩnh trí khai ẩm chén rượu cúc một lát mùi trà quỳnh ở đâu đó chen vào và quấn quýt, lan tỏa xung quanh người đàn ông độc ẩm.
Từ ấy, nếp đình cổ cuối sông có cụ thủ từ mới nổi tiếng với món trà quỳnh khắp lộ Hải Đông cho đến khi cuộc khởi nghĩa của cụ Tán Thuật nổ ra ở Bãi Sậy thì không ai thấy cụ nữa nhưng món trà quỳnh nếp đình cổ thì còn cho đến tận bây giờ 
P.V.K

Nguồn Vannghequandoi

Nhà thơ khiếm thính kể chuyện đất Hà thành

Nhà thơ khiếm thính kể chuyện đất Hà thành

Từ Hồng Sơn nói anh là người hoài cổ. Minh chứng của sự hoài cổ ấy là khi đề cập chuyện phỏng vấn từ xa vì điều kiện địa lý cách trở, anh bảo nhất quyết không trả lời bằng “mail” (thư điện tử) vì “như thế thì lạnh lẽo quá”. Bởi vậy, khi tác giả của “Hà Nội mùa thổ phách” nói rằng sẽ “trò chuyện” từ xa bằng cách viết ra giấy, tôi vẫn giật mình khi anh hì hụi ngồi viết tới 5 mặt giấy rồi chụp lại và gửi cho mình qua Facebook.

Tai ương không thể nhấn chìm

Từ Hồng Sơn đích thị là một cậu trai Hà Nội. Sinh ra và lớn lên ở Lý Nam Đế, nơi anh gọi là “phố nhà binh”, cậu bé Từ Hồng Sơn thuở nhỏ khá hiếu động. Anh cùng chúng bạn là “tiểu đội” những đứa trẻ con trong khu phố không bao giờ biết buồn với những trò chơi như bắt ve, hái sấu, chọi quay, pháo đất... Những tháng ngày hạnh phúc ở cái nơi gọi là “pháo đài tuổi thơ” của Từ Hồng Sơn có lẽ sẽ kéo dài thêm nếu không có tai nạn ập tới, vĩnh viễn tước đi khả năng nghe của anh khi mới vừa 6 tuổi.

Nhà thơ Từ Hồng Sơn và tác phẩm “Hà Nội mùa thổ phách”

Việc sống trong một thế giới không còn âm thanh là một bất hạnh đối với bất kỳ ai, nhất là với một cậu bé đang ở độ tuổi đến trường. Trong suốt những năm tháng đi học, thầy cô luôn ưu tiên xếp cho cậu học trò ngồi bàn đầu để có thể tiếp thu bài giảng tốt hơn. Nỗ lực gấp đôi, gấp ba những học sinh bình thường trên lớp, ở nhà Từ Hồng Sơn phải nhờ cậy sự giúp đỡ của gia đình để có thể tiếp thu trọn vẹn bài vở mà thầy cô giao cho.

Nhưng với cậu bé đầy lạc quan này thì đó không phải là tai ương có thể nhấn chìm cuộc đời anh. Anh trải lòng: “Tôi không nghe được nhưng tôi cũng học được cách đọc khẩu hình của người khác khá nhanh. Ông trời cũng bù lại cho tôi đôi mắt khá tinh nữa. Tôi có quan niệm dù có nghe được hay không thì cũng phải sống cho tử tế”.

Năm 1993, Hồng Sơn rời Hà Nội vào Nam sinh sống. Cuộc di cư đột ngột này đối với Từ Hồng Sơn lúc ấy chưa có nhiều ý nghĩa, vì chỉ nghĩ là theo mẹ vào Nam thôi, chứ với cậu học trò mới học hết lớp 5 khi ấy cũng chẳng biết gì. Sau này khi trưởng thành, anh mới ý thức được sự xa cách ấy không đơn thuần là khoảng cách địa lý, mà là bao nỗi niềm chất chứa.

Đến nỗi, khi đã trở thành một sinh viên của trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM, khi đã bước đi trên con đường nghệ thuật, anh vẫn luôn muốn được viết một cái gì đó về Hà Nội, với tất cả sự yêu thương như sợi dây ràng buộc với cố hương. Có những ngày ngồi trên giảng đường đại học, Từ Hồng Sơn thấy mình “cầm sách nhiều hơn cầm cọ”, bởi so với hội họa thì văn học lại có sức cuốn hút lớn hơn, anh thấy được chính mình trong đó. Nhưng không vì thế anh bỏ ngang việc vẽ, chỉ là lúc nào ý tưởng về một cuốn sách về Hà Nội cũng thường trực trong đầu.

Sẽ viết đủ serie Ngũ hành

Ký ức ấu thơ mà Từ Hồng Sơn còn nhớ rõ nhất là những ngày được ông ngoại đạp xe chở quanh hồ Gươm. Khi ấy, anh nhớ mình đã được ông mua cho một cây kem Tràng Tiền và được chỉ cho xem nào là hồ Gươm, tháp Rùa, rồi chỗ kia trước đây là một ngôi chùa, sau này chỉ còn sót lại tháp Hòa Phong sừng sững. Chính những điều này đã khiến cho cậu bé Từ Hồng Sơn ngày ấy tò mò và thôi thúc ý nghĩ sẽ tìm hiểu nhiều hơn về huyền sử đất Thăng Long.

Nếu đọc “Hà Nội mùa thổ phách” sẽ hiểu căn nguyên vì sao Hà Nội trong thơ của Từ Hồng Sơn lại mang một dáng hình cổ mặc đến như vậy. Hà Nội là “thổ” - là đất, mà cũng là hồn, là “phách”. Hà Nội trong thơ Từ Hồng Sơn là thực, nhưng nó cũng gần với cõi mơ, nhất là trong cơn mơ của người da diết nhớ, lúc nào cũng đau đáu thấy quê hương.

Đọc thơ Từ Hồng Sơn, ta như đi giữa lối cũ của cái thời xa lắm, của “trái bàng ủ rượu nước mưa”, của “khuông nhạc phố rải lanh canh phách cuốc”, của “nắng lưa thưa răng lược ngõ loan nâu”, nơi mà chỉ lá rơi thôi cũng như “múa chầu sân phố”.

Nhưng ẩn sau một Hà Nội trầm ngâm nép mình cũng là một Hà Nội thân thuộc đến nao lòng của những người đã từng đi qua cái thời đói khổ “nắm cơm nguội, bát canh chua, cà muối dở”, với “bếp cạn dầu, chum gạo rỗng, bấc đèn nhom”. Những thanh âm như tiếng leng keng tàu điện, tiếng kinh tụng sân chùa, tiếng rao hàng, tiếng chợ cóc…, nếu những người bình thường có thể cảm nhận được bằng đôi tai, thì với Từ Hồng Sơn là bằng trái tim, bằng rung cảm.

Từ Hồng Sơn nói, sau “Hà Nội mùa thổ phách” anh sẽ viết cho đủ một serie ngũ hành. Chẳng biết đùa hay thật nhưng lúc bài báo này lên khuôn thì tập thơ thứ hai của anh - “Hà Nội mùa mộc phách” cũng kịp có mặt trên các kệ sách. Nghe nói Từ Hồng Sơn còn ấp ủ một cuốn tiểu thuyết về Hà Nội, sẽ là một cuốn tiểu thuyết về những đứa trẻ ở khu gia binh mà anh đã từng sống ngót nghét 30 năm trước… Và tôi tin, mối nhân duyên của Từ Hồng Sơn với Hà Nội sẽ còn được nối dài bởi đôi cánh văn học, bởi cây bút tài hoa này còn thương, còn nhớ Hà Nội nhiều lắm.

Theo Mai Anh - An ninh Thủ đô

Tu tu xình xịch - Tản văn của Đỗ Phấn

Tu tu xình xịch - Tản văn của Đỗ Phấn

Âm thanh quá đỗi quen thuộc với dân Hà Nội từ đầu thế kỷ trước đã trở thành danh từ để gọi tàu hỏa hơi nước. Nó là phương tiện vận tải phổ thông rẻ tiền nhất phù hợp với số đông dân chúng cả thành thị lẫn thôn quê. Tất nhiên chỉ những vùng có tàu hỏa đi qua. Mạn Tây Bắc từ Cao Bằng sang Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên xuống đến tận Hòa Bình không có tàu hỏa.


Ảnh minh họa: Internet


Chẳng hiểu vì sao ta quen gọi là tàu hỏa Bắc - Nam mà không phải là ngược lại. Kể cả trong văn bản hành chính cũng đều dùng cụm từ này. Tàu hỏa hơi nước lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam là vào năm 1881 khi người Pháp xây dựng tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho dài 70km. Chuyến tàu đầu tiên vào năm 1885 còn phải vượt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà ở Bến Lức. Đường sắt Bắc - Nam mãi đến tận năm 1936 mới được xây dựng. Nghĩa là tàu hỏa và đường sắt có mặt ở miền Nam trước khi có tuyến đường sắt Bắc - Nam năm chục năm có lẻ.


Mới chỉ vài chục năm thôi, trước năm 1993 ở Hà Nội nói đến tàu hỏa có nghĩa là đầu máy hơi nước. Tàu hơi nước chạy qua Hà Nội một quãng dài từ Ngã Tư Vọng lên đến đầu cầu Long Biên. Đó là một công trình kỳ vĩ đầy mê say của lũ trẻ Hà Nội nhiều thế hệ. Chiếc đầu máy hơi nước với thiết kế khỏe khoắn để lộ gần hết phần cơ khí ra bên ngoài sơn màu đen đỏ trắng tuyệt đẹp. Những bánh xe khổng lồ có vành thép bán nguyệt đối trọng. Những tay đòn lớn đan chéo nhau nhịp nhàng chậm rãi. Miệng lò than trong khoang lái lúc nào cũng rực hồng hắt lên gương mặt bóng loáng của những công nhân lái tàu. Những chiếc xẻng xúc than mòn vẹt sắc lẻm. Bình hơi chính khổng lồ án ngữ trên đầu máy là nơi lũ trẻ đặt ra nhiều câu hỏi nhất. Có thật nó là chiếc nồi to nhất thế gian? Nhiều đứa còn cho rằng hơi nước phụt ra là để đẩy cả đoàn tàu đi. Mãi về sau lân la hỏi các bác lái tàu mới biết chẳng có một cái nồi nào cả. Nước được đun bằng các ống thép chạy vòng vèo trong ấy.


Tàu hỏa hơi nước là một đồ chơi kỳ thú sống động của trẻ con ở phố. Nhiều đứa trốn học ra các điểm chắn tàu Nguyễn Khuyến, Điện Biên Phủ, Trần Phú đón xem các chuyến tàu qua lại. Chúng dỏng tai nghe đến thuộc lòng các hiệu còi tàu vọng ra từ ga Hàng Cỏ. Có thể biết chính xác lúc nào thì tàu chuyển bánh. Nghển cổ ngóng vào trong ga đón xem những đợt khói trắng đầu tiên phả lên nền trời. Và tiếng xình xịch bánh sắt chậm rãi nhịp nhàng tiến lại gần. Vài đứa hiếu kỳ hơn còn leo lên cầu vượt Khâm Thiên để nhìn tận mắt vào trong cái ống khói khổng lồ hì hục nhả hơi ướt mèm.


Những ngày hè rỗi rãi, lũ trẻ đi men theo đường sắt từ quãng Trần Phú lên cầu dẫn Phùng Hưng. Cây cầu dẫn đường sắt được xây dựng cùng với cầu Long Biên còn y nguyên dáng vẻ mềm mại uy nghi với hàng lan can thép uốn hình số 8 liên tiếp qua hết cây cầu. Những mố cầu xây đá hộc kiểu vòm mái vững chãi chạy vòng quanh khu phố cổ sầm uất Phùng Hưng, Cửa Đông, Hàng Vải, Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Giấy, Nguyễn Thiếp, Hàng Đậu. Đi bộ trên cầu dẫn có thể nhìn bao quát toàn cảnh những ngói nâu tường cũ một thời Hà Nội cổ kính êm đềm. Người ở xa về ngồi trên tàu hỏa cao hơn nhìn xuống vô cùng choáng ngợp với ánh đèn lộng lẫy giăng mắc khắp thành phố. Ngày ấy những miền quê từ Gia Lâm trở ra hầu như tối om trên suốt hành trình từ Hà Nội đi Lạng Sơn, Hải Phòng, Lào Cai. Những năm chiến tranh trên toa tàu khách cũng chỉ có vài ngọn đèn bão treo dưới giá để hàng. Lúc thắp, lúc hết dầu khói bay cay mắt.


Những năm chiến tranh có vài trường đại học sơ tán lên vùng núi phía Bắc dọc theo tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, như: Trường Xây dựng, Kiến trúc, Sư phạm, Tài chính, Quân sự… Tàu hỏa là phương tiện duy nhất của sinh viên Hà Nội. Sinh viên thường mua vé tàu cho đến hết học kỳ đầu tiên năm thứ nhất. Những năm còn lại là đi nhờ. Nhảy tàu xuống chỗ chắn Trần Phú, Điện Biên Phủ. Hình như những người lái tàu cũng biết điều đó và họ giúp đỡ sinh viên nghèo bằng cách luôn giảm tốc độ khi về đến đấy.


Tiếng tàu hỏa tu tu xình xịch quen thuộc đến mức có cô gái ngoại thành vào Hà Nội tìm đến một ông lang nổi tiếng ở Bờ Hồ khám bệnh. Cô gái khai bệnh lúc nào cũng nghe như có tiếng tu tu xình xịch trong đầu. Ông lang giữ cô lại chữa trong vòng một năm. Bệnh khỏi. Cô có thêm một em bé và ở lại luôn trên phố. Dân phố có thêm thành ngữ “Tu tu xình xịch” để chỉ những phụ nữ nhập cư lỡ làng.


Tàu hỏa hơi nước biến mất từ năm 1993. Thành phố luyến tiếc âm thanh thân thương của nó suốt gần một thế kỷ. Không còn tiếng “tu tu xình xịch” nữa. Những phụ nữ lỡ làng giờ cũng gọi là bà mẹ đơn thân. Dịch ra tiếng Anh là Single mom.


Nguồn SGGP

Chiếc vòng bạc vía - Truyện ngắn của Kiều Duy Khánh

Chiếc vòng bạc vía - Truyện ngắn của Kiều Duy Khánh

Quăng cái vỏ chai rượu đã không còn một giọt lăn lông lốc ra ngoài mặt đường, Bô đứng bất động, mắt gà gà khoan khoái cảm nhận cái men rượu đang ngấm dần vào từng thớ thịt. Bây giờ thì Bô thấy ngọn núi trước mặt biết chuyển động, chỗ Bô đang đứng cũng ngả nghiêng, bồng bềnh.

Sáng nay, đợi bố mẹ lên nương, Bô ra vườn dắt ngay con lợn buộc ngoài gốc đào đủng đỉnh xuống chợ Chiềng On. Bà Thảo béo, chủ quán phở đầu chợ đã đứng đợi từ bao giờ. Cuộc ngã giá diễn ra khá nhanh. Con lợn này độ hai mươi cân là cùng, lại gầy nhẳng thế này, chẳng được mấy thịt. Thôi, chị tính cho chú mày mười ngày uống rượu và ăn phở, mỗi ngày đúng nửa lít và một bát phở nóng hổi, nhá.

Bát phở mới hết một nửa mà chai rượu đã không còn một giọt. Bô buông đũa đứng dậy, lè nhè. Chị chủ quán cho mình thêm chai nữa đi. Mấy hôm không được uống rồi, hôm nay mình phải uống bù cho nó sướng cái mồm chứ. Chủ quán vừa đưa thêm cho Bô chai nửa lít nữa, vừa càu nhàu. Hôm nay chú lấy hai chai, thế là chỉ còn tám lần nữa thôi, nhớ đấy nhá.

Bô lảo đảo xách chai rượu bước ra khỏi quán. Ô, lúc nãy mình đến đây, cái đường đi nó thẳng, thế mà giờ nó cứ bập bênh khó đi quá, muốn làm cho mình ngã à? Hôm nào phải tìm gặp cán bộ giao thông, bảo cán bộ làm cái đường thật to, thật đẹp lên tận cổng nhà Bô để mỗi lần đi uống rượu cho dễ mới được.

Ngật ngưỡng leo được đến lưng chừng con dốc Tô Buông để đi về bản thì Bô không bước nổi nữa, con đường thì cứ ngoằn ngoèo, ngả nghiêng muốn đẩy Bô ngã, hai cái mắt thì cứ muốn nhắm lại. Thôi, phải ngủ cái đã. Bên vệ đường có bãi phân trâu khô, nhìn như cái gối, Bô nằm lăn ra vệ đường, gối đầu lên bãi phân trâu khô. Bô ngủ.

Từ lâu rồi, Bô chỉ thích được say và ngủ. Chỉ có say và ngủ thì Bô mới không thấy buồn, không thấy nhớ đến Tếnh Sua nữa. Tếnh Sua là chị dâu của Bô, thế mà lúc nào Bô cũng nhớ đến chị dâu, Bô không muốn nhớ, nhưng cái đầu Bô nó lại cứ muốn nhớ. Nhớ xong thì lại buồn. Buồn thì lại phải bắt trộm con lợn, con gà đi đổi rượu uống. Tuy đã say lắm rồi, nhưng Bô vẫn nhớ tới Tếnh Sua, nhớ tới buổi gặp Tếnh Sua ở đầu bản hôm nào...

*
*    *

- Úi, anh Bô đi học về đấy a? Được đi học ngoài phố về, nhìn không giống con trai bản Liễu ta nữa rồi.

Có tiếng con gái trong trẻo gọi ngay phía sau làm Bô giật mình ngoảnh lại. Một đứa gái gùi một lù cở đầy măng từ con đường mòn trong rừng đi ra. Bô nhìn chăm chăm đứa gái. Ơ, sao lại biết tên mình nhỉ? Chưa gặp bao giờ mà.

Đứa gái đưa tay vén mấy sợi tóc vương trên trán để lộ ra khuôn mặt trắng hồng, đôi mắt long lanh đen láy như hạt cây mục pa mới bóc vỏ. Đứa gái thấy Bô cứ nhìn mình mãi thì đỏ bừng hai má, lúng túng. Anh Bô đi học trên thành phố, quen nhiều con gái đẹp nên quên hết con gái bản Liễu ta mất rồi. Em là Tếnh Sua mà. Bô càng ngạc nhiên. Tếnh Sua đấy à? Ầy, lâu quá không gặp, giờ xinh gái như con công đang múa nên tôi không nhận ra được đấy.

Ngày trước Tếnh Sua nhỏ và đen, học dưới Bô một lớp, ngày nào chẳng đi học cùng nhau. Học hết lớp chín thì Tếnh Sua ở nhà, Bô được đi học tiếp trường dân tộc nội trú ngoài huyện rồi lại đi học trường trung cấp nông lâm theo chỉ tiêu của xã, thỉnh thoảng mới về bản. Có về thì cũng đi nương xa cả ngày, nên chẳng gặp Tếnh Sua bao giờ. Có mấy năm mà Tếnh Sua như tấm vải lanh được vẽ sáp ong thêu chỉ màu, như cái cây gặp mưa đúng ngày thay lá mới. Bô cứ ngẩn ngơ đứng ngắm mãi Tếnh Sua, lòng thấy bồi hồi lạ lắm. Thỉnh thoảng Bô lại đưa mắt nhìn trộm Sua, lại bắt gặp ánh mắt Sua cũng liếc nhìn thẹn thùng. Bô đỡ cái lù cở măng gùi hộ Sua, hai người tung tăng đi về bản, thấy lòng vui như đôi chim cu gáy mùa tìm bạn tình.

Từ hôm gặp Sua, lòng Bô lúc nào cũng bâng khuâng nhớ đến ánh mắt biết làm người khác phải nhìn và cả cái váy sặc sỡ đung đưa theo mỗi bước chân, để lộ ra cái bắp chân tròn lẳn, trắng nõn như cái măng bóc vỏ...

Nhưng Bô nhớ nhất là lúc chia tay, Sua bẽn lẽn bảo: Nếu anh Bô không chê Tếnh Sua xấu hơn con gái ở thành phố thì tối đến nhà Tếnh Sua chơi, cho Tếnh Sua nghe tiếng khèn của anh Bô nữa nhé. Cái ánh mắt của Sua nhìn Bô lúc đó lạ lắm...

Nhưng chỉ dám nhớ Sua thôi, chứ Bô không dám đến nhà Sua chơi. Mỗi chiều Bô lại vác cái nỏ và ống tên, giả vờ lên ngọn núi Tặng Hua săn bắn để đi qua nhà Tếnh Sua, được nhìn Tếnh Sua một tí và cố tình để cho Tếnh Sua thấy mình, thế là Bô lại thấy vui, thấy sướng cả đêm.

*
*   *

Lúc đó cũng là khi Bô thấy anh Dụa, anh trai của Bô lạ lắm. Ngày nào anh Dụa cũng lấy cái khèn của bố treo trên vách xuống chăm chỉ tập thổi. Đi nương, anh Dụa cũng đem cây khèn theo, nghỉ trưa ở lều anh lại lấy ra thổi mãi bài khèn Cò nhả cú xi nhá, buổi tối ăn vội vàng bát cơm xong là anh vác khèn đi, hôm nào cũng quá nửa đêm, khi con cầy hương trong rừng cất tiếng kêu gọi bạn ngo...e mấy lần thì anh Dụa mới về ngủ. Cũng có hôm anh đi cả đêm, tận đến khi mẹ đồ xong nồi xôi để đem đi ăn trưa ở nương thì anh Dụa mới về, quần áo và mái tóc ướt đẫm sương đêm. Ăn cơm xong là anh lại hồ hởi vác cuốc cùng cả nhà lên nương. Cả đêm không ngủ thế mà mặt anh lúc nào cũng rạng rỡ tươi roi rói cứ như con chim đang đói bỗng gặp nương lúa chín.

Bố nhìn anh Dụa, bố cũng vui, nhìn mẹ cười cười. Nhà ta sắp có con dâu mới rồi đấy, bà lại có người cùng tước lanh, làm vải rồi, bà Dí à. Anh Dụa đỏ bừng mặt chạy đi.
Một buổi tối, anh Dụa ngập ngừng một lúc rồi bảo bố mẹ:

- Hôm nay con đi bắt vợ về đấy, bố mẹ đợi đón con dâu mới nhé.

Mẹ nhìn anh Dụa, đận đà. Đã biết về nhau kĩ chưa mà đã đòi đi bắt vợ hả thằng Dụa? Chọn vợ phải biết nhìn cách tước lanh, thêu váy. Mùa màng không hợp thì hại một vụ, vợ chồng không hợp thì hại một đời đấy.

- Hiểu nhau kĩ rồi nả à. Người của bản ta thôi. Anh Dụa rạng rỡ bảo mẹ, rồi anh đeo cái khèn lên vai, lấy xe máy phóng vù đi.

Gần nửa đêm thì anh Dụa về. Anh đứng ngoài sân gọi nhỏ để báo cho cả nhà biết. Bố vội làm cái lễ Lu cai để ma nhà nhận mặt con dâu mới, để đêm ngủ con dâu mới không còn mơ thấy ở nhà bố mẹ đẻ nữa. Bố làm xong cái lễ, anh Dụa hí hửng dẫn vợ vào ra mắt. Bô hồi hộp chạy ra để ngó mặt chị dâu. Nhưng bỗng dưng Bô đứng sững lại, thấy mình như bị rơi xuống cái hang sâu. Trời ơi, sao chị dâu lại là Tếnh Sua? Bô muốn gào lên thật to, muốn lao đến trước mặt Tếnh Sua mà hỏi cho rõ. Nhưng Bô chợt nhớ hôm nay là ngày vui của anh Dụa và của cả nhà. Bô cố trấn tĩnh, tỏ ra vui vẻ để ra chào chị dâu một tiếng. Nhìn thấy Bô, Tếnh Sua vội cúi mặt quay đi.

Đêm hôm đó Bô không thể nào chợp mắt được. Cảm giác vừa tiếc nuối, vừa đớn đau, vừa bực giận cứ trào lên giày vò. Buồng trong, anh Dụa và Tếnh Sua thì cứ rúc rích nói chuyện, rồi tiếng cái giường chuyển động ken két, tiếng thở gấp gáp, hổn hển của Tếnh Sua và của anh Dụa càng làm Bô thêm khó chịu. Bô chỉ muốn gào thét thật to, muốn lao ra khỏi nhà, chạy thật xa, để khỏi nghe thấy những âm thanh hạnh phúc của vợ chồng anh Dụa, những âm thanh đang cào xé trái tim Bô.

Từ ngày anh Dụa lấy vợ, Bô bỗng trở nên lầm lì, ít nói. Bô nghỉ học và ở luôn nhà. Bô không còn vui vẻ tươi cười, không còn nô đùa với anh Dụa như trước nữa. Mỗi lần đi nương, Bô luôn đi trước và về bao giờ cũng về sau vợ chồng anh. Bô thấy giận, thấy ghét anh Dụa. Nhìn vợ chồng anh Dụa cứ ríu rít cả ngày như đôi chim chào mào mùa làm tổ là Bô lại muốn lao vào đánh cho anh một trận như hồi còn nhỏ. Nhưng giờ lớn rồi, ai lại làm như thế. Anh Dụa có lỗi gì đâu. Anh em như dòng nước chảy ngoài máng, cái dao không thể chém đứt được. Bô không thể chỉ vì Tếnh Sua mà làm đứt tình anh em.

Từ ngày Tếnh Sua về làm dâu, cả nhà ai cũng vui, không ai biết cái buồn trong lòng Bô đang ngày một dâng lên, như dòng nước lớn chảy vào cái ruộng nông.
Chỉ có Tếnh Sua là biết cái buồn, cái khổ trong lòng Bô. Thỉnh thoảng Bô cũng hay trộm nhìn chị dâu. Có lần Bô cũng gặp ánh mắt chị dâu nhìn mình, nhưng ánh mắt Sua giờ không đắm đuối nữa mà như là trách giận Bô chuyện gì.

Lấy vợ được hơn tháng thì anh Dụa xin phép bố mẹ đi làm thuê cho một đơn vị quản lí đường tận ngoài Yên Sơn cùng mấy anh em trong bản. Nơi anh Dụa làm cách nhà hơn trăm cây số nên hơn tháng anh mới về một lần. Anh Dụa bảo đi làm lấy tiền để dựng cái nhà ra ở riêng. Nghe anh Dụa nói sẽ ra ở riêng, Bô cứ thấy buồn buồn thế nào ấy. Nỗi buồn của người sắp phải xa cái mình thầm yêu, thầm quý, như cái nỏ buồn vì hết mùa săn...

Từ ngày anh Dụa đi, đêm nào Bô cũng nghe chị dâu trằn trọc thở dài ở buồng trong. Chị dâu nhớ chồng đây mà. Con cầy hương ngoài núi xa nhau có một ngày mà còn kêu thảm thiết thế, nói gì vợ chồng chị dâu, mới cưới nhau đã phải xa nhau hàng tháng trời, sao không nhớ về nhau được? Chị dâu không ngủ được, Bô cũng không ngủ được. Đêm thì dài và vắng. Đêm nào cũng nghe rõ tiếng trằn trọc thở dài.

Hôm nay bố mẹ đi ăn cúng ở bản Su Kut, chỉ có Bô và chị dâu ở nhà. Buổi tối, ăn quáng quàng bát cơm rồi Bô ra bếp, lấy nắm dây lanh ngồi bện lại cái dây nỏ.

Có tiếng bước chân đi lại gần. Không nhìn lên thì Bô cũng nhận ra bước chân chị dâu. Chị dâu kéo cái ghế ngồi đối diện Bô. Vẫn còn đem lòng thích tôi đấy à? Giọng chị dâu run run. Bô nhìn chị dâu, gặp ánh mắt chị dâu đang nhìn Bô sâu thẳm, cái ánh mắt đã nhìn Bô hôm gặp ở trên đường khi Bô đi học về. Bô lúng túng quay đi, tránh cái ánh nhìn làm người khác phải say của chị dâu. Coi tôi như cái máng lợn ngoài vườn hay sao mà chị dâu hỏi thế? Chị dâu kéo ghế lại gần hơn, gần đến nỗi Bô thấy cả hơi thở gấp và nóng hổi của chị dâu. Không thích tôi thì sao hay nhìn trộm tôi, tôi biết lòng của Bô mà. Sau hôm gặp Bô, tối nào tôi cũng ngồi đợi Bô đến thổi cho tôi nghe bài khèn, sao không đến? Không lấy con dao bổ quả dưa ra thì làm sao biết lòng quả dưa nó xanh hay chín?

Bô luống cuống làm rơi cả cái dây nỏ đang bện dở vào bếp lửa. Rồi Bô vội đứng dậy, lấy cái đèn pin rồi chạy nhanh ra cửa. Chị dâu ở nhà, tôi đi sang bản đón bố mẹ. Bô chạy vụt đi, vẫn cảm thấy ánh mắt chị dâu đang đuổi theo mình.

*
*     *

Dạo này, Bô thấy chị dâu lạ lắm. Đi hái măng hay đi xúc cá ngoài suối chị đều mặc cái váy đẹp nhất, mới nhất. Mặt chị lúc nào cũng đỏ ửng như cô gái lần đầu biết uống bát rượu ngô. Chị hay cười hơn, hay nói hơn. Có lần Bô đi ngang con suối Tỉ Phai, thấy chị dâu đang xúc cá dưới suối, trên bờ, thằng Sồng đang đứng nói chuyện với chị vẻ thân mật lắm. Thấy Bô, Sồng vội lảng đi nơi khác. Thằng Sồng cũng bằng tuổi với Bô, cách nhà Bô bằng một lần bắn mũi tên. Sồng có vợ rồi nhưng vẫn đi sang bản khác tìm con gái, chị Sa vợ Sồng bảo không được tức quá liền ăn lá ngón tự tử, giờ Sồng ở một mình. Bô linh cảm giữa Sồng và chị dâu có chuyện gì đó. Mấy hôm nay Bô hay thấy thằng Sồng hay lảng vảng ngoài bờ rào nhà mình, thỉnh thoảng lại nhìn vào, chị dâu đang tước lanh cũng len lén nhìn ra. Ánh mắt hai người nhìn nhau như có men, có lửa.

Trưa nay Bô vừa nằm xuống giường, chưa kịp ngủ thì thấy chị dâu lặng lẽ ra khỏi nhà, có vẻ lấm lét. Trưa thế này mà chị dâu đi đâu, lại còn mặc cái váy đẹp, bôi phấn vào cho má thêm trắng nữa chứ. Dạo này không hiểu sao chị dâu hay đi khỏi nhà vào buổi trưa lắm. Hay chị dâu có chuyện gì khó mà không dám nói? Phải theo dõi xem mới được. Nghĩ vậy, Bô vội lặng lẽ bám theo. Chị dâu đi về phía nương xa của nhà. Chẳng lẽ chị dâu lại đi làm nương vào buổi trưa? Nhưng đi làm thì sao cứ phải vừa đi vừa nhìn ngó như sợ ai thấy làm gì?

Đi lên cái lều giữa nương, chị dâu nhìn quanh một lượt, không thấy ai, chị vội chạy vào trong lều. Bô lặng lẽ tiến về phía lều, không để phát ra một tiếng động.

Có tiếng cót két của cái sàn tre, rồi tiếng thở hổn hển, gấp gáp, tiếng rên khe khẽ của chị dâu xen lẫn tiếng thì thào của một người lạ. Bô vội ghé mắt qua cái phên vách lều nhìn vào trong. Bô như không tin vào mắt mình nữa. Bên trên cái sàn tre, chị dâu và thằng Sồng không có cái áo, cái quần nào trên người đang ôm như cuốn lấy nhau, mê mải. Bô thấy trời đất tối sầm lại, máu trong người Bô như bị đun sôi lên. Không thể giữ được bình tĩnh nữa rồi. Bô lao lên cái lều, đạp tung cánh cửa, xông vào. Lúc này nhìn Bô thật đáng sợ. Hai cánh tay Bô gồng lên nắm chặt, hàm răng nghiến vào nhau ken két, mặt Bô đỏ bầm như con gà chọi sắp vào trận đấu.

Tếnh Sua và thằng Sồng đang say nhau, bỗng giật mình, vội buông nhau ra luống cuống sợ hãi. Nhìn thấy Bô, Tếnh Sua hét lên rồi vơ vội váy áo lao ra ngoài. Bô gầm lên lao vào thằng Sồng muốn đấm cho nát cái mặt bóng nhẫy nhại mồ hôi của nó, nhưng rồi Bô kìm lại được. Nhìn thằng Sồng lúc này run rẩy như con cáo bắt trộm gà bị đánh đuổi đến đường cùng, Bô chỉ mặt nó, quát:

- Lần này tao tha cho mày đấy, cút đi ngay cho cái mắt tao đỡ bị ngứa. Mày còn làm cái chuyện xấu một lần nữa là tao cắt bỏ cái đàn ông của mày.

Thằng Sồng luống cuống, mặc vội cái quần rồi ba chân bốn cẳng chạy thật nhanh vào rừng.

Bô đau đớn ngồi phịch xuống như cái cây bị bật gốc. Dưới sàn lều, có cái vòng bạc nằm lăn lóc. Bô vội nhặt lên. Là cái vòng bạc vía mẹ cho chị dâu hôm anh Dụa bắt chị về. Cái vòng đã đeo vào tay bao nhiêu người con dâu họ Vàng rồi, thế mà chị dâu lại dám để cái vòng nhìn thấy cái chuyện xấu hơn con gà trống không có đuôi, rồi còn bỏ rơi lại đây. Bô cất cái vòng vào người rồi lững thững đi về phía con suối Tỉ Phai, cái mắt Bô vừa nhìn thấy chuyện bẩn thỉu rồi, Bô phải rửa cho nó sạch đi.

Minh họa: Lê Trí Dũng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chị dâu đang đứng đợi Bô bên bờ suối. Váy áo xộc xệch, đầu tóc rối bù, mặt chị vẫn còn tái đi vì sợ, vì xấu hổ. Chị Sua cầm nắm lá ngón có hoa vàng. Mùa này lá ngón đang nở hoa, những chùm hoa vàng rực rỡ. Cây ngón ra hoa là lúc lá của nó độc nhất. Chị dâu nhìn Bô van vỉ. Nếu Bô còn thương tôi thì chuyện hôm nay hãy thả xuống suối cho nó trôi đi, đừng nói cho ai nghe thấy, được không? Nếu Bô mà nói cho bố mẹ, cho anh Dụa biết, tôi sẽ ăn hết nắm lá ngón này mà chết đi để cho khỏi bị nhục.

Bô nhìn chị dâu bằng ánh mắt của con bọ ngựa nhìn con cào cào non, lạnh lùng. Ma nhà tôi đã ăn con gà của nhà chị dâu, đã nhận mặt chị vào nhà rồi, sao vẫn còn muốn sang làm ma nhà người khác? Có quả mận ngọt không ăn, lại thích ăn quả đào có dòi à? Tôi không nói cho bố mẹ và anh Dụa biết, nhưng lần sau chị dâu đừng làm thế nữa. Cái chõ xôi thì đừng để đựng cỏ. Con mèo ăn vụng nhiều mỡ sẽ dính vào râu đấy. Cái chân giẫm phải đống phân thối nhưng chịu rửa thì vẫn hết được mùi.

*
*    *

Nghe tiếng con chim Pà Nhả kêu “Cục... quắc” gọi ngày ngoài suối, bà Dí vội lập cập dậy để đồ xôi sáng. Bước vào bếp, bà bỗng thấy mùi rượu ngô thơm nồng bay khắp bếp, mới ngửi đã thấy lâng lâng say. Ầy, chắc con mèo đuổi bắt chuột lại làm đổ chum rượu ở góc bếp rồi. Bà vội chạy vào chỗ để mấy chum rượu. Suýt nữa thì bà hét lên. Thằng Bô đang say rượu nằm cò quăm dưới đất, cạnh cái chum rượu đổ lênh láng. Thằng Bô có biết uống rượu bao giờ đâu, sao hôm nay nó lại uống say thế này?

Nghe tiếng mẹ, chị dâu cũng vội chạy vào bếp. Sua bỗng thấy lo lắng. Người say rượu thường hay nói nhiều, Bô mà nói ra chuyện hôm qua ở ngoài lều thì Sua chỉ còn cách ăn cái lá ngón mà chết đi thôi. Nhưng Bô không nói gì đến chuyện đó. Những ngày tiếp theo Bô lúc nào cũng chìm trong men rượu. Bố mẹ không biết vì sao Bô lại như thế, chỉ có Sua là biết. Đêm đêm, Sua gục mặt vào gối khóc một mình.

Đã hết kì nghỉ hè nhưng Bô chẳng còn nhớ gì đến chuyện đi học nữa. Bố mẹ và Tếnh Sua ra sức khuyên Bô, nhưng Bô chỉ nhìn mọi người ngơ ngác rồi hềnh hệch cười vẻ ngây dại. Bây giờ Bô chỉ thích được uống rượu. Nhà còn mấy chum rượu ngô, mẹ vội đem sang hàng xóm gửi. Không có rượu ở nhà thì Bô rình bắt con gà, con lợn mang xuống chợ Chiềng On đổi lấy rượu để say.

Cuối năm, anh Dụa đã góp đủ tiền để làm cái nhà ra ở riêng. Từ ngày vợ chồng anh Dụa ra ở riêng, Bô lại càng uống nhiều rượu hơn, cứ say là Bô lại lảm nhảm gọi tên Tếnh Sua. Bố mẹ nhìn Bô mà thấy đau như con công bị vặt mất cái lông đẹp. Quả bầu đẹp lại bị con ong nó châm rồi. Hình như thì ông bà đã lờ mờ hiểu được vì sao Bô lại trở thành con sâu rượu. Hiểu được thì lại đâm nghĩ nhiều, lo nhiều. Thằng Bô cứ uống rượu nhiều thế này thì cái khôn bỏ nó mà đi hết mất thôi.

*
*    *

Ông bà Dí trằn trọc mãi mà không sao ngủ được. Đã quá nửa đêm rồi mà Bô vẫn chưa về, không biết lại đi uống rượu say rồi ngủ quên ở đâu. Trưa nay đi làm về, thấy con lợn gầy buộc ở gốc đào đã bị mất, ông bà biết ngay Bô lại đem đi đổi rượu uống rồi. Dạo này Bô đi suốt ngày, có hôm đi hai ngày mới lếch thếch về, người hôi như con sóc chui vào hang chuột chù. Khuyên bảo thế nào cũng chẳng được nên đành kệ, đi chán tự khắc về. Nhưng đêm nào Bô không về là đêm đó ông bà lại thức trắng, không chợp nổi cái mắt.

Trời vừa tang tảng sáng, bà Dí vội lập cập chống gậy theo con đường mòn nhỏ đi xuống dưới chợ tìm con. Đi xuống lưng chừng con dốc Su Cút, bà thấy Bô đang nằm ở vệ cỏ ven đường, đầu gối vào đống phân trâu khô, ngáy khục... khù... khù, mồm thì đầy rớt dãi. Cái thằng này, cứ say là bạ đâu ngủ đấy thôi. Bà tiến lại phía Bô, gọi Bô mấy tiếng. Bô vẫn ngủ ngon, chẳng biết gì. Bà ngồi xuống bên con, lay mạnh. Bỗng dưng bà giật mình. Trong tay thằng Bô đang nắm chặt cái vòng bạc vía. Cái vòng bạc này bà đã cho Tếnh Sua mà, sao thằng Bô lại có? Thảo nào lâu rồi bà không thấy con dâu đeo vòng. Hỏi nó thì nó bảo đi nương nhiều sợ rơi mất nên cất ở nhà. Bà nhắc nó mấy lần, cái vòng vía là của hồi môn của mẹ, đã đeo vào tay thì không được tháo ra đâu, con dâu phải đeo nó vào đi. Tếnh Sua lúng túng vâng dạ, nhưng rồi vẫn không thấy nó đeo lại. Giờ thì bà đã hiểu ra.

Phải một lúc Bô mới mở mắt, lồm cồm bò dậy. Nhìn thấy mẹ bên cạnh đang cầm chiếc vòng bạc, Bô bỗng giật mình. Mẹ run run cầm tay Bô. Đàn ông của họ Vàng Lao ta không ai tự làm khổ mình, tự làm chết mình vì một đứa gái đâu Bô à. Mày chưa mang về cho mẹ một đứa dâu ngoan mà đã thành cái chum đựng rượu rồi thế này. Bố mẹ già rồi, sắp như cái cây bị đẽo dần vỏ, mày không tìm cái vía khôn trở lại, thì bố mẹ biết nhờ ai?

Trong người Bô lúc này không còn giọt rượu nào nữa. Bô rụt rè nhìn mẹ. Lâu rồi Bô không nhìn mẹ. Mẹ dạo này cái da nhăn quá, mái tóc đã trắng gần hết, đôi mắt mẹ thì mờ đục. Bô bần thần nhớ lại những ngày Bô triền miên say. Bô đã bán hết gà, hết lợn, bán cả cái khèn quý giá nhất của bố để đi uống rượu. Bô làm khổ bố mẹ quá rồi.

Mẹ nắm tay Bô, run run. Mày say thế nào mà gối đầu lên cả đống phân trâu mà ngủ thế này, cũng may phân trâu nó khô rồi, không làm bẩn được cái tóc. Thôi bỏ hết cái chuyện không vui ở lại cái đống phân thối này, đứng dậy, về đi con. Để mẹ đỡ đứng lên nào. Từ hôm qua chắc chưa ăn gì, chân tay run lẩy bẩy hết rồi này.
Bô nhìn mẹ nghẹn ngào. Mẹ già yếu rồi, không phải đỡ con đâu. Con tự ngã thì con phải tự đứng lên thôi.

*
*   *

Bố mẹ tiễn chân Bô đi một đoạn đường dài. Bố nhìn Bô dặn dò:

- Đi học lại thì phải cố gắng hơn. Bố đã nhờ người viết cái thư này gửi cho trường. Phải cố học để bù cái đã mất đấy.

Mẹ thì bịn rịn mãi. Học gì thì học, nhưng phải mang về cho mẹ một đứa con dâu ngoan. Mẹ đợi để đeo cái vòng bạc vía vào tay vợ mày đấy...

Bô lặng yên nghe bố mẹ nói rồi nhìn lại ngọn núi Tặng Hua ở sau lưng một lần nữa và đi xuống con đường dốc…

 

Nguồn Vannghequandoi

Vốc mưa trời, uống cạn lời hẹn ước... - Tản văn của Phan Tiến Dũng

Vốc mưa trời, uống cạn lời hẹn ước... - Tản văn của Phan Tiến Dũng

Không biết bắt nguồn từ đâu mà ngày xửa, ngày xưa người ta đã gọi bến sông quê tôi là bến Phú Hòa. Thuở ấy, dọc hai bên bờ sông Tiêm còn hoang vu, dân cư thưa thớt. Hoà bình lập lại, người ta mới tụ họp về đây đông đúc trên bến, dưới thuyền.

Ảnh minh họa: Internet

Cùng với thời gian, bến sông chứng kiến bao thăng trầm của người dân quê bốn mùa lam lũ. Bến sông quê là người bạn tâm tình, khi vui ra bến sông giãi bày, tâm sự, khi buồn ra bến sông thổn thức. Cũng giống như bao bến sông quê vùng Bắc Bộ, bến sông quê tôi có bóng mát của rặng tre ngà, có từng bậc đá lên xuống nhẵn thín, có cây cầu gỗ vươn ra giữa dòng. Hồi nhỏ, lũ trẻ chúng tôi sau những trưa hè đánh trận giả đến mệt nhoài, vạt áo ướt đầm mồ hôi chạy ào ra bến sông vùng vẫy giữa dòng nước mát lạnh.

Tuổi thơ với bao kỷ niệm đong đầy, chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả, đứa trở thành kỹ sư, bác sĩ, đứa dạy học ở quê nhà. Chỉ có tôi và Thái đi bộ đội. Đêm trước ngày lên đường nhập ngũ, sau khi tiễn bạn bè ra về, tôi thơ thẩn một mình ra bến sông. Đêm tháng ba, trời se lạnh, ánh trăng thượng tuần bàng bạc tỏa bóng xuống dòng sông lấp lánh. Đang miên man với ký ức tuổi học trò, bất chợt tôi nghe tiếng gọi phía sau lưng: “Anh đấy à? Sao lại ngồi một mình ở đây?”. Nhận ra em, tôi ngập ngừng trả lời ra vẻ không mặn mà cho lắm: “Anh ngồi chơi vậy thôi!”. Em hỏi: “Anh có thể cho em ngồi cùng được không?” Tôi trả lời cộc lốc: “Tùy em thôi”. Mặc dù trả lời vậy nhưng thực ra tôi cũng cảm thấy bồi hồi, trống ngực đập thình thịch. Được một cô gái xinh đẹp như em ngồi bên cạnh là ước mơ của bất kỳ một chàng trai làng chúng tôi. “Ngày mai đi xa anh có nhớ bến Phú Hòa quê mình và nhớ em không?”. “Có chứ! Nhớ bạn bè, nhớ cả em nữa!”. Tôi trả lời vẻ ngập ngừng. Bất chợt em dúi vào tay tôi cuốn sổ nhỏ và tấm khăn mùi xoa, giọng em nhỏ nhẹ: “Tặng anh trước ngày nhập ngũ, chúc anh đi thượng lộ bình an, nhớ đừng quên cô bé quê mùa này nhé!”...

Tôi cầm món quà em trao, xúc động không nói nên lời. Cho tới khi bóng em khuất dần vào ngõ xóm. Lần giở những trang đầu của cuốn sổ, tôi thấy bên trong ép những chùm hoa bưởi trắng phau. Nét chữ con gái tròn tròn, xinh xinh: “Xa nhau nhiều thương nhau nhiều hơn. Đời lính chắt chiu hạnh phúc. Vốc mưa trời ta uống cạn lời hẹn ước mùa sau...”. Đêm ấy, tôi không tài nào chợp mắt nổi, mùi hương hoa bưởi thơm nồng từ mái tóc em lan tỏa, những câu thơ viết vội...

Sáng hôm sau, em bận học nên không thể tiễn tôi lên đường nhập ngũ, Thế mà tôi vẫn cứ ngóng trông... Buổi đầu làm anh bộ đội chẳng đơn giản chút nào. Đơn vị huấn luyện chiến sĩ mới đóng quân trên ngọn đồi vùng núi Tân Lâm, Đông Hà (Quảng Trị); mùa hạ nắng cháy da, gió Lào quạt lửa, mùa đông rét thấu xương. Các bài tập lăn, lê, bò trườn... mệt bã cả người. Lúc ấy, tôi lại lấy cuốn sổ em tặng ra ngắm, vuốt. Và... những chùm hoa bưởi, những câu thơ em viết đã tiếp thêm sức mạnh và nghị lực cho tôi vượt qua tất cả.

Hết khóa huấn luyện, tôi được biên chế ra Trường Sa mênh mông trời nước. Ngửa mặt lên bầu trời đầy sao, tôi bồi hồi nhớ bến sông quê mùa hạ, nhớ dáng mẹ hao gầy đổ bóng xuống chiều nghiêng, nhớ cô hàng xóm có “đồng xu” trên má với ánh mắt đen, tròn, tinh nghịch. Tôi thèm được ăn bát canh hến ngọt lự từ tay mẹ nấu, ước ao được ngồi trên bến Phú Hòa nghe điệu dân ca quê nhà... Ở nơi đầu sóng, ngọn gió nhưng tôi không thấy đơn độc, bởi trước mặt là biển trời Tổ quốc, phía sau là đất mẹ, là quê hương với bao kỷ niệm đong đầy. Những cánh thư của em và bè bạn luôn là nguồn động viên vô bờ, là cầu nối giữa đất liền với đảo.

Giờ đây, mỗi độ xuân đến, tôi lại về thăm quê. Bước chầm chậm trên con đường quê ngạt ngào hương lúa và nồng nàn mùi hương hoa bưởi, tôi thấy lòng mình lắng lại...

 

Nguồn QDND

Nắng tháng Sáu - Tản văn của Mai Hoàng Hanh

Nắng tháng Sáu - Tản văn của Mai Hoàng Hanh

Tháng Sáu, những chùm na lớn dần lên từng ngày, gió ve vuốt cành liễu mảnh mai đầu ngõ, nắng lung linh nhảy múa trên lan can ban công, mây chải tóc mềm trên tán lá bàng xanh, phượng nhiều nơi đã cháy đỏ nhớ nhung, bằng lăng đã tím đậm kỷ niệm…

Ảnh minh họa: Internet

Sáng sớm, mở toang cửa sổ, tôi không khỏi nao lòng trước thanh âm trầm bổng của tiếng tu hú gọi mùa vải chín, tiếng chích chòe vắt vẻo vút cao, tiếng chào mào rộn ràng và sôi nổi. Dàn nhạc ve thổn thức gọi ký ức tuổi thơ về với làng quê, với cầu ao, mảnh vườn, bụi tre, khóm mía, với những sợi khói chiều bạc như màu tóc mẹ nhuốm bụi thời gian…

Nắng tháng Sáu làm tôi nhớ cánh đồng quê đẹp như tấm thảm vàng, màu rơm rạ óng vàng và màu trắng phau của những đàn cò trên những bờ mương. Xóm thôn vào mùa gặt rô%3ḅ, người và xe từng đoàn nối đuôi nhau, bông lúa vàng xen lẫn tiếng nói cười rôm rả... Khi cả cánh đồng đã chìm trong giấc ngủ, vẫn nghe tiếng bìm bịp gọi bầy, tiếng cuốc cuốc gọi bạn, tiếng côn trùng kêu rả rích.

Nắng tháng Sáu làm tôi nhớ những cơn dông chợt đến rồi vụt tắt, những cơn mưa bóng mây chợt đến chợt đi. Nhớ những trận mưa rào triền miên như muốn bẻ gãy tàu dừa, quật ngã bụi chuối, đập vỡ mái ngói đỏ trên nóc nhà khuya để trút những hạt mưa nặng trĩu vào mắt mẹ.

Nắng tháng Sáu làm tôi nhớ những búp sen vươn lên từ bùn đen và nở những cánh tươi đẹp, tỏa hương thơm ngát. Tôi nhớ bóng trăng vương trên khung cửa sổ, nhớ hương hoa hồng lãng đãng về đêm, nhớ những cái hôn gió và nụ cười e ấp của cô hàng xóm.

Nắng tháng Sáu, tôi cần lắm những lời yêu thương ngọt ngào như cơn gió nhẹ giữa nắng gắt mùa hè…


Nguồn QDND

Người về đường còn dài - Truyện ngắn của Lê Hoài Lương

Người về đường còn dài - Truyện ngắn của Lê Hoài Lương

 

Gã là người sau cùng về thọ tang cha. Không hiểu sao khi nhìn tên người gọi trong điện thoại là cô em gái, gã đã vội vàng mở máy chứ không như mọi khi. Có một thôi thúc gì đó khó lí giải. Duyên mếu máo trong hốt hoảng và khẩn thiết rằng anh ra ngay, ba sắp mất. Gã choáng váng. Đó là thứ cảm xúc tỉnh táo đến mụ mị. Ông nằm đó, thanh thản. Gã thụp người bên giường…
Duyên vừa khóc vừa kể, ba cứ nhắc anh hai. Nghe em nói anh đang trên đường ra vậy mà cứ một lát lại hỏi. Ở bệnh viện ba chỉ chỗ cho em lấy cuốn sổ trên giá sách ở nhà bảo đưa anh. Cuốn sổ đây nè, anh hai…
Gã vuốt tóc ông, áp bàn tay ấm nóng run run của mình lên gương mặt gầy vàng rồi nắm mãi đôi tay đặt trên bụng đã lạnh của ông. Gã tìm kiếm một sự thân thiết máu mủ ruột rà. Gã không khóc. Chỉ mơ hồ một cảm giác mất mát. Giờ thì ba mới thực trở về, đường về thật dài. Gã gục đầu xuống thành giường, đôi vai rung lên.
*
*     *
Người đàn ông gầy gầy, tóc chớm bạc, mặc bộ đồ may vụng thường thấy ở người ngoài Bắc vào những năm đầu sau bảy lăm bất ngờ xuất hiện trước cửa.
- Cho hỏi thăm, đây phải nhà bà Tâm.
Gã đáp hờ hững:
- Phải. Có gì không?
Vị khách tái mặt nhìn sững gã. Vừa lúc bà Tâm nhà sau bước ra. Bà run bắn người, lắp bắp không rõ lời gì đó về mấy chữ “còn sống”… “đã về”… Rồi bảo gã: “Ba con đó, Hoài.” Con Duyên, thằng Duy chạy ra. Bà nói tiếp, đơn giản, con em. Vài người quanh con phố nhỏ tò mò. Người đàn ông hỏi nghẹn, vào nhà được không, bà gật. Ông đốt hương bàn thờ cha mẹ, đứng thật lâu trước hai di ảnh. Có vẻ như ông đã nắm bắt được nhiều thông tin.
Sau bữa cơm tối, Duyên, Duy lên gác học bài. Gã chào hai người rồi vào phòng mình sau vách gỗ, ngã người lên phản cạnh tủ sách ôm cây guitar như một vật tình cờ.
Nghe có tiếng nức nở của bà Tâm: “Em có lỗi vì không trọn vẹn với anh…, thế chị và… mấy cháu?...” “Tôi vẫn một mình.” Im lặng. Tiếng rót nước. “Ba mấy nhỏ đâu?” Tiếng thút thít: “Chết hết rồi.” “Hai người khác nhau à?” “Dạ hai.” “Họ làm gì?” “Một là cảnh sát, một du kích.” Im lặng. “Có bị bức ép gì không?” “Không, là em tự nguyện. Năm đó thằng Hoài đã sáu tuổi, anh thì biền biệt chẳng biết sống chết ra sao, anh Tấn, à ba con Duyên lại nhà thường xuyên dù rất mất an ninh, nhà mình vùng ngày quốc gia đêm cộng…, à đêm cách mạng mà, và…” “Chồng em… nó nhằm phá gia đình có người tập kết chứ gì.” “Anh Tấn cũng nói vậy ngay từ đầu không giấu diếm, nhưng ảnh nói không phải ảnh đến với em là từ chủ trương khuyến khích đó.”
Gã nhớ người cảnh sát đẹp trai đàn hát thật hay thường lại nhà. Cả lúc má gã ngồi dưới bếp nấu cơm ông ta cũng xuống ngồi dưới bếp đàn hát cho bà nghe. Bà nội lúc đầu phản ứng ra mặt nhưng rồi người cảnh sát cứ đến nhà, nhất mực lễ phép. Má khóc từng đêm. Rồi bà nội cũng bỏ sang hàng xóm những lúc cảnh sát tới.
“Vậy còn người du kích?” “Anh Học bắn chết anh Tấn… Mấy năm sau ảnh đến với em và cũng kể chuyện bắn.” Im lặng kéo dài. “Ông Học chết thế nào?” “Ảnh tới chào bảo dẫn đội đi đánh vô quận. Thấy mặc bộ ga-bạc-đin em mới may cho, em hỏi sao đi đánh nhau mà ăn mặc đẹp, cười nói tỉnh bơ, lỡ chết bọn địch không khinh cộng sản khố rách áo ôm. Lúc đó em có bầu thằng Duy gần sanh. Rồi ảnh chết thiệt trận đó… Ảnh người xóm dưới, biết anh, nhỏ hơn em bốn tuổi.” Đồng hồ tường thong thả mười hai tiếng. “Má mất khi nào?” “Khi thằng Duy được bốn, năm tháng. Tầm thằng Hoài lúc anh đi. Má lần chần không chịu ra hầm, quả ca nông nổ sạt đầu hồi trên. Em ráng chạy vào ôm được má ra thì nhà cháy rần rần.”
Có tiếng hức lên, nấc nghẹn.
“Tụi nhỏ học hành ra sao?” “Thằng Hoài đang lỡ dở đại học khoa triết, con Duyên lớp bảy, thằng Duy lớp một.”
Gần sáng, bà Tâm bảo ông vào nằm với gã, bà lên gác. Gã bảo tới nhà bạn rồi xách xe đạp đi, cây đàn trên lưng.
Nửa buổi sáng về, gã thấy ông tần ngần rút từng quyển sách trên giá ra coi. Đó là những cuốn về triết học, mĩ học, văn chương các tác giả phương Tây: J.P. Sartre, A. Camus, M. Heideger, D. Diderot, P. Hegel, F. Nietzsche, H. Miller, I. Kant, E. Hemingway… Cả F. Dostoievski, B. Pasternak, L.Tolstoi… Rồi Phạm Công Thiện, Thích Nhất Hạnh, Bùi Giáng, Nguyễn Bắc Sơn… Sách tiếng Việt, tiếng Pháp. Bao bìa nhựa cứng, ngăn nắp.
- Con đọc chi những cuốn sách này. - Ông ôn tồn bảo.
Gã im lặng. Im lặng.
- Tháng sau ba chuyển về giảng dạy ở đại học Bách khoa Đà Nẵng, con sắp xếp ra học. Cái triết của Sài Gòn chẳng để làm gì. Ba sẽ lo mọi thủ tục, ngành nào con thích thì chọn.
Gã im lặng.
Chiều đó gã chở ông ra ga bằng chiếc Honda 67 mượn của người bạn.
*
*      *
Giáo sư Đặng Huân là trưởng khoa Kinh tế - Tài chính. Gã không chọn ngành học nào cả nên ông cho ghi tên gã về khoa mình. Cha con sống cùng trong căn phòng nhỏ khu tập thể giảng viên.
Gã nhanh chóng ớn chán.
Ngày gã xách túi có mấy bộ đồ với cây đàn ra, giáo sư đã tỏ vẻ không vừa ý. Gã để tóc dài, chỉ có độc quần jeans áo pull, mang giày. Hút thuốc thì bật quẹt zippo tanh tách, điệu nghệ. Giáo sư mấy ngày sau cầm về mấy mét vải phân phối bảo gã đi may. Cả đôi dép nhựa quai hậu. Gã vẫn để đấy.
Tối tối gã ôm đàn ra sân trường đàn hát. Bọn sinh viên tụ lại. Gã đắm mình vào thế giới riêng, chỉ ngưng khi hút thuốc, uống li rượu. Tiếng đàn gã nhẹ nhàng đằm sâu mà khơi vơi. Gã chỉ cần rải một vài hợp âm đã ngân lên thứ âm thanh đầy ma lực. Hai bàn tay gã như chỉ thoảng trên dây, như nâng niu một báu vật, như đó không phải cây đàn mà là chính mình, một phiên bản khác của mình, một góc riêng trú lánh của mình thật, một mơ tưởng hay một khám phá về một mình khác. Gã không đàn, gã nghe cây đàn tâm sự. Cây đàn không phát ra âm thanh mà chính hồn gã ngân lên, mê mải. Không phải nỗi niềm. Mà là sự thăng hoa của cô độc và tuyệt vọng. Còn tiếng hát gã nhập vào tiếng đàn trầm, mượt. Nhập vào để bay đi. Duy nhất chỉ có tiếng hát bay đi thoát xác. Bay đi đến chốn nơi tuyệt đích nào không định trước. Không tìm kiếm, không giải thoát. Bay đi. Phải bay đi, thế thôi. Bay đi như triệu triệu con bướm mê mải lấp loáng trôi trong những sáng nam non, bản năng và thinh lặng vang động.
Gã đàn và hát như thể đàn và hát đã ngàn vạn năm qua rồi vẫn đàn và hát đến ngàn vạn năm sau. Không có khái niệm không gian, thời gian với gã và cây đàn.
Không gian và thời gian cũng có lúc vỡ vụn khi ai đó đề nghị đàn cho hát một bài nhạc mới như mắc võng trên rừng Trường Sơn chẳng hạn. Gã lắc đầu chuyển cây đàn cho ai đó, chỉ lặng lẽ uống rượu, đốt thuốc: gã biến mất.
Gã chán. Những giờ học chính trị. Những sinh hoạt cộng đồng, đoàn thể. Từ ngạc nhiên ban đầu khi nhớ tới hoạt động hướng đạo trước kia mà gã từng tham gia nhiều năm đến chán ngán thê thảm. Gã chán luôn đến những giờ học chuyên môn đâu đó cũng gắn kết với một định hướng xã hội. Nhiều lần gã không lên lớp chỉ ngồi quán cóc suốt buổi. Rượu và thuốc lá. Và thấu cái xa lạ với chính mình.
Vài lần giáo sư nhẹ nhàng nhắc nhở, vài lần không nhẹ nhàng răn dạy lẽ đúng. Gã chỉ im lặng. Người cha vốn xa lạ càng xa lạ hơn. Có lúc ngồi quán một mình gã tự vấn về vấn đề huyết thống và chạnh buồn. Gã và cha đã là những con người khác. Vĩnh viễn khác.
Đêm đó theo lời mời của một giảng viên là tiến sĩ từ Tiệp Khắc về, gã cầm đàn sang chơi. Mấy tháng đủ để tài đàn hát những bản tình ca trước bảy lăm của gã nhiều thầy cô biết tiếng. Vậy là những Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Cung Tiến, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên… nối tiếp nhau tràn ngập căn phòng. Thỉnh thoảng có thêm một hai thầy cô sang chơi. Một hai sinh viên biết nhạc miền Nam từ xa nghe vọng, tìm tới. Ai gợi dòng nhạc nào gã chơi dòng ấy, không một lời chú giải. Một hai người về nghỉ. Chai Vodka Ba Lan chưa cạn, ai đã mang một chai rượu gì đó tới. Càng khuya không gian âm nhạc liều lĩnh, đầy thách thức ấy càng như ma nhập, không cả yêu cầu, gợi ý, hết bài nọ tới bài kia như dòng dung nham lặng lẽ tuôn trào, mê rợn. Năm chục bài, bảy chục, hay hơn một trăm, gã không biết, không ai biết. Đến tàn đêm.
Về, giáo sư vẫn chờ cửa, có vẻ suốt đêm ông ngồi chờ. Ông xáng cho gã một cái tát. Mạnh đến mức gã liểng xiểng.
Gã rỗng không đến mấy ngày. Tuyệt đối rỗng.
Buổi sáng ấy khi giáo sư đã lên lớp, gã gói ghém vài bộ đồ. Và viết để lại cho ông mấy chữ.
*
*      *
Hôm qua nó tình cờ thấy má với bà nội nói gì với nhau mà ai cũng khóc. Đêm, má cứ ôm nó vào lòng, trăn trở mãi. Đã lâu, má mới nằm ngủ chung với nó. 
Nghe hàng xóm nói có người thấy mẹ sớm đó đi về phía quốc lộ, cái linh cảm mất mẹ đêm hôm khiến nó không kịp chào nội, vừa đi vừa chạy theo. Một lần đã được mẹ dẫn đi chợ, nó nghĩ tự mình có thể. Sáu tuổi đầu và đường xa hơn chục cây số. Đứa bé rồi cũng tới đường. Cũng tới bến xe. Nó leo lên từng chiếc xe đò ngơ ngác tìm. Không có. Nó quanh quẩn ở bến xe khi chiếc cuối cùng rời đi mới lủi thủi quay về.

 

Minh họa: Thành Chương


 

Nó chưa biết mặt cha nên khái niệm gia đình trong nó chỉ gom lại má và bà nội, với ngôi nhà lá mái, hơi tối với hàng cột, những vách gỗ chạm khắc, các diềm gỗ cầu kì xoi tiện trước dãy bàn thờ mà nếu không phải ngày cúng giỗ mở toang các cửa, nó không bao giờ dám lên nhà trên. Tuổi thơ nó là khu vườn rộng tít tắp đến bờ sông trồng dừa, mùa chim dồng dộc mấy ông cậu thường bắt tổ thả xuống cho nó xỏ chân vào làm giày, tha hồ giẫm lên mấy bụi gai mắc cỡ.
Má nó đã có bầu và bỏ đi. Nghe nói vô Quy Nhơn tá túc nhà ngoại. Cái lằng lặng của ngôi nhà cổ không có đàn ông dù quen thuộc cũng không làm sự hụt hẫng mất mẹ ít hơn. Vài lần ngó rừng dừa, ngó nội quạnh hiu, nó chảy nước mắt. Nó thường một mình và mỗi ngày chỉ nói vài câu gì đó thật cần.
Rừng dừa cũng đổ gục dần. Cuộc chiến đã bắt đầu. Con đường chuyển quân qua bên kia sông, những cuộc tập kết đơn vị trước hoặc sau một trận đánh, rừng dừa có ngày gục ngã năm, bảy cây. Tuổi thơ nó dần tan hoang.
Khi chiến tranh bắt đầu lan rộng, má nó bỗng trở về với em Duyên. Bà nội đã nhờ người vào bảo má về, mẹ con bà cháu có nhau. Rồi đào hầm tránh bom đạn. Xóm này nhà nào cũng đã đào hầm. Chỉ cần nghe trên đồi Mười hoặc dốc chợ Bộng có tiếng đề-pa là ai cũng vội ra hầm. Nó đã biết bồng em những lúc ấy cho má, bà bưng bê thứ đang làm xuống hầm làm tiếp. Hầm cũng là nhà.
Rồi má có em Duy. Gia đình đông người hơn, bận rộn hơn nhưng rừng dừa giờ chỉ còn mươi cây mảnh bom đạn loang lổ trên thân, tán lá xơ xác. Những cây cụt ngọn trơ khấc lên trời một tín hiệu phi lí. Chôn cất bà nội và sau mấy tuần tang, mẹ con nó đùm túm nhau rời làng vô Quy Nhơn. Nó, hơn mười tuổi, ngoái nhìn một lần ngôi nhà chỉ còn đống tro và rừng dừa tan hoang, biết rằng đã mất quê hương.
*
*     *
Gã thi đỗ đệ thất vào trường trung học Cường Đễ danh giá, tham gia hoạt động hướng đạo và bắt đầu chơi đàn. Có thể nói cây guitar chờ gã từ lâu như chờ một người tình. Đàn và gã thấu hiểu nhau và nhanh chóng chiếm trọn nhau. Gã miệt mài tập chơi những bản nhạc khó đến khi không sai một nốt nào và sau đó thì quên hẳn. Những lần chơi sau, các hòa âm cứ tự tìm đến với tâm trạng gã, với cảnh và người chung quanh, mỗi lần chơi mỗi khác. Gã là một guitarist đúng nghĩa.
Gã nhập giới đàn ca tài tử, giới hướng đạo và lang bạt kì hồ mùa hè. Những đêm không ngủ, những cuộc rượu, những quán bar.
Và gã yêu, năm mười sáu. Cô ca sĩ lớn hơn gã bảy, tám tuổi đang là một hiện tượng cùng chồng, một nhạc sĩ tài hoa thành cặp song ca đình đám nhất thời này. Ca sĩ Lê Uyên đẹp hút hồn với chất giọng thổ khơi vơi vào quên lãng. Cô và chồng cô cũng yêu mến gã. Chồng cô yêu một bạn trẻ có tài. Cô yêu một bạn trẻ mê mình - ánh mắt và sự lúng túng của gã đã tiết lộ điều đó.
Không có li kì nào trong cuộc yêu đầu đời của gã nhưng mãi về sau này dường như gã không thể có cuộc tình đúng nghĩa với thật nhiều phụ nữ khác.
Gã chơi thuốc cùng đám bạn con tướng tá Sài Gòn. Chơi cho biết. Thường là bạch phiến, muốn bay hơn thì có hồng phiến. Và gái. Không thiếu gái Thái, gái Phi ở mấy tụ điểm vui chơi giải trí đặc biệt. Thời này, miền Nam Việt Nam là thiên đường kiếm tiền của gái điếm khu vực. Rượu vang đầy những bồn lớn như bồn tắm, trên thành bồn là xô đá, nhiều lát chanh và muối. Thích rượu nặng thì trên bàn có Johnnie Walker, Black & White… Các em phì phèo Salem, Kool, nhai kẹo cao su. Hát, nhảy, và cần gái nào thì đưa vào dãy phòng bên cạnh. Xong ra uống, hát, nhảy, thích thì đưa các em vào tiếp. Chỉ ngày chủ nhật mới có thiên đường thác loạn vậy, những ngày khác bán đồ ăn uống, cà phê. Không phải ai cũng vào được vòng trong - tụi bạn con tướng hoặc con tỉnh trưởng mới đưa được gã vào.
Thời này, có lần tổ chức nội thành gặp gã bảo đưa lên núi, ra Bắc học hành. Gã từ chối. Gã thấy cuộc sống đang sống đáng sống.
*
*     *
Những ngày đầu giải phóng gã cũng vui. Sẽ không còn ai phải chết trận nữa. Gã con nhà tập kết nên được phường mời lên tham gia các hoạt động thanh niên. Năng lực tổ chức hướng đạo của gã rất đắc dụng, nhưng chuyện đàn cho sinh hoạt văn nghệ thì gã từ chối. Gã không quen với dòng nhạc hừng hực chiến đấu.
Rồi gã nhanh chóng thấy ớn. Rất nhiều thanh niên tự kiếm đâu ra cái xà-cột, mũ cối, dép râu, hàng ngày tới phường nói với vị quân quản, có việc gì phân công tụi em làm. Lăng xăng gột rửa tàn dư Mĩ - ngụy. Đóm điếu các kiểu. Gã thấy bọn này thật tởm. Và không tham gia bất kì việc phường nào nữa. Gã ôm cây đàn chơi với bạn. Và xì ke lai rai, rượu thuốc.
Ngày giáo sư về trong gã có tâm trạng buồn vui lẫn lộn, buồn là chính. Gã vốn không có cha, giờ có cũng vui chút. Nhưng cách ông nói về sách, về sự học làm gã thất vọng. Đi ra trường đại học của giáo sư gã đã cố. Nhưng rồi không thể. Gã thấy lạc loài trong mắt cha, lạc loài với thời cuộc. Gã là quá khứ, một quá khứ nhiễm vào máu thịt không thể gột rửa. Và gã cũng không hề muốn gột rửa.
Bỏ trường về, gã điếng người khi toàn bộ sách gã bị phường cho người tới nhà thu sạch đem đốt. Chiến dịch tiêu hủy “văn hóa phẩm đồi trụy” này giáng cho gã một đòn chí mạng. Gã lao vào xì ke không có điểm dừng. Mối bán bí mật gã biết từ trước bảy lăm, giờ đắc dụng. Khi quân đội tháo chạy, tay thượng sĩ già quân y đã gom hết mấy thứ thuốc hiếm quý về nhà. Gã mua rồi bán lấy lời đủ chơi xài ung dung.
Phường lại mời gã lên, công an nhờ gã chơi với tụi bạn trước bảy lăm, chỉ điểm thằng nào hàng năm đưa đi cải tạo. Gã ô kê làm đặc tình để được công an bảo kê. Thời này có chuyện khoán tù: mỗi năm từng phường sẽ đưa vào trại mười mấy hai chục thằng, chả có tội gì cụ thể, cứ đàn đúm, chơi lêu lổng cũng hốt. Chỉ cần điền tên vào tờ lệnh tập trung cải tạo không thời hạn những phần tử nguy hại cho xã hội là xong, không biết ngày nào ra trại. Gã ừ hữ rồi báo mông lung,
chẳng hốt được ai.

Gã chơi thí mạng. Có lúc gã làm liều đúp cho chết. Hai lần má gã hoảng hồn thấy gã bất tỉnh, miệng sùi bọt mép, tim như ngưng đập, khóc kể chở vô bệnh viện. Rồi gã sống. Chơi tiếp. Ven tay ven chân gã nổi nhiều cục mãi không tan. Đến ba năm sau tới phần gã bị đưa đi cải tạo. Gã không bị oan như các tốp trước. Tội chích choác và mua bán rành rành.
Ở trại cũng có hàng chuyển vào nhưng gã không chơi nữa. Gã đã định chết, không chết thì sống vậy.
Một lần, gã có người thăm nuôi. Cán bộ đưa tên người đăng kí hỏi gã liên quan gì với ông giáo sư, gã nói không liên quan và từ chối ra gặp. Mấy món quà cán bộ mang vào, gã để cho mọi người cùng phòng xài.
Thực ra gã cũng thấy người cha tốt với gia đình. Tiền lương của ông luôn được dành dụm gửi về phụ giúp má nuôi mấy đứa nhỏ. Nhưng đó là chuyện khác.
Gã đã dành thời gian gần một năm để làm cây đàn. Một cánh cửa sổ hư là có gỗ. Hông thùng đàn dùng câu liêm nạo dần rồi hơ lửa, bên trên để mùn cưa tẩm nước, cứ uốn dần. Đóng vào hai mặt bằng đinh chỉ xin trại mộc. Dây đàn dùng ruột dây điện thoại xin ngoài tù tự giác. Ba dây bốn năm sáu quấn bằng dây đồng trong tăng-phô hư các cỡ, phím đàn dùng kẽm lớn đập dẹp… Quái là cây đàn tự chế của gã nghe còn hay hơn đàn chợ bấy giờ. Cây đàn đã giúp gã tồn tại gần bốn năm ở trại tù.  
Ngày về gã được quyền chọn nơi cư trú như quy định của trại. Có thể chọn bất kì đâu nếu không muốn về Quy Nhơn. Gã đã chọn về lại nơi mình từng sống. Không phải nôm na làm lại cuộc đời. Cuộc đời gã có gì phải làm lại, đơn giản vì gã muốn sống, cần sống như một bản lĩnh, như một chung thủy với cây đàn, như một đứa con, người anh của gia đình mình. Một gia đình từng chắp vá những mẩu vất vưởng bên lề cuộc sống.
*
*      *
Giáo sư hàng năm có về, ngày giỗ cha mẹ. Ông không lập bàn thờ riêng nơi mình sống. Ông biết hơn hai mươi năm biền biệt, cha mẹ mình đã được phụng thờ ở đây, trong ngôi nhà cũ và nhà này. Ông vẫn chăm lo mọi thứ không chỉ chuyện tiền bạc. Lí lịch con Duyên quá khó, ông đã ra phường bảo lãnh. Thi tốt nghiệp xong, ông hướng nó thi vào trường ông dạy. Nó học giỏi nên thi đỗ. Nó sống cùng ông ở kí túc xá giờ đã xây dựng khang trang, hàng ngày tranh thủ đi chợ nấu nướng. Duyên ra trường, ông xin việc ở Đà Nẵng, rồi lo chuyện chồng con cho nó. Mấy năm sau vợ chồng nó mua được nhà. Thằng Duy học ở Quy Nhơn, ra trường ông xin về thử việc ở Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Quảng Nam. Các mối quan hệ của ông khá tốt vì nhiều cán bộ cấp tỉnh là học trò ông.
Còn gã ở với má. Những lần về ông và gã vẫn nhẹ nhàng cha con nhưng ông không bao giờ nhắc nhở chuyện sống thế nào. Có thể ông đã nghĩ lại rằng, những điều ông khuyên bảo gã ngày gặp lại là không đúng, hoặc có thể đơn giản ông cho rằng gã là một thế giới ông không thể hiểu, không thể tiếp cận.
Một lần cả nhà sum vầy ngày giỗ vui vẻ sau khi gã ra tù, ông hỏi sao ngày đó con không đi với đường dây ra Bắc, gã chỉ nói đơn giản rằng hài lòng cuộc sống đang có. Ông gật gù không nói gì. Cũng không đả động chuyện gã bỏ trường về nhà, chuyện gã không gặp ông ở trại tù.
Ngày má mất, ông cùng mấy đứa về, chuyện hậu sự xong, lúc gã tiễn ông ra xe, ông ngần ngừ rồi bảo, con cưới vợ đi, sống một mình sao được. Ba đã một mình mấy chục năm ba biết, khổ lắm. Giờ ngoài kia ba có vợ chồng con Duyên, mấy cháu. Rồi thằng Duy nay mai cũng ổn định. Con lúc nào cưới thì báo tin cho ba về nhé.
Ông ôm gã, nghẹn lời, ba biết ba đã sai, cả chục năm sau, quan sát mọi thứ, ba biết ba nghĩ về con, cư xử với con năm đầu gặp con là sai.
Và điều này làm gã bất ngờ, ông bảo bên cạnh mộ mẹ con trong nghĩa địa thành phố còn khoảng đất, ba muốn mua mai sau sẽ về nằm cạnh mẹ con. Ý con sao?
Gã chỉ dà dạ. Nhưng khi ông đi rồi, gã đã liên hệ mua khoảnh đất ấy rồi cho xây sẵn cái kim tỉnh.
*
*    *
Gã bàn với mấy đứa em tổ chức hỏa táng cha. Ôm cái bình đựng dúm tro cùng vợ chồng con cái Duyên, Duy về an táng bên cạnh mộ mẹ. Mấy ngày xây mộ, mấy đứa em đứa cháu cùng ở trong ngôi nhà gia đình. Đêm nào gã cũng gầy cuộc rượu đến khuya, gã cứ muốn ngồi mãi với những người thân còn lại. Thật lạ lùng, cảm giác đoàn tụ, cảm giác gia đình đúng nghĩa giờ mới thực sự có trong gã. Uống bao nhiêu gã cũng không say. Chỉ lòng mềm nhũn. Và khi mấy đứa em đã đi nghỉ, khóe mắt gã ri rỉ thứ nước đặc sánh. Nó không như nước mắt.
Duyên bảo: Anh hai, mãn tang ba anh cưới vợ đi. Anh sống một mình vầy, tụi em thì ở xa…
Thằng Duy, Tiến chồng Duyên cũng góp lời. Gã chỉ ậm ừ. Rồi chỉ bừa vào dãy đàn quý gã mua được mấy năm qua từ Yamaha, đến Aria, Matsuoka…
Duyên khóc, anh hai biết không, ba cứ nói điều đó với tụi em hoài, bảo thương anh và chưa thể yên tâm khi anh cứ sống một mình. Hồi má còn sống lần nào em về má cũng cứ bảo tụi em thúc anh. Bao nhiêu người thương anh sờ sờ ra đó, anh chọn ai tụi em cũng ủng hộ hết.
Gã không kể chuyện giáo sư nói với gã chuyện ấy. Đời gã có nhiều đàn bà. Trong nước, ngoài nước. Ai mỏi thì cứ lấy chồng. Gã không có ý trói buộc ai cùng mình. Gia đình, với gã đã tan hoang từ lâu, từ tít xa tuổi thơ trong khói lửa, từ buổi sáng chạy đi tìm mẹ.
Một tối khi mấy đứa em đã đi ngủ, gã giở cuốn sổ giáo sư để lại. Ông vẫn giữ tờ giấy gã viết vỏn vẹn mấy chữ: Con về. Mong ba hài lòng với lựa chọn của mình. Con sẽ tự lo phần đời con. Ba giữ gìn sức khỏe.
Trong sổ giáo sư không viết gì nhiều. Ông không ghi ngày tháng nhưng dễ nhận ra những mẩu rời được viết nhiều thời gian khác nhau. Không một dòng trách cứ vợ. Với gã cũng vậy. Rất tiếc là ba đã không chăm sóc được con hai mươi năm qua. Bây giờ cũng vậy/…/ Dù ba muốn khác nhưng ba tôn trọng lựa chọn của con/…/ Sao đến nông nỗi này Hoài ơi?/.../ Mừng con đã đi qua những ngày gian nan nhất của mình/ Ba già thật rồi, mỏi mệt thật rồi/…/ Lúc nào con cũng canh cánh trong lòng ba. Sao mãi con không lập gia đình?...
Gia đình ư? Cưới vợ là lập gia đình? Có cần không cái gia đình ấy? Và cũng đơn giản biết bao nếu cần một bề ngoài gia đình yêu thương, chăm sóc nhau? Gã không chắc lắm. Nhưng lòng gã đang dần ấm áp khi tiếp nhận những lo lắng của người thân dành cho mình.
Gia đình, ừ, giờ đang hình thành trong lòng gã. Đang dần có trong hồn gã. Người cha đã về. Về thật sau chuyến đi dài. Của ông. Của gã. Gã đốt tiếp cây hương và nhìn thật lâu di ảnh trên bàn thờ.
Và thật bất ngờ, gã khóc nức lên. Lần đầu đời gã được khóc. Gã lập cập cầm cây đàn trong ràn rụa nước mắt.
Trại sáng tác Đà Lạt, tháng 3/2016
Nguồn Vannghequandoi

 

Trang 10 trong tổng số 124 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1020
mod_vvisit_counterHôm qua4418
mod_vvisit_counterTất cả4519058

20 139
,
Hôm nay:26 - 3 - 2017
Hiện có 482 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: