Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> 360 độ X

360 độ X

Thủy thủ tàu biển đoạt giải nhất "Văn học tuổi 20"

Thủy thủ tàu biển đoạt giải nhất

Vượt qua gần 200 bản thảo tham dự cuộc vận động sáng tác dành cho người yêu viết lách, chàng kỹ sư điện 34 tuổi, làm việc trên tàu viễn dương, đoạt giải cao nhất với tiểu thuyết mang tên "Biển".

Lễ trao giải cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần thứ tư, diễn ra sáng 5/9 tại Tòa soạn báo Tuổi Trẻ, TP HCM. Sự kiện văn học này thu hút hàng trăm độc giả, cùng nhiều nhà văn tham dự.

Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư (trái), giải nhất Văn học tuổi 20 lần 2 (năm 2000) chia sẻ niềm vui với tác giả Trương Anh Quốc.


Trước khi diễn ra lễ trao giải, Ban tổ chức cuộc thi chỉ công bố tên 9 tác giả và chưa thông báo thứ hạng. Vì thế, buổi lễ mang đến nhiều bất ngờ và thú vị với người dự. Khi Trương Anh Quốc được xướng tên là người đoạt giải cao nhất, nhiều tiếng vỗ tay từ hàng ghế khán giả vang lên chúc mừng anh.

Trương Anh Quốc là gương mặt vừa lạ vừa quen với giới viết lách. Lạ vì như tác giả này tự nhận, viết lách không phải là nghề chính của anh. Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kỹ thuật, ra trường với tấm bằng kỹ sự điện, Trương Anh Quốc bắt đầu công việc qua những chuyến lênh đênh trên tàu viễn dương. Nhưng anh lại là "người quen" vì chính từ công việc này, chàng trai xứ Quảng viết được tập truyện ngắn "Sóng biển rì rào", đoạt giải nhì Văn học tuổi lần 3 (2005). Sau đó, Trương Anh Quốc còn cho ra mắt tập truyện "Lũ đầu mùa" (2008), và có nhiều tác phẩm in trong các tuyển tập.

Trương Anh Quốc từng đoạt giải nhì cuộc vận động sáng tác văn học tuổi 20 lần 3 vào năm 2005 với tập truyện ngắn "Sóng biển rì rào".

 

Chuyến hải trình đầu tiên của Trương Anh Quốc bắt đầu từ năm 2003. Anh chia sẻ, mình đã được đi gần như vòng quanh thế giới. Những chuyến dọc ngang châu Á, châu Phi, châu Mỹ... trên lộ trình hàng hải giúp tác giả 34 tuổi bày tỏ những trải nghiệm khác nhau của mình qua tiểu thuyết "Biển", tác phẩm đoạt giải cao nhất Văn học tuổi 20 năm nay.

Nhà văn Nguyên Ngọc, thành viên ban giám khảo cuộc thi cho rằng, tiểu thuyết "Biển" là cuốn sách hay và độc đáo. Theo ông, thoạt đầu người ta có thể ngỡ "Biển" là tập truyện ngắn hoặc bút ký. Tuy vậy, càng đọc, chất tiểu thuyết của cuốn sách càng lộ ra, cho thấy một vốn sống giàu có, mạnh mẽ và sâu sắc... "và điều đáng quý là dù giàu vốn sống và tích lũy được nhiều tư liệu thực tế, nhưng Trương Anh Quốc viết súc tích, nhẹ nhàng chứng tỏ bản lĩnh của một ngòi bút", nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét.

9 tác giả đoạt giải Văn học tuổi 20 lần 4, từ trái qua: Võ Diệu Thanh, Trương Anh Quốc, Nguyễn Thị Mạnh Hà, Hương Thị, Nguyễn Thiên Ngân, Mai Anh Tuấn, Thiên Di, Đỗ Duy và Hải Miên.


Chia sẻ niềm vui thắng giải với mọi người, Trương Anh Quốc cho biết, viết lách với anh là công việc của cảm xúc và anh không phải chịu bất cứ áp lực nào khi sáng tác.

"Do công việc suốt ngày lênh đênh trên biển. Tôi không có thời gian để tìm hiểu về cuộc sống và tâm tư của người trên bờ nên đành chọn biển và cuộc sống trên biển làm đề tài. Tôi chỉ dám viết về những gì mình am hiểu chứ không dám viết về những gì mình còn lơ mơ", thủ khoa cuộc thi văn học trả lời về việc chọn đề tài viết lách của mình.

Ngoài Trương Anh Quốc, Văn học tuổi 20 còn trao giải cho 8 tác giả khác là: Võ Diệu Thanh (giải nhì), Hải Miên và Mai Anh Tuấn (đồng giải ba), Hương Thị, Nguyễn Thị Mạnh Hà, Thiên Di, Nguyễn Thiên Ngân và Đỗ Duy (đồng giải tư)... Qua các tập truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết của những tác giả này, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, đã có thể mường tượng được về diện mạo văn học của người trẻ, những người viết về chính cuộc sống hôm nay với nhiều tìm tòi, khám phá lẫn suy tư.

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần thứ 4 do Hội nhà văn TP HCM, báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ phát động từ ngày 24/3/2009 đến 30/4/2010.

Qua hơn một năm phát động, cuộc thi nhận được 197 tác phẩm tham dự, đa phần là truyện ngắn. Các cây bút dự thi đến từ cả 3 miền đất nước. Trong đó, miền Bắc khoảng 20%, miền Trung 30%, miền Nam 50%, đa số ở lứa tuổi 8X. Người dự thi lớn tuổi nhất sinh năm 1937, trẻ nhất sinh năm 1993. Nghề nghiệp của các tác giả cũng rất đa dạng như: học sinh sinh viên, nhà báo, nhà giáo, công nhân, kỹ sư, bác sĩ, văn nghệ sĩ, doanh nhân…

Những năm qua, Văn học tuổi 20 là một sân chơi văn chương được nhiều độc giả đón đợi. Cuộc vận động sáng tác này đã mang đến cho văn đàn trong nước những tên tuổi như: Nguyên Hương (giải nhất lần 1 - 1996), Nguyễn Ngọc Tư (giải nhất lần 2 - 2000), Trần Thị Hồng Hạnh (giải nhất lần 3 - 2005), Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Dương Thụy, Phong Điệp...

Kết quả giải thưởng "Văn học tuổi 20" lần 4:


Giải nhất: Tiểu thuyết "Biển" của Trương Anh Quốc. Trị giá giải thưởng 50 triệu đồng.

Giải nhì: Tập truyện ngắn "Cô con gái ngỗ ngược" của Võ Diệu Thanh.

Giải ba: Tập truyện ngắn "Visa" của Hải Miên, tiểu thuyết "Giảng đường yêu dấu" của Mai Anh Tuấn.

Giải tư: Tập truyện ngắn "Tạm trú" của Đỗ Duy, truyện dài "Giấc mơ bên gốc vú sữa" của Nguyễn Thị Mạnh Hà, truyện vừa "Thuê bao quý khách..." của Hương Thị, tiểu thuyết "Những giao diện ẩn" của Thiên Di, tiểu thuyết "Những chuyển điệu" của Nguyễn Thiên Ngân.

Theo Evan.

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần 4: Gương mặt cuộc sống hôm nay

Cuộc thi Văn học tuổi 20 lần 4: Gương mặt cuộc sống hôm nay

Kết quả cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 gần như sẽ làm hài lòng những người yêu mến Văn học tuổi 20: 8/9 tác giả đoạt giải là những gương mặt hoàn toàn mới của giải. Và quan trọng hơn, tác phẩm của họ đủ để người đọc đặt cược niềm tin vào người trẻ.

+ 9 tác phẩm đoạt giải


Lễ trao giải cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 do NXB Trẻ, Hội Nhà văn TP.HCM và báo Tuổi Trẻ tổ chức sẽ diễn ra lúc 9g ngày 5 - 9 - 2010 tại tòa soạn báo Tuổi Trẻ (60A Hoàng Văn Thụ, Q.Phú Nhuận, TP.HCM).

Chín tác phẩm - tác giả đoạt giải cuộc thi năm nay gồm: các tập truyện ngắn: "Tạm trú" (Đỗ Duy), "Visa" (Hải Miên), "Cô con gái ngỗ ngược" (Võ Diệu Thanh), tập truyện vừa: "Thuê bao quý khách..." (Hương Thị), truyện dài: "Giấc mơ bên gốc vú sữa" (Nguyễn Thị Mạnh Hà) và các tiểu thuyết: "Những giao diện ẩn" (Trịnh Thị Mỹ Ngọc - bút danh: Thiên Di), "Những chuyển điệu" (Nguyễn Thiên Ngân), "Biển" (Trương Anh Quốc), "Giảng đường yêu dấu" (Mai Anh Tuấn). Chín tác phẩm đoạt giải đã được in sách và sẽ phát hành từ ngày 5-9. Các tác phẩm khác vào vòng chung khảo sẽ được chọn lọc để in, trước mắt là ba tác phẩm: "Hố sâu, rắn, sẹo và tình yêu" - "Vì những trái dầu cũng có đôi" - "Những chiếc chìa khóa bị đánh mất". Tổng giá trị giải thưởng của cuộc thi là 170 triệu đồng (thay vì 150 triệu đồng như công bố trước đó).
Năm nay, ban tổ chức giữ kín kết quả giải thưởng đến tận lễ trao giải (5 - 9) để gây bất ngờ như lễ trao giải... Oscar. Ngay cả chín tác giả đoạt giải cũng chỉ biết mình được mời đến nhận giải nhưng không biết sẽ được trao giải nào. Ðiều đặc biệt, trừ ba tác giả thuộc thế hệ 7X, 6/9 tác giả đoạt giải năm nay đều thuộc thế hệ 8X, trẻ nhất là một gương mặt nữ sắp tròn 22 tuổi.
Ðó cũng là niềm vui lớn nhất của ban tổ chức ở giải lần này khi tuổi trung bình của các tác giả đoạt giải thấp nhất so với ba lần trước: 27,2 tuổi (lần 1 là 28,6; lần 2 là 30,7 và lần 3 là 32,8 tuổi). Không hẹn mà "đại diện" các vùng miền cũng tề tựu khá đông đủ tại giải lần này: từ vùng biển đến phố núi, từ Vĩnh Phúc đến Sài Gòn, từ Quảng Nam, Quảng Bình đến Khánh Hòa, Bình Thuận, Tây Ninh rồi An Giang, Cà Mau...

+ Những giọng điệu riêng

Phát động từ tháng 3 - 2009, cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 đã được khởi động trong sự hồi hộp của ban tổ chức khi đến giữa chặng đường, số bản thảo gửi đến tham dự vẫn còn khá ít ỏi.

Cứ ngỡ rằng giữa thời đại mọi thứ đều có thể xuất bản một cách dễ dàng, nhanh chóng, cuộc chơi "ém bản thảo" như cuộc thi viết này đã đến lúc cần thay đổi thể lệ. Nhưng không, con số 197 bản thảo tham dự (nhiều hơn lần 2 bốn tác phẩm và ít hơn lần 3 tám tác phẩm) cho thấy: vẫn còn rất nhiều cây bút âm thầm "dành tặng" những tác phẩm của mình cho một sân chơi văn chương luôn chờ đợi những tiếng nói mới này.

Chưa vội nói đến các tác phẩm gặt hái được giải thưởng ở cuộc thi, trong cả những tác phẩm không được chọn vào vòng chung khảo hoặc chỉ dừng ở vòng chung khảo một, đã có manh nha những cây bút khiến các giám khảo thích thú lẫn... tò mò về người viết vì những giọng điệu riêng ấn tượng - cái riêng ấy lại là cái không phải cây bút chuyên nghiệp nào cũng "sở hữu" được.

Như một số truyện ngắn của các tác giả đã được trích đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần: "Tờ rơi", "Con chim bồ câu", "Sarika không hót nữa"... Chỉ tiếc một chất giọng lóe sáng ở vài cung bậc chưa đủ làm nên một tiếng nói đầy đặn. Hoặc một sự đều tay trong bút lực, một cốt truyện tròn trịa lại chưa đủ làm nên một giọng văn đáng nhớ. Có những tác phẩm hay bị nằm lại cùng những tập bản thảo như vậy khiến ban tổ chức dự kiến sẽ làm một tuyển tập truyện ngắn hay từ những bản thảo chưa được in sách lần này.

Từ 23 tác phẩm vào vòng chung khảo một, ban chung khảo (gồm nhà văn Nguyên Ngọc, GS Lê Ngọc Trà, nhà văn Lê Văn Thảo, nhà văn Phan Thị Vàng Anh và nhà báo Thúy Nga) đã phải "tinh tuyển" lần nữa sau nhiều cuộc họp để chọn ra 12 tác phẩm vào chung khảo hai, trong đó có chín tác phẩm đoạt giải, vượt con số dự kiến một giải thưởng do có đến hai tác phẩm cùng đoạt giải ba. Số lượng giải thưởng "dôi" ra cũng phần nào cho thấy sự thành công bước đầu của giải lần này.

Ở đó, có "một thứ văn trẻ trung nóng hổi bốc khói, xốc xới, hồ hởi" (nhà văn Nguyễn Ngọc Tư viết lời giới thiệu cho tập truyện ngắn "Tạm trú"); "văn chương đẹp đẽ, lãng mạn có sức cuốn hút, mời gọi tuổi trẻ ở vị ngọt ngào" (nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói về tiểu thuyết "Những chuyển điệu"); có "lối văn hàm súc, thuần thục, tự nhiên mà khá lôi cuốn, hấp dẫn và ít nhiều có dư âm, có sức ám ảnh khá mạnh mẽ" (tiến sĩ Nguyễn Thành Thi giới thiệu tập "Giảng đường yêu dấu"), có giọng văn dung dị nhiều màu sắc mà trưởng ban giám khảo - nhà văn Lê Văn Thảo tin có thể "để lại dấu ấn mình vào nền văn học "miền Tây hoang dã" và cả nước" ("Cô con gái ngỗ ngược"). Ở đó, có tác phẩm mà nhà văn Nguyên Ngọc "vượt qua chút cảm giác ngờ ngợ lúc đầu, bỗng dần dần thấy bị cuốn hút, đến không dứt ra được" ("Biển").

Còn có một "dấu ấn" khác mà các cuộc thi trước đây chưa đóng dấu rõ: viết về mất mát. Lời bình cũng là lời giới thiệu cho tập truyện "Visa" của giám khảo trẻ nhất trong ban chung khảo cuộc thi lần này - nhà văn Phan Thị Vàng Anh - là một hàm ngôn nói lên cái "được" khá độc đáo của một tác phẩm mà cũng là của giải thưởng lần này: "Có một cái khác lớn nhất của tuổi trẻ mỗi thời, chính là cái mất mát. Viết lại được cái sôi động, cái buồn vơ vẩn của tuổi 20 đã là hay, nhưng viết được cái mất mát khác biệt của tuổi 20 mỗi thời mới là khó". Và như Vàng Anh nói, tác giả đã làm được điều này. Không riết róng như "Visa", cái mất mát đó còn bàng bạc trong nhiều tác phẩm khác.

+ Đặt niềm tin vào người trẻ

Theo nhà báo Thúy Nga - thành viên ban chung khảo, tác phẩm đoạt giải nào cũng có mặt mạnh mặt yếu, nhưng nhìn chung cái thú vị của cả cuộc thi là các tác giả mỗi người mỗi nét đã phác thảo nên gương mặt của cuộc sống hôm nay, cái hôm nay của bây giờ, với tất cả lo toan, bận rộn, chộn rộn... rất đặc thù của hiện tại.

Nhấn mạnh về sự thật của đời sống hiện tại trong các tác phẩm dự thi và trông cậy vào văn học trẻ như "người cầm nắm văn học tương lai của đất nước", nhà văn Lê Văn Thảo - trưởng ban chung khảo, nguyên chủ tịch Hội Nhà văn TP.HCM - ghi nhận nhiều điểm theo ông là đáng quý về cuộc thi - "một góc văn học trẻ" năm nay: "Ðiều đáng quý nhất là đa số truyện là của các tác giả trẻ, tác giả trẻ viết về thế hệ mình, mạnh dạn khai phá những vấn đề mới.

Thứ đến, có thể nói là quan trọng nhất là tính giản dị, chân thật của tác phẩm; cuộc sống, tầm nhìn trần trụi, thô mộc được phản ánh sinh động, đa dạng, phong phú. Văn học những năm gần đây chuộng sự thật, tính tư liệu, thông tin, tự sự là không thể thiếu. Cuộc thi lần này phần nào thể hiện được điều đó. Ðó cũng chính là mặt mạnh của văn học trẻ hiện đại".

Nhìn lại số đầu sách mà NXB Trẻ sắp phát hành từ cuộc thi, ông Nguyễn Thế Truật - trưởng ban tổ chức, phó giám đốc NXB Trẻ - hào hứng: "Giá trị của một giải thưởng văn chương là tác phẩm. Giá trị của giải Văn học tuổi 20 bên cạnh tác phẩm còn là phát hiện những cây bút mới. Ba giải lần trước, kết quả đã góp vào đời sống văn học những tác giả thành danh sau giải.

Lần này, chúng tôi vẫn trọn niềm tin ấy, vào ba tác giả 7X và sáu tác giả 8X sẽ tự tin, góp tiếp những tác phẩm hay sau giải thưởng. Vấn đề giờ đây thuộc về cộng đồng đông đảo người đọc tìm sự đồng cảm, nhận ra những đồng điệu để đồng hành với các trang văn trên những tác phẩm đoạt giải. Bạn đọc chính là nguồn cảm hứng của người viết, dõi theo sự trưởng thành từng ngày của nhà văn. Còn chúng tôi chỉ góp một phần khiêm tốn là tạo cơ hội để nhà văn đến với người đọc, tạo cho người đọc có được nhiều tác phẩm đáng đọc".

Cũng đặt niềm tin cuối cùng vào người đọc, nhà văn Lê Văn Thảo thận trọng: "Ban giám khảo chúng tôi đã làm việc kỹ càng, khó khăn trong việc lựa chọn vì các tác phẩm suýt soát nhau, hơn kém không nhiều. Ðiều chúng tôi thật sự vui mừng là thấy qua các tác phẩm, bút lực các tác giả còn rất dồi dào, tin rằng các anh chị còn viết tốt hơn nữa trong thời gian tới. Kết quả chấm giải của ban giám khảo, dù có được sự đồng thuận cao, cũng chỉ là của một số người, sự thẩm định chính xác nhất vẫn là của thời gian và công chúng bạn đọc".

Theo giadinhaotrang

 

Phê bình trẻ: chấp nhận khó khăn, thử thách và cả thất bại

Phê bình trẻ: chấp nhận khó khăn, thử thách và cả thất bại

Những người làm phê bình trẻ hiện nay hầu hết đều xuất thân từ khoa văn các trường đại học lớn như Đại học khoa học xã hội nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học sư phạm I, Đại học sư phạm II… Trong bốn năm học đại học, họ được trang bị một hệ thống kiến thức văn học tương đối toàn diện giúp họ có được cái nhìn khái quát, tổng thể về văn học Việt Nam và thế giới, nắm được những nguyên lý, phương pháp, thao tác cơ bản, cần thiết phục vụ cho công việc nghiên cứu, phê bình văn học. Những kiến thức đó là hành trang quý giá cho những người làm phê bình trẻ khi mới vào nghề.

Song  chương trình giảng dạy, đào tạo ở khoa văn các trường đại học cũng tạo ra những khó khăn khách quan cho họ. Số là ở các khoa văn học mới chỉ có tổ văn học hiện đại chứ chưa có tổ văn học đương đại. Trong tiến trình văn học sử Việt Nam, sinh viên cũng chỉ được học đến giai đoạn đổi mới, dừng lại ở cái mốc 1991 - 1992, năm ra đời của ba tiểu thuyết đỉnh cao "Nỗi buồn chiến tranh", "Bến không chồng", "Mảnh đất lắm người nhiều ma", còn những đời sống văn học đương đại thì sinh viên phải… tự tìm hiểu là chủ yếu. Điều này hoàn toàn đúng đắn và hợp lý. Những kiến thức, những tác giả, tác phẩm đưa vào dạy sinh viên phải là những kiến thức được quy chuẩn, là những tác giả, tác phẩm đã định hình, có đóng góp cho nền văn học nước nhà, vượt qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, của công chúng. Trong khi đó, đời sống văn học đương đại luôn là thành tố động, các tác giả, tác phẩm văn học chưa định hình, ổn định một cách chắc chắn nên không thể đưa vào chương trình giảng dạy. Ở bậc đại học văn học đương đại chỉ được nhắc đến ở mức độ những hiện tượng văn học đơn lẻ thông qua những bài tập lớn hay khóa luận tốt nghiệp các thầy cô giáo cho sinh viên tìm hiểu, nghiên cứu để nhận xét bước đầu.

Lí luận phê bình trẻ, ai trong số họ?

Do chỉ dừng lại ở mức độ hiện tượng nên nhìn chung kiến thức về văn học đương đại của các sinh viên còn hạn chế, mà hoạt động phê bình thường gắn liền với đời sống văn học đương đại. Vậy nên lúc ra trường, những sinh viên khi đi theo nghề phê bình phải mất một khoảng thời gian (tùy vào nỗ lực) của mỗi người để tìm hiểu, cập nhật đời sống văn học đương đại nhằm xây dựng cho mình cái nhìn tương đối tổng quát về nó. Còn nhớ khi mới về "nhà số 4",  tôi hoa cả mắt khi lạc vào "mê hồn trận" của những tác phẩm, tác giả trẻ. Và mặc dù được nhà văn Sương Nguyệt Minh cung cấp cho "bửu bối" là bản danh sách những tác giả trẻ cần quan tâm (cũng có nghĩa là qua đã "sàng lọc" một phần) song tôi cũng phải mất một khoảng thời gian dài để hòa mình vào dòng chảy gấp gáp của văn học đương đại. Đây là khó khăn khách quan và tất yếu của những người làm phê bình trẻ khi "chân ướt chân ráo" vào nghề.

Một điểm nữa tưởng chừng như phi lý nhưng có thật trong thời buổi sách báo xuất bản dễ dàng hiện nay là việc tìm đọc các tác phẩm… tương đối khó khăn. Ngoại trừ trường hợp được tác giả tặng sách, còn nếu không để mua một tác phẩm văn học thì cách tốt nhất là phải mua ngay vào lúc nó vừa ra mắt bạn đọc nếu không chỉ sau một thời gian ngắn là rất khó tìm mua. Tôi  đã từng mướt mồ hôi lăn lê từ các nhà sách lớn ở Hà Nội đến phố sách Đinh Lễ, Nguyễn Xí để tìm các cuốn tiểu thuyết mình cần phải đọc suốt cả tuần nhưng đến đâu cũng gặp được cái lắc đầu của người bán. Lúc đó đành phải sử dụng một trong ba phương thức sau. Một, hỏi mượn bạn bè. Hai, lên trên tầng 4 thư viện Quốc Gia "ngồi thiền" vài buổi với tác phẩm mình cần đọc. Ba, tìm địa chỉ mail của tác giả, xin tác giả file word đọc trên màn hình máy tính. Hy vọng rằng trong tương lai việc tìm sách khó khăn là do sách bán chạy chứ không phải do số lượng bản in ít như hiện nay.

Khó khăn thứ hai đến từ việc sân chơi dành cho lý luận phê bình nói chung và các nhà phê bình trẻ nói riêng có sự thu hẹp nhất định. Những tờ báo có chuyên trang lý luận phê bình hiện nay không nhiều, và nếu có thì "quỹ đất" cũng tương đối hạn hẹp. Mỗi báo lại có một đặc thù, một phong cách, tiêu chí chọn bài riêng. Một bài phê bình đăng được ở báo này chưa chắc đã hợp với tờ báo kia. Đã vậy nhiều anh em làm phê bình chỉ có một "tạng phê bình" nhất định, chỉ hợp trang phê bình của đôi ba tờ báo. Số những nhà phê bình trẻ "mặt trận nào cũng chiến đấu được" tương đối hiếm. Do vậy, sự xuất hiện của các nhà phê bình trẻ trên các tờ báo văn chương chính thống cũng không nhiều.

Những người sáng tác trẻ đều mang niềm trăn trở rằng phải viết làm sao để nếu không vượt được trước tác của thế hệ đi trước thì đứa con tinh thần mình dứt ruột đẻ ra cũng phải khác, phải lạ, chứ không thể là cái bóng nhờ nhạt của những trước tác đi cùng năm tháng. Niềm trăn trở của những người sáng tác trẻ cũng là nỗi niềm của người làm phê bình trẻ. Những người làm phê bình trẻ chúng tôi, ai cũng mong muốn tạo ra được phong cách phê bình riêng, khác với các bậc phê bình nổi tiếng ngày trước như Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Trương Tửu…. Điều này đương nhiên là vô cùng khó. Tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhà phê bình Văn Giá rằng sau hai thời kỳ phê bình "chiến đấu" và phê bình "hòa giải", giờ là thời kỳ phê bình "song hành" cùng sáng tác. Như vậy là một thời kỳ mới của phê bình đã đến. Và trách nhiệm gánh vác nền phê bình ấy tất yếu thuộc về những người làm nghề như chúng tôi. Nhưng để làm rõ đặc trưng "song hành cùng sáng tác" là việc làm không dễ dàng chút nào. Song hành có phải là "bình" nhiều hơn "phê" hay còn mang những giá trị khác? Chỉ riêng việc xác định nội hàm đúng đắn cho hai chữ "song hành" cũng đã khiến những nhà phê bình trẻ mất ngủ nhiều ngày. Văn hào Lỗ Tấn có nói: Đường là do nhiều người đi mà thành. Vậy nên khi chưa làm rõ nội hàm đó tất yếu  những người làm phê bình trẻ cũng phải dấn thân, thử nghiệm nhằm tìm ra con đường hợp lý nhất. Khi đã chấp nhận dấn thân, thử nghiệm cũng đồng nghĩa với việc người làm phê bình trẻ chấp nhận những khó khăn, thử thách và cả thất bại. Thất bại là điều không ai mong muốn, nhưng trong thực tế sẽ điều không thể tránh khỏi. Viết điều này ra, tôi chỉ có mong muốn các nhà văn khi đọc một bài phê bình với những luận điểm, nhận xét "là lạ" của một nhà phê bình trẻ thì hãy nghĩ đến đây là sự thử nghiệm của một người trẻ tuổi để từ đó có cách đánh giá khách quan, công bằng hơn.

Khó khăn thật sự của các nhà phê bình trẻ đến từ công việc chính: Nhận định, đánh giá các tác phẩm. Khó khăn vì trùng lặp trong đánh giá ở tác giả, tác phẩm đã có quá nhiều người viết. Cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa viết một dòng phê bình nào về tác phẩm của một vài nhà văn cùng cơ quan (Việc làm cùng cơ quan đồng nghĩa là tôi có điều kiện thuận lợi hơn so với những người làm nghề khác) vì sợ những ý kiến mình đưa ra trùng lặp với người khác. Chưa xét đến những bài phê bình đăng trên các báo, chỉ tính riêng số khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ làm về họ đã vượt quá hai đầu ngón tay nhiều lần. Điều này đồng nghĩa với việc các tác phẩm của họ đã được nghiên cứu, mổ xẻ đến tận chân tơ kẽ tóc. Do vậy, việc tìm ra một luận điểm mới (hoàn toàn) về tác phẩm của họ là rất khó. Hơn nữa, chỉ nghĩ riêng đến việc phải tìm đọc lại tất cả các công trình viết về họ để xem có luận điểm nào trùng lặp với luận điểm mình đưa ra cũng làm tôi thấy… nản. Ở khía cạnh ngược lại, có những nhà văn trẻ sáng tác rất ít nên cũng tạo ra những khó khăn cho nhà phê bình. Nghề phê bình, theo tôi - xét trên một mặt nào đó - cũng từa tựa như nghề… dự báo thời tiết, nghĩa là nếu có càng nhiều thông số tham khảo thì khả năng dự đoán chính xác càng cao[1].

Nếu tác giả viết ít quá, thật tình rất khó đánh giá, đành chịu những lời kiểu như "Thế mới cần nhà phê bình, nhà phê bình giỏi thì chỉ cần qua một tác phẩm là đánh giá được đời văn một người, chứ còn đợi người ta viết ra hết mới đánh giá thì còn cần nhà phê bình làm gì".

Sau cùng việc giữ cho tinh thần "thanh sử" trong công việc là điều khó khăn nhất là với nghề phê bình. Với người trẻ tuổi làm phê bình điều này lại càng quan trọng vì đây là tiền đề cơ bản để đánh giá bản lĩnh của anh ta. Làm nghề nào cũng cần bản lĩnh, làm phê bình (ở Việt Nam, trong điều kiện hiện nay) lại càng cần phải có bản lĩnh để khẳng định mình, vượt qua được điều tiếng thị phi trong nghề. Tôi không phản đối ý kiến rằng nhà phê bình cần phải làm bạn với nhà văn để hiểu hơn tác phẩm của họ nhưng việc làm bạn đó cần có giới hạn nhất định, cố gắng hạn chế đến tối đa yếu tố cảm tính như yêu, ghét xen lẫn vào công việc (vì không thể nào loại trừ hoàn toàn được nó). Nhiều lúc tôi suy nghĩ có phần cực đoan rằng giá nhà phê bình và nhà sáng tác không quen biết nhau là hay nhất. Khi đó nhà phê bình chỉ biết mỗi văn bản tác phẩm, không bị chi phối bởi những điều kiện ngoài văn bản, có vậy công việc mới đạt đến độ khách quan 100%.

Nghề phê bình với người trẻ tuổi thật khó lắm thay!

---------

[1] Những trường hợp mới chỉ đọc một tác phẩm mà hình dung ra cả văn nghiệp của một tác giả như trường hợp Bêlinxki đọc Đottôidepxki rất hiếm. Hơn nữa đó là "chuyện của những thiên tài" không thuộc về số đông.

Theo Văn Nghệ Trẻ

 

 

 

Truyện ngắn 198X, những thành tựu bị bỏ lỡ

Thế hệ 198X (thường được tính là những người sinh từ năm 1980 đến 1989, tuy nhiên, trong một số trường hợp, cái mốc thời gian này chỉ có tính chất tương đối, có những người sinh trước 1980 và sau 1989 vẫn có thể được tập hợp vào nhóm 198X, vì có những đặc điểm chung nhất định). Và nhìn vào một số hoạt động trên nhiều lĩnh vực, có thể thấy những người thuộc thế hệ 198X đã tạo nên được những chuyển biến tích cực, nếu không nói là những đột phá.

Có một thế hệ nhà văn được mệnh danh là nhà văn 198X. Họ xuất hiện không hề vô tăm tích. Họ có tên tuổi và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc, kể cả bạn đọc chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp.

So với các nhà văn lớp trước, nghĩa là các nhà văn sinh thành, trưởng thành chịu sự chi phối bởi nền văn học và tư tưởng cách mạng, các nhà văn thế hệ 198X sinh ra trong thời đại hoà bình đã được lập lại qua một thời gian tương đối dài, xã hội Việt Nam đã thoát khỏi những biến động của chiến tranh, tức là thoát khỏi cảnh cái chết đe doạ, rình rập từng số phận để bước vào đời sống xây dựng hoà bình với nhiều biểu hiện phức tạp của nó. Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đang đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, sự đầu tư về cơ sở hạ tầng tỉ lệ thuận với sự xuất hiện và phát triển của các trung tâm kinh tế - văn hoá với các đô thị mọc lên lấn dần và thay thế những vùng ngoại ô còn mang nặng tính làng xã và vẻ yên bình sâu lắng trước đây. Nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, một mặt đã mang đến sự khởi sắc và nhen lên nhiều hi vọng về những cuộc đổi đời trong tương lai cho một dân tộc, nhưng nó đồng thời lại là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phân hoá xã hội, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo. Với sự hình thành và chiếm vị trí quan trọng trong các quan hệ trong xã hội, quan hệ buôn bán đã góp phần gây ra những biến động các giá trị, bào mòn một số những đặc điểm đạo đức truyền thống của người Việt như tinh thần tương thân tương ái, kéo theo sự rạn vỡ của tình cảm đối với đất nước, quê hương, làng xóm, gia đình, vốn đã ít nhất một lần thay đổi trong sự chuyển giao thời chiến sang thời bình. Mọi sự liên kết giữa các cá nhân trong cộng đồng vốn bền chặt dần trở nên lỏng lẻo. Trên tinh thần đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, sự giao lưu, xâm lăng văn hoá đã dẫn đến diễn trình dân chủ hoá đời sống trên nhiều phương diện, nhất là đời sống con người từ những năm 1980 trở về sau này.

Ở các đô thị, lớp trẻ được sống trong một đời sống tiện nghi với nhiều luồng thông tin đa chiều. Nhịp sống từ "điệu ngâm" của nông nghiệp - nông thôn trước đây đã chuyển sang "điệu nói" của đời sống công nghiệp - đô thị. Họ trở thành đại diện cho một lực lượng sống hối hả, năng động, nhạy cảm và đầy hoài nghi, cô đơn; một mặt mạnh mẽ nhưng một mặt cũng yếm thế và dễ gục ngã.

Các nhà văn thế hệ 198X sinh ra trong môi trường có nhiều thuận lợi, họ được học hành đầy đủ, được đào tạo một cách bài bản và nắm được những công cụ, phương pháp cấp tiến để khai thác, xử lí một hệ thông tin đa chiều, họ nhạy cảm trước mọi biến thiên của thời đại. Thêm nữa, nhìn vào danh sách các nhà văn này, ta thấy nhiều trong số họ đã từng sinh sống, học tập ở những môi trường cấp tiến ở nước ngoài như Ngọc Cầm Dương, Tereza Trần, Lynh Bacardi, Trương Quế Chi, Phan Ý Yên… Điều này cho phép nhận định rằng các nhà văn 198X có mang trong mình họ đời sống không chỉ một nền văn hóa.

Là những người được mang và tiếp thu trong mình một đời sống trên nhiều phương diện là mới mẻ so với cha anh mình, đặc biệt là có một đời sống tinh thần được hình thành trong một đời sống dân chủ còn nhiều khiếm khuyết, các nhà văn 198X đang tìm cách thể hiện cá tính độc đáo non trẻ (nhiều khi còn vụng dại), bản lĩnh (nhiều khi còn dở dang) của mình. Những khát vọng đó lại được tạo điều kiện bởi thời đại thông tin bùng nổ và điều kiện xuất bản, in ấn không còn khó như trước, đặc biệt là sự phổ biến internet với các trang thông tin điện tử, blog cá nhân (hình như mỗi nhà văn thế hệ 198X đều là một blogger theo nghĩa chính xác của từ này). Sự du nhập ngày càng rộn rã của các trường phái lí thuyết về sáng tác và tiếp nhận văn học, sự ảnh hưởng cách tư duy, cách viết của các nhà văn lớn nước ngoài, đặc biệt là phương Tây, đã khiến hành trang bước vào văn lộ của các nhà văn 198X nặng hơn và điều này giúp họ tự tin hơn vào những việc mà họ sẽ làm trên con đường sáng tạo văn học.

Với những thế mạnh,những điều kiện xã hội thẩm mĩ (được thống kê chưa đầy đủ) ấy, các cây bút truyện ngắn 198X đã bằng các sáng tác của mình điểm xuyết một mảng màu lạ trong bức tranh chung của văn học Việt Nam đương đại. Họ đã đề xuất một quan niệm sống mới mẻ. Bằng vốn sống, sự hiểu biết và nhạy cảm nhiều khi đến bệnh hoạn, ở một góc nào đó, họ cảm thấy cuộc sống thật đen tối và luôn dang dở, méo mó. Hầu như trong sáng tác của tác giả nào, những tan vỡ, chia li, bất hạnh cũng được nhắc đến như là một hiện tượng phổ quát của cuộc sống, đó là những "Giăng mắc" của Phạm Vũ Văn Khoa, "Độc thoại trên nhà thờ" của Lynh Bacardi… Thảng hoặc ta vẫn gặp những cây bút còn một chút niềm tin, niềm yêu với cuộc đời, và ta vẫn gặp ở họ một cái gì đó êm ái, dịu ngọt, dẫu là dịu ngọt một cách ngậm ngùi và có hơi hướng của vị muối. Nhưng khi nhà văn 198X viết về điều đó, thường là họ viết những câu chuyện đậm chất trữ tình trong hồi ức về một tuổi thơ, về một tình yêu nhẹ nhàng. Và với những câu chuyện như thế, việc thể hiện bản lĩnh và đặc sắc thế hệ có phần kém đi, và văn chương 198X như một thứ sản phẩm lạ sẽ trở nên mờ nhòe trong tâm thức người đọc.

Chính trên quan niệm sống ấy, các nhân vật trong truyện ngắn 198X hoặc để cho nhân vật nương dựa vào nhau cố đi tìm những vẻ đẹp, những giá trị, những niềm hạnh phúc - dẫu nó thật mong manh, như là nỗi ước ao của Ninh trong "Trống trải và rộng quá chừng": “Ninh ra đứng ngoài cửa sổ, ao ước giá mà có một tình yêu, có một ai đấy yêu mình, chắc mình sẽ biết cách phải bắt đầu cuộc sống thế nào”. Cố gắng quên bỏ những ấn tượng xấu về cuộc sống, hướng đến một cái gì đó thật đẹp và lương thiện trong thời đại nhiều hỗn loạn và giới trẻ thường hay sa ngã, đó là một nỗ lực đáng được khuyến khích, nhưng tiếc là hiếm hoi, trong truyện ngắn 198X. Tuy nhiên, có một nhược điểm là mỗi khi viết những câu chuyện như thế, các nhà văn trẻ nhiều khi tỏ ra chưa vững vàng trong xử lí tư liệu, tiết chế cảm xúc, và chất "tự lực văn đoàn" là khá rõ. Chính vì điều đó nên người đọc khó tính không tránh khỏi cảm giác đang đối diện với một văn bản nghệ thuật khá hời hợt (tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những đóng góp tích cực và quan trọng của văn chương Tự lực Văn đoàn cho văn học Việt Nam trong tiếng gọi và cơ hội mà lịch sử đã tạo ra). Một biểu hiện khác trong hành xử của các nhân vật trong truyện ngắn 198X khi gặp những bất hạnh, những trắc trở của cuộc sống là họ trở nên hoài nghi, bế tắc và rơi vào tiêu cực. Họ hành xử theo kiểu bất cần, theo kiểu phó mặc cuộc sống, phó mặc tất cả và nhiều khi rơi vào buông thả. Về mặt này, phải thừa nhận truyện ngắn 198X đã góp một tiếng kêu cứu cho tình trạng bi đát của hiện thực và thân phận tuổi trẻ. Tuy nhiên, có lẽ cuộc sống và văn chương cần ở họ nhiều nỗ lực hơn nữa. Trên thế giới đã có không ít nhà văn tiên cảm được, hoặc cảm nhận được, tri giác được sự cô đơn, lạc loài như là một đặc trưng của thân phận con người hiện đại. Tuy nhiên, khi viết về những điều đó, họ đủ tỉnh táo để, trong khi phơi bày thảm trạng của cuộc sống vẫn mang đến cho người đọc một ý thức hướng đến khát vọng thẩm mĩ cao hơn thế tục. Các nhà văn 198X Việt Nam do chưa hội đủ nội lực nên chưa làm được điều đó. Những thất vọng và tiêu cực trong tác phẩm của họ chỉ cho thấy những tâm sự cá nhân đơn lẻ, mất phương hướng và một góc nhìn nào đó, vẫn có hơi hướng "tự lực văn đoàn" ở giai đoạn tồn tại sau cuối của văn phái này.

Bên cạnh việc thể hiện cái tôi, việc nhận chân hiện thực cũng được một số (không nhiều - đây cũng là một điều đáng phàn nàn) các nhà văn thế hệ 198X quan tâm. Trên phương diện này, các cây bút cố gắng bóc trần những cái nhàu nát, nham nhở và nỗ lực phơi bày những mặt trái, những cái xấu xa của hiện thực, trong đó điều nhà văn quan tâm hơn là lối sống thực dụng, cơ hội, đầy dục vọng và buông thả của lớp người có thế lực (tiền tài hoặc địa vị) trong xã hội, và một bộ phận giới trẻ mà nổi lên trong đó vẫn là nỗi đau về thân phận, về kiếp người. Điển hình của sự thực dục, buông thả đến mất hết nhân tính là hành động của Quang trong "Tre rừng" (Lynh Barcadi): sau khi kết thúc cuộc yêu, lập tức lật mông bạn tình lên, quan sát trên tờ báo lót bên dưới chưa nhìn thấy giọt máu trinh quý giá, liền túm chân bạn gái giơ lên “ngó lom hom vào phía trong”. Mặt trái của xã hội, oan nghiệt đời người… là đề tài được một bộ phận của truyện ngắn 198X đề cập trong "Lơ lửng trên cao", "Xóm bờ mương", "Cát hoang", "Nghĩa trang đồng nhi"…

Khi nói đến văn học trẻ nói chung và văn học 198X nói riêng, người ta hay nói về việc sử dụng các yếu tố tình dục một cách thái quá. Điều này có thể có lúc cần ghi nhận là một nhận xét đúng nhưng lại là một hiện tượng bất khả kháng, không phải chỉ vì những câu chuyện tình dục thể hiện nhan nhản trong tác phẩm của 198X, mà còn bởi sức trì kéo của truyền thống tiếp nhận, truyền thống đạo đức dân tộc - một dân tộc mà các vấn đề về mĩ học tính dục chưa bao giờ được đặt ra và nghiên cứu một cách sâu sắc, nghiêm túc và độ lượng (đúng ra thì, trong các sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Ma Văn Kháng…, yếu tố tình dục cũng chiếm một dung lượng không nhỏ, nhưng có vẻ như các cây bút 198X vẫn thường phải hứng chịu nhiều hơn những lời phê phán nhiều khi đến nặng nề). Có lẽ các tác phẩm được bàn đến nhiều hơn vẫn là "Bóng đè" của Đỗ Hoàng Diệu và "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư. Có nhiều nội dung được đề cập đến khi phê phán hai tác phẩm này và các tác giả của nó, trong đó có không ít ý kiến chê trách họ về việc sử dụng quá nhiều yếu tố tình dục. Công bằng mà nói, yếu tố tình dục trong hai tác phẩm này và một số tác phẩm khác, nhất là Bóng đè, đã không mang lại nhiều lắm những hiệu ứng thẩm mĩ như tác giả mong muốn, vì nhà văn đang còn quá non nớt, và có lẽ, hơi có phần tâm lí câu khách hoặc chạy theo mốt, nhưng không phải là không có giá trị thẩm mĩ. Những trang viết về câu chuyện tình dục của Nguyễn Ngọc Tư mang trong mình những nỗi đau xót nhân văn, những lành mạnh bi thảm. Điều đáng nói là rất nhiều ý kiến phê phán yếu tố tình dục trong truyện ngắn 198X bởi người đọc đã không xem xét nó với tư cách là những tín hiệu thẩm mĩ đích thực, mà nhìn nó bằng cái nhìn dung tục. Có thể đến một lúc nào đó, những yếu tố này sẽ được nhìn nhận và đánh giá một cách công bằng, bình đẳng như những yếu tố khác trong hệ thống tín hiệu thẩm mĩ của một tác phẩm nghệ thuật.

Những đóng góp của truyện ngắn 198X về mặt hình thức nghệ thuật cũng là khá đáng kể. Đó là việc mở rộng phạm vi, quan niệm về thể loại bằng cách tạo ra sự kéo giãn dung lượng trang viết, gia tăng hàm lượng hiện thực được phản ánh, tạo ra sự hỗn dung thể loại bằng cách cho phép thâm nhập vào truyện ngắn hình bóng của tiểu thuyết, thậm chí được phân chia chương hồi một cách khá mạch lạc. Bên cạnh việc kéo giãn dung lượng là một phép ngược lại: co hẹp dung lượng truyện, mỗi truyện ngắn có khi chỉ gồm 1 hay 2 trang in. Sự khẳng định bản ngã hiện sinh của các nhà văn 198X được thể hiện bởi việc chủ yếu sử dụng điểm nhìn hiện tại. Ngôn ngữ truyện ngắn là thứ ngôn ngữ đậm chất đời thường, thậm chí là thứ ngôn ngữ chát, ngôn ngữ blog đang ngổn ngang, trần trụi. Và điều này, bên cạnh sự thể hiện khát vọng kéo văn chương lại gần với đời sống, thể hiện khát vọng dân chủ trong ý thức sử dụng ngôn ngữ, khát vọng đối thoại với những yêu cầu nghiêm trang đã có phần cũ kĩ đối với ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ truyện ngắn 198X không phải không mang lại cảm giác về một thứ văn chương dễ dãi, và các tác giả của nó có phần non tay. Và sự tri nhận về văn học 198X như những thành tựu bị bỏ lỡ là có cơ sở. Tuy nhiên, đòi hỏi quá nhiều ở một lớp người viết còn quá trẻ là một thái độ nôn nóng. Hi vọng rằng, thời gian sẽ tiếp thêm vốn sống, kinh nghiệm để các nhà văn 198X cho ra đời những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao hơn.

Theo Văn hóa Nghệ An

THÔNG BÁO TUYỂN SINH ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY NGÀNH VIẾT VĂN ( ĐỢT RIÊNG, THÁNG 9 NĂM 2010)

Được sự đồng ý của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội sẽ tổ chức kỳ thi tuyển sinh đại học hệ chính quy đợt mới trong hai ngày 11 và 12 tháng 9 năm 2010. Yêu cầu và nội dung cụ thể như sau:

1. Ngành đào tạo: Sáng tác văn học
2. Hệ đào tạo : Chính quy tập trung
3. Thời gian đào tạo: 4 năm ( 2010-2014)
4. Chỉ tiêu: 30
5. Đối tượng tuyển sinh: đã tốt nghiệp Trung học phổ thông trên phạm vi cả nước
6. Quy trình tuyển sinh:
Tất cả các thí sinh đều phải trải qua hai vòng thi: sơ tuyển và chung tuyển.

6.1. Sơ tuyển:

- Điều kiện: Thí sinh cần nộp 5 tác phẩm văn học thuộc bất kì thể loại nào; hoặc 3 bài nghiên cứu, phê bình văn học (ưu tiên những tác phẩm đã được đăng báo hoặc đã được xuất bản thành sách).

Chú ý: Tác phẩm hoặc bài nghiên cứu, phê bình văn học phải được đánh máy vi tính trên giấy khổ A4. Nhà trường không tổ chức đọc thẩm định các bản thảo viết tay.

Tác phẩm hoặc bài nghiên cứu, phê bình văn học nếu đã được đăng báo, thí sinh cần photocopy toàn bộ trang đầu của tờ báo và trang có in tác phẩm (bài nghiên cứu, phê bình); nếu đã được xuất bản thành sách, thí sinh cần photocopy toàn bộ trang đầu của bìa sách và các trang mục lục. Bản photocopy được gửi cùng với tác phẩm (bài nghiên cứu, phê bình) dự sơ tuyển.

- Hồ sơ dự tuyển bao gồm:

+ Các tác phẩm hoặc bài nghiên cứu, phê bình như đã nêu ở phần điều kiện

+ Bộ hồ sơ đăng ký dự thi theo mẫu của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hồ sơ dự tuyển được cho vào túi, dán kín và niêm phong, bên ngoài ghi rõ họ tên, địa chỉ của thí sinh, số máy điện thoại (nếu có). Thí sinh có thể gửi hồ sơ dự tuyển qua đường bưu điện hoặc nộp trực tiếp theo địa chỉ: Phòng Đào tạo, Trường đại học Văn hoá Hà Nội, 418 đường La Thành, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, Hà Nội.

- Thời hạn nộp hồ sơ và lệ phí: trước ngày 30 tháng 8 năm 2010. Nhà trường sẽ căn cứ vào dấu Bưu điện để xác nhận ngày bưu phẩm đến đối với các trường hợp gửi theo đường bưu điện.

Sau khi chấm sơ tuyển, trường sẽ gửi giấy báo Dự thi chung tuyển cho các thí sinh được chọn. Những tác phẩm không được chọn vào chung tuyển, nhà trường không trả lại cho thí sinh.

6.2 Chung tuyển:

- Môn thi: Văn học, Lịch sử (theo chương trình lớp 12), Năng khiếu (sáng tác, phê bình).

- Lịch thi:

14h ngày 10.9.2010: thí sinh tập trung để nghe phổ biến quy chế thi, nộp lệ phí chung tuyển

Ngày 11.9.2010:     + Sáng  từ 7h30 đến 11h30 thi viết môn Văn
+ Từ 13h đến 15h00 thi viết môn Lịch sử

Ngày 12.9.2010:     + Sáng thừ 7h30 đến 11h30 thi viết môn Năng khiếu
+Chiều: Từ 13h30 đến 16h30 Phỏng vấn trục tiếp về tác phẩm đã nộp sơ tuyển

7. Kinh phí:

- Lệ phí hồ sơ: 80.000 đồng/bộ
- Lệ phí chấm sơ tuyển: 200.000 đồng/ hồ sơ
- Lệ phí chung tuyển: 300.000 đồng/thí sinh

Lệ phí hồ sơ và lệ phí sơ tuyển nhất thiết phải được gửi riêng theo đường bưu điện, hoặc nộp trực tiếp theo địa chỉ trên để lấy giấy biên nhận (không bỏ chung vào túi đựng tác phẩm và hồ sơ đăng ký dự thi). Nếu không nhận được lệ phí sơ tuyển, nhà trường sẽ không xét tác phẩm của thí sinh.

8. Chế độ ưu tiên

Những thí sinh nào đã có tác phẩm đoạt giải nhất, nhì, ba trong cuộc thi sáng tác văn học do các cơ quan Trung ương tổ chức như Hội nhà văn Việt Nam, Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội sẽ có chế độ ưu tiên theo hình thức được cộng thêm điểm. Chế độ cộng điểm ưu tiên như sau:

- Giải nhất: cộng 02 điểm.
- Giải nhì: cộng 1,5 điểm.
- Giải 3: cộng 01 điểm.

Các thí sinh có Giải thưởng văn học yêu cầu nộp tác phẩm đoạt giải (bản photocopy) và Giấy chứng nhận giải thưởng kèm theo Hồ sơ.

Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ theo địa chỉ:

Phòng Đào tạo, trường Đại học Văn hóa Hà Nội, 418 đường La Thành, Đống Đa, Hà Nội. Điện thoại 0438511971/ 139, 105. Website: huc.edu.vn hoặc vietvan.vn.

ĐỐI THOẠI VỚI XU XU

ĐỐI THOẠI VỚI XU XU

Tác phẩm Xu Xu, đừng khóc! của Hồng Sakura đã được đông đảo bạn đọc trẻ tuổi đón nhận. tonvinhvanhoadoc.vn xin đăng đối thoại của Nguyễn Hoàng Vân Anh, một tác giả thơ trẻ (đã 3 lần tham gia Sân Thơ Trẻ của Hội Nhà văn VN) với Xu Xu, nhân vật chính trong tác phẩm, hay đúng hơn là với tác giả của nó, Hồng Sakuara.

Phùng Văn Khai: Mấy suy nghĩ về sáng tác của người viết trẻ

Phùng Văn Khai: Mấy suy nghĩ về sáng tác của người viết trẻ

Trước thềm Đại hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII, là người viết trẻ, tôi có nhiều suy nghĩ, trăn trở, thậm chí dằn vặt rất khó tả. Đã rất lâu, chúng ta mới có một Đại hội toàn thể trang trọng và chắc chắn sẽ là một ngày hội của các nhà văn trên toàn quốc. Nhiều bài viết, tâm tư, suy nghĩ, kẻ cả những đóng góp về nhân sự, quy chế, đường hướng… thậm chí cả những yêu ghét cá nhân không đáng có cũng đã bộc lộ. Về phía mình, gạt ra những quan tâm khác, tôi xin trình bày suy nghĩ về sáng tác và những trăn trở trong sáng tạo của người viết trẻ. Cũng xin nói rằng đó chỉ là những suy nghĩ cá nhân trung thực với lương tâm của mình.

Sáng tác văn học, theo tôi là một quá trình luôn tự đổi mới và làm mới mình. Mới ở đây nên hiểu là phong cách, với tiểu thuyết có thể hiểu là thi pháp. Thi pháp tiểu thuyết ở Việt Nam dường như chưa được các nhà văn chú trọng đúng mức. Đã có một thời gian khá dài vấn đề thi pháp không được đặt ra như một vấn đề hàng đầu của sáng tác. Đã là những sáng tác văn học thì vấn đề thi pháp phải được nhà văn ưu tiên hàng đầu. Một điều tôi muốn nhắc đến nữa là nền tảng triết học, tư tưởng triết học của tác phẩm phải được đặt ra ráo riết đồng thời là phấn đấu không biết mệt mỏi của mỗi nhà văn trong sáng tác. Tác phẩm được viết ra phải từ những dằn vặt, chiêm nghiệm, suy nghĩ đến cùng về một vấn đề. Còn hiệu quả mà nó mang lại đôi khi nằm ngoài chủ quan của tác giả cũng là một quy luật thông thường của văn học.

Tư cách tác giả, tôi suy nghĩ, tác phẩm văn học, đặc biệt là tiểu thuyết trước hết và trên hết phải phản ánh hiện thực. Hiện thực phải là thứ hiện thực đã được chưng cất kỹ lưỡng từ cuộc sống. Những nhân vật, tình tiết, hình ảnh, kết cấu… của tác phẩm nếu được lấy từ chính cuộc sống đang diễn ra hôm nay sẽ có sức nặng và cơ hội thành công cao. Sự thành công hay chưa thành công của một tác phẩm đối với mỗi nhà văn đôi khi phải cần đến một khoảng thời gian nhất định. Nhiều tác phẩm có chất lượng nhưng lại có lối tiệm cận độc giả khá lặng lẽ nên vì thế cần có thời gian chăng? Trong các sáng tác của tôi, tôi không coi trọng vấn đề đề tài nhưng phong cách và ngôn ngữ thể hiện thì luôn được chú trọng. Tôi luôn viết bằng những xúc động tột độ, kể cả những mảng tối đậm đặc trong đời sống xã hội nhưng chưa bao giờ mất bình tĩnh để cay cú hoặc miệt thị những tối tăm dốt nát của con người.

Khi cầm bút, tôi rất sợ hãi bản thân mình mô tả một cái gì đó, một con người, một tâm tư, một xã hội theo kiểu có cái gì bày ra cái đó. Ngòi bút nhà văn khác nhà quản lý xã hội ở chỗ anh ta phải nhìn thấy và nắm bắt được những tầng nội tâm sâu kín nhất của con người. Tôi cho rằng, về một phía nào đó, con người và con người ngày càng sợ hãi và xa lánh nhau trong cuộc sống vật chất. Cái gì làm nên những hố đen ấy và phải giải quyết nó như thế nào. Năm mươi năm, một trăm năm liệu rằng vấn đề trên có giải quyết được không. Tôi xin trả lời ngay rằng không giải quyết được. Thế thì cần gì những tác phẩm văn học của chúng ta? Vẫn cần chứ! Vẫn hết sức cần bởi một lẽ đơn giản nếu không có văn học thì những hố đen sẽ xuất hiện ngày càng dày đặc, những mông muội ngày càng gia tăng. Thực ra theo tôi, các tác phẩm văn học mới chỉ giải quyết vấn đề là nó đã cầm cự được tuy rất mệt mỏi và không cân sức trước những thú tính của con người. Đó cũng là thông điệp và màu sắc trong các sáng tác của tôi.

Nội dung và nghệ thuật luôn tồn tại bên nhau như một cặp phạm trù triết học. Tuy nhiên tôi muốn nói đến đời sống của nghệ thuật, trong đó có văn học một đời sống khác, đó là đời sống xã hội dội vào văn bản thể hiện, nội dung văn bản mà từ đó rọi sáng lên những phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm. Tôi vốn ưa thích sự tự nhiên và vì thế những trang văn bản nối tiếp nhau trong sáng tác tôi thường để chúng khá tự do, đôi khi như là vô tổ chức. Sự biểu đạt nội dung tư tưởng của tác phẩm là ở chỗ nắm bắt và khái quát những ẩn ức sâu nhất về cái gọi là tối tăm, mông muội của con người trong đời sống xã hội đương đại, thậm chí bao hàm cả quá khứ và tương lai. Than ôi, giữa tham vọng nhà văn và hiệu quả của tác phẩm bao giờ cũng là một khoảng cách không nhỏ. Điều đó luôn như một cảnh tỉnh đối với mỗi người cầm bút.

Không hiểu sao tôi luôn cho rằng thế giới mà chúng ta đang sống sao mà quá lắm tai ương, nghịch lý, mông muội, phi nhân đến như vậy. Nguyên nhân từ đâu và liệu rằng cộng đồng người có cùng nhau tiến tới sự thân thiện, yên hàn, những hạnh phúc bình dị, những mơ ước nhỏ bé có được thực hiện trong mỗi kiếp người không? Câu trả lời cứ mãi treo lơ lửng suốt bao nhiêu năm, suốt bao nhiêu đời và sẽ còn treo lơ lửng đến bao giờ nữa. Trong các sáng tác, dù cố gắng thì những tâm tư gan ruột mới chỉ đưa vào được một phần nhỏ. Viết xong một tác phẩm, tưởng trút đi được gánh nặng, nào ngờ sự đau đớn dằn vặt càng tăng lên, những ám ảnh mà mình dự báo cứ vây lấy những suy nghĩ của chính mình. Tôi cho rằng một tác phẩm, nếu có đạt một hiệu quả thẩm mỹ nào đó trước tiên phải cám ơn sự liên tưởng không biết mỏi mệt của độc giả.

Nhưng nếu chỉ trông chờ vào bất kỳ một bút pháp nào đó để lôi cuốn độc giả thì có lẽ nhà văn đã hồn nhiên quá chăng? Các nhà văn trẻ Việt Nam đang mạnh dạn tìm tòi và chúng ta hãy nên trân trọng họ. Người sáng tác trẻ hôm nay đang ngày càng khó khăn hơn khi tự khẳng định mình. Nghệ thuật vốn vô cùng mà những gì lớp người đi trước đạt được khổng lồ như một bức tường chắn khiến ai không có tài và can đảm sẽ cảm thấy choáng váng. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh đến sự suy rộng văn chương toàn thế giới. Ở một thế giới đang ngày càng phẳng như hiện nay chúng ta nên mạnh dạn thể nghiệm và dấn thân trong sáng tác.

Tôi cho rằng mình chưa có nhiều thành công trong bút pháp thể hiện ở các tác phẩm đã công bố, nhưng điều tôi quan tâm đối với những người viết đồng thời là không suy giảm. Đó là sự dằn vặt nhưng lạc quan, thận trọng nhưng riết gióng. Cuộc sống hôm nay đang vỡ ra và có không ít các giá trị đã bị đảo lộn. Ứng xử trong một cuộc sống phức tạp như thế đối với mỗi nhà văn là một thách thức và lựa chọn không dễ dàng. Kể cả khi đã dấn thân hết mình cho đời sống văn học cũng nên hiểu cho rằng sự thất bại bao giờ cũng thường trực và dồi dào hơn thành công gấp bội. Văn chương là một thứ gì đó đôi khi cao hơn cả tài năng và tâm huyết nhưng không có nghĩa là mình chùn bước trước những thách thức ấy. Nhưng là nhà văn, vùng đất khó ấy vẫn dẫn dụ tôi đặt chân tới. Đó cũng là suy nghĩ của tôi trước thềm Đại hội.

Theo Phongdiep.net

Văn chương trẻ cần được ghi nhận

Văn chương trẻ cần được ghi nhận

"Xuất hiện ngày càng nhiều tác giả trẻ. Tác phẩm của họ thể hiện rất rõ hơi thở, giọng điệu của đời sống ngày hôm nay. Họ có ý thức nói lên mối quan tâm của một thế hệ trước một hiện thực bộn bề đang khai mở. Họ năng nổ đi tìm cách biểu cảm mới phóng khoáng, tự nhiên và rất mừng là từ trong đội ngũ đông đảo đã xuất hiện những cây bút thực sự có tài". (Dự thảo báo cáo Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII - 2010 - 2015).

Trang 1 của 2

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay36
mod_vvisit_counterHôm qua453
mod_vvisit_counterTất cả80724

Your IP 38.107.191.90
,
Hôm nay:11 - 9 - 2010
 48 người đang truy cập

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: