Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> 360 độ X

Từ “Nỗi buồn đập cánh” đến “Nỗi buồn trong suốt”

Từ “Nỗi buồn đập cánh” đến “Nỗi buồn trong suốt”

“Nỗi buồn trong suốt” là tên tập tản văn đầu tiên và là cuốn sách thứ hai của cây bút trẻ An Giang - Nguyễn Đức Phú Thọ. Cầm trên tay cuốn sách có bìa giản dị, không quá dày và đủ cám dỗ để một người dù có bận rộn đến mấy nếu lỡ đọc trang đầu cũng lật tiếp.

Đúng như chữ khởi đầu của cuốn sách “nỗi buồn”, 61 bài tản văn đều có chung tâm trạng buồn. Buồn của Nguyễn Đức Phú Thọ có cả sự mất mát, đau đớn tột cùng khi phải chấp nhận mất đi người thân yêu nhất trong cuộc đời. Nhưng bên cạnh đó, ở cây bút trẻ này nhiều khi “cơn cớ” để buồn rất dễ đến, tự nhiên, nhỏ xíu và dễ thương như một bàn tay con gái.

Có thể chỉ là một chiều được ngồi lại trong cái quán Trầm với cái tên cũng đủ gợi nỗi lòng, rồi quan sát cận cảnh từ ô cửa, lớp kính cho đến không gian vượt thoát cao hơn với bầu trời “Khung ảnh nhỏ bé vậy mà xanh níu xanh, xanh chạm xanh trải ra những kết nối bất tận. Cả trong trí tưởng”. Rồi ánh mắt lại sợ, không dám tận hưởng thỏa thích cái góc nhìn của chính mình, của riêng mình để co cụm, khéo léo chối từ. Và những khuôn mặt hiện diện trong quán như nhắc khéo về hoài niệm ấu thơ, bạn bè… miên man trong nền xanh như một ký tự tự dưng chèn vào những khuôn hình vừa thực vừa ảo. “Quán tên Trầm/ Là nơi dù cứng chật không gian, người vẫn cố dặn mình ngồi lại./ Để mơ xanh.”

Còn với nắng “có những ngày nắng tràn cả vào cơn mơ giấc ngủ. Những giọt nắng rơi về giữa tâm tư bao hình ảnh sáng lòa. Nhưng tất cả lung linh, vô định. Những bóng người đã vĩnh viễn xa ta”. Nắng còn là giấc mơ của những ngày bão về, của sự sống và sự di chuyển..

Và mưa “những cơn mưa lại trở về thành phố. Như một thói quen”, như chuyến tàu thân thuộc đến giờ hiện diện trước ga, tưởng chẳng có đủ sức níu kéo tâm hồn ai. Vậy mà với tâm hồn quá đỗi nhạy cảm, mưa đã tái hiện biết bao những “đoạn rời” của ký ức để nối về hiện tại. Trong cái không gian hiện tại và quá khứ ấy dường như đường biên quá mỏng manh để “Từng câu chuyện quá khứ tan vào mưa, li ti vỡ. Gió bỗng lùa một cơn thật mạnh qua hàng hiên. Thông thốc. Mát rượi. Hoài niệm ùa về không cách nào ngăn nổi. Tôi khẽ khàng áp đôi gò má xương xẩu lên đầu gối, nằm mơ. Và xa xôi, ở ngoài kia. Dường như những tiếng mưa rơi cứ dần nhỏ lại…”.

Đến gió “Ngày nhiều gió. Cứ chênh chao nỗi âu lo./ Đôi khi, muốn mình là ngọn gió, dang tay giữa đám cây… Gió có biết đến niềm vui, hay gió chỉ là những hình dung trống rỗng. Và đi trong bất tận phương trời. Dù sâu thẳm gió cũng tìm đến được./ Như cuộc đời, chẳng ai biết trước./ Chỉ nghe gió vi vu”.

Đặc biệt trong cuốn tản văn “Nỗi buồn trong suốt” có đến 30 “thư muộn” phần lớn gửi cho một người con gái tên K. với một câu chuyện buồn xuyên suốt. Đó là những hối tiếc, dằn vặt, tan vỡ, những kỷ niệm đẹp, những phút giây hạnh phúc nhưng mong manh của tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, nông nổi, khát khao mơ về một miền đất lạ đã không trở lại. Rồi cả khi người con gái tên K. ấy đã vĩnh viễn đi xa, nỗi đau bất ngờ đến nỗi người ta không thể tin ngay đấy là sự thật…

Tác giả có những lý giải khá triết lý nhưng lại không khiến người đọc thấy “già” mà khá tự nhiên như đang được ngồi cùng bàn tâm sự, được tác giả trải lòng một cách chân thật: Chúng ta nghĩ kinh nghiệm là thứ sẽ giúp ta đứng vững trước cuộc đời. Nhưng đứng trước tình yêu nó trở nên vô nghĩa. Nếu yêu bằng kinh nghiệm, đó chẳng phải tình yêu. Nó gần giống với một thói quen, được nuôi dưỡng bằng lý trí và dự tính.

Những “thư vội” trong “nỗi buồn trong suốt” không quá dài, mỗi thư chỉ tầm hơn trang giấy in. Nhưng hình như mỗi thư là một câu chuyện được kể lại mà người gửi chẳng còn gửi được cho người nhận nữa. Thư là nơi lưu giữ cảm xúc thật nhất của người viết ở những khoảnh khắc khác nhau bất chợt đến, bất chợt ùa về trong cuộc sống thường ngày.

Thư vội là viết vội theo dòng cảm xúc chảy tràn hay thư vội là thư đã lỡ chuyến gửi cho người nhận? Có thể chẳng suy đoán nào đúng, hoặc cũng có thể đúng cả hai. Nhưng nó đem đến cho người đọc cảm xúc về hoài niệm tuổi trẻ với một nỗi buồn “trong suốt” vừa nhạy cảm, mong manh lại vừa khó tan biến vĩnh viễn.

Đọc “Nỗi buồn trong suốt” bỗng nhiên như sống lại thời trẻ của những năm tháng tuổi hai mươi với nỗi buồn đầy cơn cớ. Buồn đấy nhưng không làm con người ta bi lụy và tuyệt vọng. Mà buồn để chiêm nghiệm, để thấy cuộc sống này đáng sống và chúng ta đã đi qua nỗi buồn như thế, đi qua tuổi trẻ như thế. Và phải đúng là người làm thơ, có tâm hồn thơ thì mới viết được những tản văn đầy chất thơ như thế.

Nhà văn Đặng Thiên Sơn nhận xét: “Nỗi buồn trong suốt” chủ yếu là những tản văn viết về tình yêu và những trải nghiệm, kí ức của tuổi trẻ của chính tác giả. Ở đó pha trộn nhiều cảm xúc trước nhưng va vấp, chia li và hoài niệm. Những mảng màu có khi đối lập, có khi trộn lẫn hòa quyện vào nhau, có khi bàng bạc, chỉ như một nốt lặng mờ ải… Để rồi sau tất cả, khi nhìn lại, những nỗi buồn ấy hiện lên như một thứ pha lê, trong suốt mong manh.

Còn nhà văn Nguyễn Thị Kim Hòa thì chia sẻ: “Chảy vào tôi một làn hơi bàng bạc mang tên nỗi buồn. Làn hơi ngỡ thoảng nhẹ, mong manh và se sắt ngẩn ngơ, ai đó từng hoang mang trôi giữa những ngày tuổi trẻ vây bọc lắm cô đơn. Có mất mát, có hoang hoải, có cả phút chiêm nghiệm sâu lắng đến không ngờ. Tôi đã định chỉ lướt qua. Nhưng rốt cuộc, lại thấy mình như bị hút lấy, bị nhập vào cùng với những con chữ được viết bằng thơ ấy”.

Hà Anh - Văn học Quê nhà

Hoa Níp và nghĩa tình bạn văn trẻ

Hoa Níp và nghĩa tình bạn văn trẻ

Sau một thời gian ngắn gấp rút tổ chức bản thảo và in ấn, Ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM đã nỗ lực thực hiện và hoàn thành việc xuất bản hai tác phẩm đầu tiên của nhà thơ trẻ Hoa Níp. Đây là tấm lòng, nghĩa cử của các đồng nghiệp trẻ dành cho người bạn tài hoa bạc mệnh vừa từ giã “cuộc chơi”…


Sáng 22/7, Ban Văn học Trẻ- Hội Nhà văn TP.HCM cùng gia đình kỷ niệm 49 ngày mất của nhà thơ Hoa Níp (1985-2016) và ra mắt hai tập sách "Bao giờ đến được cánh đồng" (Thơ) và Nàng là nước Mỹ (truyện ngắn) (ảnh NT)

Ngày 12/7/2016, đủ 49 ngày mất của nhà thơ trẻ Hoa Níp (1985-2016), một đoàn nhà văn TP.HCM đã xuống Vũng Tàu cùng gia đình viếng mộ, cúng thất anh. Dịp này, hai tác phẩm đầu tiên của Hoa Níp là tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng và tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ (NXB Hội Nhà văn) cũng kịp đặt lên bàn thờ anh, với 2 bản (1 tập thơ và 1 tập truyện) có các chữ ký của các bạn văn và đại diện gia đình đã “hoá vàng” trong lửa gửi cho anh ở cõi hư vô. Bùi ngùi tiếc thương Hoa Níp xấu số, nhưng ai cũng cảm thấy ấm lòng khi thực hiện được những điều chủ yếu theo tâm nguyện của anh.

Sở dĩ tôi nói hai tác phẩm đầu tiên bởi Hoa Níp còn bản thảo một tiểu thuyết và vài truyện ngắn, bài thơ lẻ khác trong di cảo. Đang bước vào giai đoạn tràn đầy cảm hứng, sáng tạo rất sung sức thì anh lại vội ra đi.

Sinh thời, Hoa Níp đã chuẩn bị công phu hai tác phẩm trên và dự định xuất bản. Sau khi Hoa Níp bị tai nạn giao thông đột ngột qua đời, gia đình anh ở Vũng Tàu và cả nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ở Hà Nội, một đàn anh thân tình của Hoa Níp, đều mong muốn in ấn hai tác phẩm này. Tuy nhiên, Ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM - nơi Hoa Níp luôn gắn bó và có nhiều đóng góp trong gần bảy năm qua, đã “giành quyền” xuất bản cho bạn mình, mà công đầu là nhà văn Trần Nhã Thuỵ, người lo chăm chút bản thảo, thiết kế và in ấn.

Nếu như tập truyện ngắn Nàng là nước Mỹ được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nơi nhà thơ Hoa Níp là hội viên, tài trợ một phần, thì tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng lại được Quỹ Tình thơ cùng các bạn văn trẻ ở TP.HCM chung tay góp sức hình thành. NXB Hội Nhà văn cấp phép hoàn toàn miễn phí. Tôi muốn nói rõ điều này nhằm thay lời cảm ơn của gia đình và người thân, đồng thời cũng để thấy rằng cái tình đồng nghiệp văn chương, nhất là trong giới trẻ TP.HCM hiện nay, vẫn rất đáng quý đáng trân trọng, chân thành nâng đỡ nhau cả khi số phận trớ trêu đưa con người bất ngờ trở về cát bụi…

Thơ là sở trường của Hoa Níp, nhưng anh cũng có duyên với truyện ngắn và ấp ủ viết cả tiểu thuyết. Nhà văn Trần Đức Tiến ở Vũng Tàu theo dõi từng bước tiến của Hoa Níp cho hay: “Hoa Níp là cây bút trẻ nhiều khát vọng. Truyện ngắn của anh luôn có sự tìm tòi, đổi mới về nội dung và cách thể hiện. Giống như nhiều người viết trẻ khác, do kinh nghiệm, sự từng trải, độ dày dạn của ngòi bút còn có những hạn chế, Hoa Níp cũng có những truyện non, lép. Nhưng mỗi khi vốn sống đủ chín, và tư tưởng bắt kịp khát vọng làm mới nghệ thuật, Hoa Níp vụt toả sáng trong một vẻ đẹp riêng biệt, rất đáng để người đọc ghi nhớ và dõi theo… Còn nhớ khi vừa đọc xong truyện G.K.2851 của anh gửi dự thi trên một tờ tạp chí, tôi liền gọi chúc mừng anh và nói: “Tớ mà ở trong ban giám khảo thì dứt khoát tớ đưa truyện này vào giải”. Vui thì nói vậy, chứ tôi tin Hoa Níp cũng thừa biết giải giếc này khác đâu có quá ghê gớm với một người cầm bút tự trọng và khắt khe như anh?”.

Tác phẩm G.K.2851 mà nhà văn Trần Đức Tiến đề cập là một trong 15 truyện ngắn hình thành nên tập Nàng là nước Mỹ của Hoa Níp. Suy ngẫm về tập truyện này, nhà văn Trần Nhã Thuỵ thổ lộ rằng anh “luôn thấy một kẻ đi tìm bản ngã mình” với nỗi cô độc của chàng trai trẻ trong sạch, tươi ròng, và: “Truyện ngắn Hoa Níp như một thứ nhật ký của kẻ lang thang trong lòng thành phố, nhìn thấy những thứ từ một đôi mắt chong ngóng, lặng lẽ, xót xa. Nhưng khi bước ra khỏi hiện thực, thiết kế những văn bản hư cấu, Hoa Níp cũng cho thấy sự thành công không thua kém. Chiếc nhẫn in hình bảy ngôi sao, Thích khách, G.K.2851,… là những truyện ngắn mà tôi tin bất kỳ một cây bút văn xuôi nào cũng mơ ước luyện thành”.

Với truyện ngắn của Hoa Níp là vậy, còn thế giới thi ca của anh thì sao? “Tôi thường nghĩ Hoa Níp là một cái cây trong gió và lúc nào cũng gió. Cái cây vừa tự do, vừa run rẩy, vừa vật vã và vừa réo vang. Tôi ở xa nên có rất ít thời gian sống cùng anh. Nhưng lần nào gặp anh tôi cũng thấy cái cây Hoa Níp trong gió. Hình ảnh này rõ ràng và sống động hơn khi tôi nhìn thấy Hoa Níp sống trong đời sống ở mỗi bài thơ của anh”. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã cảm nhận con-người-thơ Hoa Níp và cho biết thêm: “Khi đọc xong bản thảo lần thứ nhất tập thơ Bao giờ đến được cánh đồng mà anh gửi cho tôi, tôi thấy mình trở nên già nua. Anh mạnh mẽ hơn tôi, quả cảm hơn tôi, tự do hơn tôi, dấn thân hơn tôi trên con đường sáng tạo và những bài thơ của anh thường làm tôi bất ngờ bởi những khám phá và lối đi riêng biệt của nó. Tôi đã lắng nghe anh và tôi tìm thấy con người thi sĩ ấy trong anh. Đó cũng là lý do khi anh còn sống và ít hơn tôi gần ba mươi tuổi, anh luôn nhận được sự tôn trọng của tôi dành cho anh”.

Nguyễn Quang Thiều hay Trần Đức Tiến, Trần Nhã Thuỵ đều là những người có uy tín nghề nghiệp và quý mến tài năng, con người Hoa Níp. Nhận định của các anh về một bạn văn trẻ đã đi xa rất sòng phẳng cả lý lẫn tình. Riêng tôi, tình cảm với Hoa Níp càng sâu nặng hơn, kể từ gần bảy năm trước khi tôi phát hiện được cây bút giàu tiềm năng gốc Hà Tĩnh sinh trưởng ở Vũng Tàu và gắn bó với TP.HCM.

Tôi luôn kỳ vọng ở Hoa Níp nhưng cũng luôn cảnh báo anh về con đường nghiệt ngã của văn chương. Bao giờ đến được cánh đồng là tên do tôi góp ý đặt cho tập thơ đầu tay của anh. Đó cũng là tên một bài thơ lục bát, trong đó có những câu tiên lượng như định mệnh và bây giờ đã được khắc lên mộ Hoa Níp:

“Đời còn lắm cuộc nhiễu nhương

Đành thôi nép lại bên đường cho xong

Bao giờ đến được cánh đồng

Quay đầu nhìn lại bóng hồng phôi pha”

Với sự ra mắt hai tác phẩm của Hoa Níp, không phải “bao giờ” nữa mà tôi tin bây giờ anh đã chính thức “bay” đến cánh đồng văn học và góp được tiếng nói trọng lượng. Cho dù thân xác Hoa Níp đã hoá hư vô nhưng tiếng nói ấy sẽ còn mãi âm vang trong lòng người đọc, như lời nguyện cầu của anh dành cho những con người bị cuốn vào làn sóng tự sát đầy bi kịch ở Nhật Bản năm 2008, mà nửa khuya tôi đọc lại cứ ngỡ đó là dự cảm cho lẽ sinh tử của chính anh: “Cần chuẩn bị cho một cuộc chia ly/ Mong bạn luôn nhớ đến tôi/ Tha thứ về những gì tôi chưa làm được”. Một người trẻ có tài có tâm và còn có thể làm được nhiều việc có ích cho đời nhưng bất ngờ mãi mãi đi xa và mong được tha thứ, thử hỏi làm sao người thân ở lại chẳng đau lòng!

Phan Hoàng - Văn học quê nhà

​Amanda Huỳnh ra mắt sách với hoa hồng, rượu vang và nhạc Pháp

 ​Amanda Huỳnh ra mắt sách với hoa hồng, rượu vang và nhạc Pháp

Tối 14-7 tại TP.HCM, tác giả Amanda Huỳnh (hiện đang là luật sư sống và làm việc tại Pháp) có buổi ra mắt tập tản văn, truyện ngắn mang tên Lam của cô.

Cái ôm thắm thiết giữa Amanda Huỳnh với một độc giả có cùng cảm xúc khi đọc Lam - Ảnh Thành Nhân

Cơn mưa bất chợt trở nặng hạt khi buổi giao lưu với Amanda Huỳnh và cuốn sách đầu tay của chị - Lam (NXB Trẻ phát hành) càng làm cho những người yêu Lam, cảm mến Amanda Huỳnh xích lại gần nhau, ấm cúng và thân mật hơn.

Tác giả Amanda Huynh bên cuốn sách đầu tay mang tên Lam - Ảnh Thành Nhân

Mềm mại như chính tên gọi - Lam (vốn là tên của những nhân vật nữ xuất hiện khá dày đặc trong các câu chuyện của Amanda Huỳnh) mang đến một hơi thở hiện đại, đương thời.

Cầm trên tay ly vang sóng sánh, Amanda Huỳnh nhớ lại hành trình hơn một thập kỉ qua của chị tại Pháp, từ khi còn là một cô sinh viên Luật cho đến khi lấy bằng tiến sĩ tại ĐH Capitole Toulouse, Pháp. Paris trở thành “chất xúc tác” tuyệt vời để nuôi dưỡng tâm hồn nghệ sĩ ẩn trong hình hài của một luật sư.

Bức tranh Tàu đợi bên rừng gợi nhớ những kỉ niệm về tình yêu, tuổi trẻ của tác giả đã được bán đấu giá 60 triệu đồng để gây quỹ cho học sinh nghèo - Ảnh Thành Nhân

Không có khởi đầu, không có kết thúc, không có nhiều kinh nghiệm để rút ra những chân lý hay bài học nào, nhưng cách nghĩ và cách sống của những nhân vật - đa phần còn rất trẻ - trong Lam cho người đọc nhiều điều đáng suy ngẫm.

Họ yêu cuồng nhiệt, đối diện với những khổ đau, hoang mang trước quá nhiều thử thách của cuộc sống. Trong nhiều hoàn cảnh, hành trình nơi xứ người góp phần làm cho họ trở nên lạc lõng bởi quá nhiều khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ…

Tác giả Amanda Huynh trò chuyện, giao lưu với độc giả tại buổi ra mắt sách - Ảnh Thành Nhân

“Tôi không có ý định viết cho số đông, mà trước hết tôi viết là để cho chính mình” - Amanda Huỳnh chia sẻ. Có lẽ chính vì điều này mà ở Lam có những câu chuyện rất riêng tư như Một buổi chiều nào đó, cũng có những tản mạn tươi tắn ngọt ngào như Cánh thiệp từ Dubi…

Những câu chuyện vừa thơ mộng nhưng không thiếu thực tế, một tinh thần rất Lam và đậm đặc cá tính của Amanda Huỳnh.

Buổi ra mắt còn đồng thời là triển lãm những bức vẽ do chính Amanda Huỳnh thực hiện - Ảnh Thành Nhân

Ngoài 11 truyện ngắn và tản văn, Lam còn có thể xem là một triển lãm tranh nho nhỏ với 41 tác phẩm thuộc nhiều thể loại và bộ sưu tập khác nhau do chính Amanda Huỳnh vẽ.

Mỗi bức tranh là một tác phẩm nghệ thuật độc lập, nhưng bằng một cách nào đó, khi sắp đặt khéo léo bên cạnh những câu chuyện nhỏ của Lam, quyện hoà nhuần nhuyễn, khiến trí tưởng tượng của người đọc được chắp cánh bay xa.

Ca sĩ Phan Lê Ái Phương mang đến chương trình chút không khí ngọt ngào bằng một ca khúc do cô tự sáng tác - Ảnh Thành Nhân

Buổi ra mắt sách kết thúc với phần đấu giá ba bức tranh trong tổng số tranh được Amanda trưng bày tại buổi ra mắt.

Toàn bộ số tiền thu được từ ba bức tranh Mưa mùa thu, Tàu đợi bên rừng Lam (125 triệu đồng) được tác giả dùng cho mục đích quyên góp tiền giúp đỡ trẻ em nghèo vùng sâu vùng xa.

Theo Minh Trang - Tuổi trẻ online

Khi người viết trẻ hứng thú với đề tài lịch sử

Khi người viết trẻ hứng thú với đề tài lịch sử

Nhớ lại những năm tám mươi của thế kỷ trước, khi đó đã gần 40 tuổi, Nguyễn Huy Thiệp mới trình làng những truyện ngắn lấy tư liệu lịch sử làm nguyên mẫu như: Mưa Nhã Nam, Kiếm sắc, Vàng lửa… Thời gian sau đó tới những năm đầu của thế kỉ mới, vẫn chỉ có những nhà văn lớn tuổi như Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân… Trong khi rất ít cây bút trẻ có hứng thú với mảng hiện thực quá khứ này mà thiên về những vấn đề của xã hội mới.

Tuy nhiên khoảng mười năm trở lại đây, nhiều cây bút trẻ tuổi đã tìm đến các đề tài trong quá khứ, các nhân vật, điển tích để viết bằng một cảm quan hoàn toàn nới mẻ, khi đã tích lũy được vốn tri thức và ý thức đúng được giá trị của những vấn đề lịch sử. Các tiểu thuyết như: Trần Khánh Dư của Lưu Minh Sơn; Sương mù tháng giêng của Uông Triều; Truyện ngắn Bức di thư bị bỏ quên của Nguyễn Thị Luyến; tập truyện ngắn Ngủ giữa trùng Sơn của Lê Vũ Trường Giang; một số truyện ngắn của Đinh Phương…


Sách về lịch sử Việt Nam đoạt Giải vàng Sách hay- Giải thưởng Sách Việt Nam 2015 (ảnh tuoitre.vn)

Trước hết, có thể lí giải nguyên nhân xuất hiện của xu hướng này như sau: Đó là kết quả của một khoảng thời gian vừa đủ, một độ lùi cần thiết để các cây bút trẻ nhìn nhận lại lịch sử, biện giải lịch sử. Trong buổi ra mắt tập truyện ngắn, Lê Vũ Trường Giang tâm sự: “Xuất phát từ những tàn sâu vết tích của lịch sử vùng đất cố đô, tôi đã sống với nó để sáng tác ra những cái hay, cái đẹp, biện giải lịch sử và làm hoàn thiện bản thân mình bằng văn học”.

Thứ hai, đó là nhu cầu được khẳng định quan niệm của cá nhân về các vấn đề hiện thực, các phạm trù thẩm mỹ trong cuộc sống. Hay nói như nhà văn trẻ Đinh Phương đó là cái “cớ”: “Thực ra viết về đề tài lịch sử nhưng nó không phải là theo kiểu sử thi, mang âm hưởng ngợi ca… Nó là lịch sử, nhưng là lịch sử dưới góc nhìn của tác giả, một cá nhân cụ thể… Thậm chí nói là viết về lịch sử, với những nhân vật có thật trong lịch sử, nhưng lịch sử lúc ấy chỉ như là cái cớ để dẫn dắt câu chuyện, chứ không “lệ cổ” như trong các truyện ngắn hay tiểu thuyết lịch sử khác…”.

Thứ ba, đó là sự ám ảnh với những món nợ lịch sử và viết như sự trả lời. Nhà văn trẻ Lưu Minh Sơn cho rằng: “đến với đề tài lịch sử không chỉ đơn thuần là yêu sử mà điều thôi thúc lớn nhất đó là những “ám ảnh”, “nghi ngờ” về những thân phận người trong lịch sử, và anh muốn “giải mã”, tìm sự công bằng cho họ.”

Từ những nguyên nhân cơ bản trên, có thể thấy đề tài, cảm hứng từ lịch sử đã được người viết trẻ tiếp cận và viết như một nhu cầu tất yếu chứ không phải là sự mô phỏng theo những cây bút đi trước. Đọc Bức di thư bị bỏ quên của Nguyễn Thị Luyến, ta bắt gặp những cật vấn trong một giả định về cuộc đánh tráo: “Trước mắt mọi người, tôi là Chiêu Thánh công chúa an phận thờ Phật. Trước ban thờ Phật, tôi là một đệ tử lòng thành. Đôi khi nhớ chính mình, trong đầu tôi nhớ một khoảng màu xanh yên bình tuổi mười sáu.

Nhà vua là người duy nhất trong hoàng cung biết rõ thân phận tôi. Nhưng ánh mắt đau đáu ngài nhìn tôi cũng chất chứa nhiều tâm sự. Cũng có ngày nhà vua xót thương tôi chăng?”

Đó là sự nhập thân của người viết trước nhu cầu biện giải lịch sử. Bằng điểm nhìn bên trong được đặt vào đôi mắt Chiêu Thánh, tác giả lí giải mọi diễn biến tâm lý của các nhân vật lịch sử mà người đọc vẫn không cảm thấy lịch sử bị thay đổi. Trong Bạc màu áo ngự, Lê Vũ Trường Giang, sự nhập thân ấy mạnh mẽ, quyết liệt hơn nhằm nhận diện về tình thế lịch sử và nhân cách của một vị vua: “Ta đốt quê hương! Ta đốt quê hương rồi đó!”.

Đó là lần cuối cùng tôi thấy Đức Hàm Nghi của tôi khóc, khóc bằng giọt nước mắt đắng. Người đã bị tước đi cái quyền được ngắm nhìn bầu trời thân yêu của mình và thành đô vang bóng chỉ còn là kí ức của kẻ tha hương. Khi bác bếp và anh thông dịch mang xô nước lên, Đức Ngự thảng thốt nói trong nước mắt trước khi giấc ngủ và mệt mỏi xô ngài gục lên chiếc ghế kê bên ô cửa: “Ta là một con chim Lạc bất hạnh vì sợi dây đang buộc chặt chân ta”. Từ cửa lớn, viên sĩ quan - quản gia người Pháp xuất hiện và hỏi anh thông dịch rằng nhà vua đã nói gì. Tôi liếc mắt nhìn anh ta và người thông dịch lắc đầu, chỉ đáp lại lời sau này anh kể lại là: “Hoàng tử chỉ muốn yên giấc trên chiếc giường của ngài!”.

Có thể thấy, với nhu cầu tiếp cận và lí giải các đề tài lịch sử, các tác giả trẻ đã khẳng định được chỗ đứng trong lòng bạn đọc. Điều này giúp họ tin tưởng hơn ở cảm quan thẩm mỹ của những người chưa có nhiều phơi trải nhưng vẫn đủ tinh tế, sâu sắc và tài hoa trong sáng tạo.

Phương Mai - Văn học quê nhà

Chờ gió cho văn trẻ

Chờ gió cho văn trẻ

Sắp tới, Hội nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX. Và câu chuyện phát hiện, bồi dưỡng những người trẻ viết văn một lần nữa lại được đặt ra, nhất là trong bối cảnh hoạt động này còn thiếu hụt như hiện nay.

Một số cây bút tại Hội nghị Những người viết văn trẻ Hà Nội lần 2.

Như một cách so sánh, liên tưởng, nếu nhìn ngay vào một số điểm đáng ghi nhận, đáng được phát triển hơn sẽ càng thấy rõ sự thiếu hụt đó. Ngoài hoạt động thường xuyên của Khoa Viết văn - Báo chí Trường ĐH Văn hóa Hà Nội trong việc bồi dưỡng kiến thức, kinh nghiệm cho các bạn trẻ muốn đi vào con đường sáng tác, có thể kể đến một số địa chỉ có sự quan tâm đến người viết trẻ. Trong đó, tạp chí Văn nghệ Quân đội là một nơi có ý thức động viên, khích lệ các cây bút trẻ và thường khai thác, đăng tải tác phẩm của các gương mặt trẻ, mới. Trong nhiều trại viết được tạp chí tổ chức ở một số địa phương như Đại Lải, Đà Lạt, Đà Nẵng… thời gian qua, dễ thấy việc quan tâm mời nhiều người viết trẻ tham dự để “chắt lọc” từ họ một số tác phẩm chất lượng khá và tốt giới thiệu với công chúng. Qua một số cuộc thi do tạp chí này tổ chức, đã có thêm những cây bút trẻ khẳng định mình bằng các giải cao. Đây cũng là điểm dễ nhận thấy từ một số cuộc thi do báo Văn nghệ tổ chức. Nhưng tất nhiên, đó vẫn là những hoạt động dành cho người cầm bút nói chung. Để có được những hoạt động riêng cho những người viết trẻ như một số chuyến thực tế sáng tác hay việc tổ chức sân thơ trẻ do Ban nhà văn trẻ- Hội Nhà văn Việt Nam nhiệm kỳ trước triển khai thì thực sự còn rất hiếm.

Cần kể đến một nét mới trong hoạt động nhiệm kỳ mới của Hội Nhà văn TP HCM. Đó là việc tổ chức vận động in ấn và ra mắt tác phẩm đầu tay của một số cây bút trẻ đang học tập, làm việc trên địa bàn TP. Hội nghề nghiệp vốn khó lòng có đủ điều kiện để thực hiện công việc này. Nên việc tiếp cận nguồn kinh phí từ xã hội để bồi bổ cho người viết trẻ là tín hiệu đáng chú ý. Và thực sự đó cũng là điều rất nhiều người, nhiều nơi muốn nhưng chưa hẳn đã làm được. Nét mới bước đầu này gợi ra hy vọng các nhà tổ chức có thể thiết kế được nhiều hơn cho những đầu việc khác nữa như đi thực tế, mở trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi hay vận động sáng tác.

Điều này, nhìn ngay sang hoạt động của Hội Nhà văn Hà Nội mấy năm qua, cũng có thể thấy ngay vẫn còn là một giấc mơ chưa khởi động. Dù có nhiều nỗ lực, tâm huyết cho hoạt động chung do một số ít nhân sự chủ chốt của Hội thực hiện với những thành quả đáng ghi nhận, nhưng riêng với công tác dành cho người trẻ, thì có lẽ nổi bật nhất chỉ có Hội nghị viết văn trẻ thủ đô lần thứ hai năm 2015, diễn ra sau 22 năm kể từ lần thứ nhất năm 1993. Tại diễn đàn của sự kiện này, những trăn trở, đề xuất của các cây bút trẻ hiện sống và làm việc trên địa bàn Hà Nội đã được thể hiện, đã có một số dự định “hậu hội nghị” được đề ra. Nhưng gần một năm trôi qua, hẳn rằng những dự định đó sẽ được… chuyển sang nhiệm kỳ mới của Hội. Cũng trong năm 2015, dư luận và nhiều cây bút trẻ quan tâm đến một số hội nghị những người viết lí luận phê bình trẻ do Hội đồng lí luận văn học nghệ thuật trung ương tổ chức. Nhưng các diễn đàn này cũng mới dừng lại ở việc: nhìn rõ thêm thực trạng, đề xuất ra kiến nghị, phác thảo một số giải pháp...

Gom vào một số sự kiện, hoạt động, nét mới hiếm hoi trên, tuy rằng chưa đầy đủ, nhưng từ đó sẽ lại càng thấy còn nhiều lỗ hổng chưa được lấp, nhiều nguyện vọng chưa được hồi đáp hay mới được nghe và hưởng ứng một cách quá chậm rãi. Đó là những băn khoăn về chính sách cho văn học nói chung, cho người viết trẻ nói riêng, về đầu tư sáng tác, quảng bá tác phẩm của người trẻ, là ý thức nhập cuộc của cơ quan nhà nước bên cạnh các hội nghề nghiệp trong khi các hội vốn cũng không thể thật “chu đáo” với người viết trẻ khi mà điều kiện chung còn eo hẹp… Những điều này thực ra đã nhiều lần được đề cập, hy vọng sẽ lại được gióng lên ở Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ IX trong tương lai gần, cũng như những diễn đàn khác.

Trong khi chờ đợi hay không có ý chờ đợi lắm, đương nhiên các cây bút trẻ vẫn miệt mài sáng tác bên cạnh những công việc khả dĩ có thể “nuôi” việc sáng tác, xuất hiện trên các báo, tạp chí, ra sách và nghĩ về ngày mai tươi sáng hơn. Sáng tác là việc riêng của họ, nhưng rõ ràng, góp được thêm chút gió nào cho những người viết trẻ thì sẽ hay hơn là không, hoặc chưa, hoặc... ít quá!

Nguyễn Quang Hưng - Báo Đại đoàn kết

Khác biệt văn học trẻ phía Nam

Khác biệt văn học trẻ phía Nam

So với văn học trẻ cả nước, văn học trẻ TP. Hồ Chí Minh sôi động hơn hẳn, từ việc ra sách, bán sách, lực lượng sáng tác trẻ…

Sôi động văn học trẻ

Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh là hai thị trường văn học lớn nhất cả nước, thậm chí Hà Nội còn được cho là “đất văn chương”. Thế nhưng những cuốn sách luôn nằm trong danh sách sách bán chạy hoặc có lượng xuất bản nhiều thì phần lớn xuất phát từ các tác giả phía Nam. Và với văn học trẻ, đây cũng không phải là ngoại lệ.


Các nhà văn trẻ TP.HCM (ảnh nhandan.com.vn)

Liên tiếp hai Hội sách tại TP. Hồ Chí Minh, 2 cuốn sách “Buồn làm sao buông” và “Thương mấy cũng là người dưng” của tác giả Anh Khang đều có tên trong danh sách 10 đầu sách bán chạy.

Ngoài Anh Khang có thể kể đến Iris Cao cũng là cái tên mà khi ra sách luôn có số lượng xuất bản khiến nhiều người cầm bút mơ ước.

Nếu như để nổi tiếng và có sách bán chạy đối với văn xuôi đã khó nhưng xem ra để “nổi tiếng” và “có sách bán chạy” bằng thơ còn khó khăn hơn. Thế nhưng tác giả trẻ Phong Việt ngay từ tập thơ đầu tiên xuất bản đã tạo được sự chú ý của dư luận và khiến không ít người ngạc nhiên, thậm chí nghi ngờ khi có số lượng xuất bản lên tới vạn bản.

Vào năm 2014, một số đơn vị làm sách đã công bố so sánh thị trường sách miền Bắc và miền Nam. Theo đó, ngay cả nhiều đầu sách được in ở miền Bắc nhưng mức tiêu thụ ở miền Nam vẫn cao hơn, thậm chí là cao hơn gấp đôi.

Không những thế, các buổi ra mắt sách, giao lưu ký tặng của các tác giả trẻ phía Nam thường diễn ra cảnh đông nghịt, xếp hàng dài chờ nhau để được mua sách, xin chữ ký.

Trong ngày Hội sách TP.HCM lần thứ 9- 2016 thì phần lớn các chương trình giao lưu là dành cho người đọc trẻ, độ tuổi khoảng từ 15-25. Những banner, tờ rơi quảng cáo trong hội sách tô đậm những cái tên: Hamlet Trương, Anh Khang, Phan Ý Yên, Thanh Duy, Nguyễn Ngọc Thạch... đây đều là những gương mặt nhiều tiềm năng, hứa hẹn “doanh thu” cho các đơn vị xuất bản sách.

Các giải thưởng, các chuyến tham quan, thực tế, trại sáng tác… dành cho văn học trẻ phía Nam cũng được quan tâm, tổ chức đều đặn hơn. Do đó, mặc dù số lượng các cây bút trẻ vào hoạt động các hội chuyên ngành không nhiều như ở một số địa phương nhưng lại ngày một tăng lên.

Tại sao văn học trẻ phía Nam lại sôi động?

Liệu có phải do các đối tượng viết sách khiến văn học trẻ phía Nam sôi động? Tuy nhiên, các đối tượng viết sách ở miền Nam và miền Bắc đều có sự đa dạng, từ người làm công việc gần gũi với viết lách đến người làm công việc không liên quan đến viết lách.

Phải chăng việc PR sách của đơn vị làm sách, cũng như tự tác giả PR ở khu vực phía Nam tốt hơn so với các khu vực khác?

Thị trường sách nói chung và văn học trẻ nói riêng phía Nam sôi động với lượng xuất bản dồi dào cho thấy một thị trường đầy cởi mở. Phải chăng độc giả phía Nam cởi mở hơn, gu độc giả của phía Nam cũng khác so với gu độc giả các vùng miền khác?

Việc các cuốn sách bán chạy dù chưa bàn đến chất lượng hay dở đến đâu và như thế nào nhưng rõ ràng điều này kích thích, cổ vũ mạnh mẽ người cầm bút. Đây là điều rất cần thiết, nhất là cho những người viết trẻ.

Và lý do nữa, dân số ở TP.HCM đông hơn Hà Nội khoảng 1 triệu người (số liệu thống kê của Tổng cục Dân số 7/2014) có phải là lý do để các cuốn sách của tác giả trẻ phía nam bán chạy hơn?

Mặc dù có nhiều ý kiến không đồng nhất giữa sách bán chạy và sách hay, thậm chí còn có những “cảnh báo” cho tác giả trẻ mê mải chạy theo xu hướng của đại đa số độc giả nhưng không thể phủ nhận sự sôi động của văn học trẻ khiến cho thị trường độc giả phong phú, qua đó hiểu được thị hiếu của độc giả số đông.

Trong cuộc phỏng vấn bàn về “Thế hệ nhà văn sau 1975” với nhà lý luận phê bình Văn Giá - Trưởng khoa Viết văn - Báo chí, liệu thế hệ 7X, 8X có vị trí thế nào, đã có thể đứng cùng thế hệ trước và gọi tên chung trong “thế hệ nhà văn sau 1975” hay chưa, thì nhà phê bình Văn Giá cho biết: Thành tựu của thế hệ 7x, 8x tuy đã có khá nhiều nhưng vẫn đang trong quá trình định hình, chưa tạo ra một diện mạo, một thế hệ. Để trở thành diện mạo, phải có những đặc điểm riêng biệt. Lớp những người cầm bút 9x thì đang còn mỏng cả về đội ngũ và chất lượng”.

Hà Anh - Văn học quê nhà

Nhà thơ khiếm thính kể chuyện đất Hà thành

Nhà thơ khiếm thính kể chuyện đất Hà thành

Từ Hồng Sơn nói anh là người hoài cổ. Minh chứng của sự hoài cổ ấy là khi đề cập chuyện phỏng vấn từ xa vì điều kiện địa lý cách trở, anh bảo nhất quyết không trả lời bằng “mail” (thư điện tử) vì “như thế thì lạnh lẽo quá”. Bởi vậy, khi tác giả của “Hà Nội mùa thổ phách” nói rằng sẽ “trò chuyện” từ xa bằng cách viết ra giấy, tôi vẫn giật mình khi anh hì hụi ngồi viết tới 5 mặt giấy rồi chụp lại và gửi cho mình qua Facebook.

Tai ương không thể nhấn chìm

Từ Hồng Sơn đích thị là một cậu trai Hà Nội. Sinh ra và lớn lên ở Lý Nam Đế, nơi anh gọi là “phố nhà binh”, cậu bé Từ Hồng Sơn thuở nhỏ khá hiếu động. Anh cùng chúng bạn là “tiểu đội” những đứa trẻ con trong khu phố không bao giờ biết buồn với những trò chơi như bắt ve, hái sấu, chọi quay, pháo đất... Những tháng ngày hạnh phúc ở cái nơi gọi là “pháo đài tuổi thơ” của Từ Hồng Sơn có lẽ sẽ kéo dài thêm nếu không có tai nạn ập tới, vĩnh viễn tước đi khả năng nghe của anh khi mới vừa 6 tuổi.

Nhà thơ Từ Hồng Sơn và tác phẩm “Hà Nội mùa thổ phách”

Việc sống trong một thế giới không còn âm thanh là một bất hạnh đối với bất kỳ ai, nhất là với một cậu bé đang ở độ tuổi đến trường. Trong suốt những năm tháng đi học, thầy cô luôn ưu tiên xếp cho cậu học trò ngồi bàn đầu để có thể tiếp thu bài giảng tốt hơn. Nỗ lực gấp đôi, gấp ba những học sinh bình thường trên lớp, ở nhà Từ Hồng Sơn phải nhờ cậy sự giúp đỡ của gia đình để có thể tiếp thu trọn vẹn bài vở mà thầy cô giao cho.

Nhưng với cậu bé đầy lạc quan này thì đó không phải là tai ương có thể nhấn chìm cuộc đời anh. Anh trải lòng: “Tôi không nghe được nhưng tôi cũng học được cách đọc khẩu hình của người khác khá nhanh. Ông trời cũng bù lại cho tôi đôi mắt khá tinh nữa. Tôi có quan niệm dù có nghe được hay không thì cũng phải sống cho tử tế”.

Năm 1993, Hồng Sơn rời Hà Nội vào Nam sinh sống. Cuộc di cư đột ngột này đối với Từ Hồng Sơn lúc ấy chưa có nhiều ý nghĩa, vì chỉ nghĩ là theo mẹ vào Nam thôi, chứ với cậu học trò mới học hết lớp 5 khi ấy cũng chẳng biết gì. Sau này khi trưởng thành, anh mới ý thức được sự xa cách ấy không đơn thuần là khoảng cách địa lý, mà là bao nỗi niềm chất chứa.

Đến nỗi, khi đã trở thành một sinh viên của trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM, khi đã bước đi trên con đường nghệ thuật, anh vẫn luôn muốn được viết một cái gì đó về Hà Nội, với tất cả sự yêu thương như sợi dây ràng buộc với cố hương. Có những ngày ngồi trên giảng đường đại học, Từ Hồng Sơn thấy mình “cầm sách nhiều hơn cầm cọ”, bởi so với hội họa thì văn học lại có sức cuốn hút lớn hơn, anh thấy được chính mình trong đó. Nhưng không vì thế anh bỏ ngang việc vẽ, chỉ là lúc nào ý tưởng về một cuốn sách về Hà Nội cũng thường trực trong đầu.

Sẽ viết đủ serie Ngũ hành

Ký ức ấu thơ mà Từ Hồng Sơn còn nhớ rõ nhất là những ngày được ông ngoại đạp xe chở quanh hồ Gươm. Khi ấy, anh nhớ mình đã được ông mua cho một cây kem Tràng Tiền và được chỉ cho xem nào là hồ Gươm, tháp Rùa, rồi chỗ kia trước đây là một ngôi chùa, sau này chỉ còn sót lại tháp Hòa Phong sừng sững. Chính những điều này đã khiến cho cậu bé Từ Hồng Sơn ngày ấy tò mò và thôi thúc ý nghĩ sẽ tìm hiểu nhiều hơn về huyền sử đất Thăng Long.

Nếu đọc “Hà Nội mùa thổ phách” sẽ hiểu căn nguyên vì sao Hà Nội trong thơ của Từ Hồng Sơn lại mang một dáng hình cổ mặc đến như vậy. Hà Nội là “thổ” - là đất, mà cũng là hồn, là “phách”. Hà Nội trong thơ Từ Hồng Sơn là thực, nhưng nó cũng gần với cõi mơ, nhất là trong cơn mơ của người da diết nhớ, lúc nào cũng đau đáu thấy quê hương.

Đọc thơ Từ Hồng Sơn, ta như đi giữa lối cũ của cái thời xa lắm, của “trái bàng ủ rượu nước mưa”, của “khuông nhạc phố rải lanh canh phách cuốc”, của “nắng lưa thưa răng lược ngõ loan nâu”, nơi mà chỉ lá rơi thôi cũng như “múa chầu sân phố”.

Nhưng ẩn sau một Hà Nội trầm ngâm nép mình cũng là một Hà Nội thân thuộc đến nao lòng của những người đã từng đi qua cái thời đói khổ “nắm cơm nguội, bát canh chua, cà muối dở”, với “bếp cạn dầu, chum gạo rỗng, bấc đèn nhom”. Những thanh âm như tiếng leng keng tàu điện, tiếng kinh tụng sân chùa, tiếng rao hàng, tiếng chợ cóc…, nếu những người bình thường có thể cảm nhận được bằng đôi tai, thì với Từ Hồng Sơn là bằng trái tim, bằng rung cảm.

Từ Hồng Sơn nói, sau “Hà Nội mùa thổ phách” anh sẽ viết cho đủ một serie ngũ hành. Chẳng biết đùa hay thật nhưng lúc bài báo này lên khuôn thì tập thơ thứ hai của anh - “Hà Nội mùa mộc phách” cũng kịp có mặt trên các kệ sách. Nghe nói Từ Hồng Sơn còn ấp ủ một cuốn tiểu thuyết về Hà Nội, sẽ là một cuốn tiểu thuyết về những đứa trẻ ở khu gia binh mà anh đã từng sống ngót nghét 30 năm trước… Và tôi tin, mối nhân duyên của Từ Hồng Sơn với Hà Nội sẽ còn được nối dài bởi đôi cánh văn học, bởi cây bút tài hoa này còn thương, còn nhớ Hà Nội nhiều lắm.

Theo Mai Anh - An ninh Thủ đô

Tu tu xình xịch - Tản văn của Đỗ Phấn

Tu tu xình xịch - Tản văn của Đỗ Phấn

Âm thanh quá đỗi quen thuộc với dân Hà Nội từ đầu thế kỷ trước đã trở thành danh từ để gọi tàu hỏa hơi nước. Nó là phương tiện vận tải phổ thông rẻ tiền nhất phù hợp với số đông dân chúng cả thành thị lẫn thôn quê. Tất nhiên chỉ những vùng có tàu hỏa đi qua. Mạn Tây Bắc từ Cao Bằng sang Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên xuống đến tận Hòa Bình không có tàu hỏa.


Ảnh minh họa: Internet


Chẳng hiểu vì sao ta quen gọi là tàu hỏa Bắc - Nam mà không phải là ngược lại. Kể cả trong văn bản hành chính cũng đều dùng cụm từ này. Tàu hỏa hơi nước lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam là vào năm 1881 khi người Pháp xây dựng tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho dài 70km. Chuyến tàu đầu tiên vào năm 1885 còn phải vượt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà ở Bến Lức. Đường sắt Bắc - Nam mãi đến tận năm 1936 mới được xây dựng. Nghĩa là tàu hỏa và đường sắt có mặt ở miền Nam trước khi có tuyến đường sắt Bắc - Nam năm chục năm có lẻ.


Mới chỉ vài chục năm thôi, trước năm 1993 ở Hà Nội nói đến tàu hỏa có nghĩa là đầu máy hơi nước. Tàu hơi nước chạy qua Hà Nội một quãng dài từ Ngã Tư Vọng lên đến đầu cầu Long Biên. Đó là một công trình kỳ vĩ đầy mê say của lũ trẻ Hà Nội nhiều thế hệ. Chiếc đầu máy hơi nước với thiết kế khỏe khoắn để lộ gần hết phần cơ khí ra bên ngoài sơn màu đen đỏ trắng tuyệt đẹp. Những bánh xe khổng lồ có vành thép bán nguyệt đối trọng. Những tay đòn lớn đan chéo nhau nhịp nhàng chậm rãi. Miệng lò than trong khoang lái lúc nào cũng rực hồng hắt lên gương mặt bóng loáng của những công nhân lái tàu. Những chiếc xẻng xúc than mòn vẹt sắc lẻm. Bình hơi chính khổng lồ án ngữ trên đầu máy là nơi lũ trẻ đặt ra nhiều câu hỏi nhất. Có thật nó là chiếc nồi to nhất thế gian? Nhiều đứa còn cho rằng hơi nước phụt ra là để đẩy cả đoàn tàu đi. Mãi về sau lân la hỏi các bác lái tàu mới biết chẳng có một cái nồi nào cả. Nước được đun bằng các ống thép chạy vòng vèo trong ấy.


Tàu hỏa hơi nước là một đồ chơi kỳ thú sống động của trẻ con ở phố. Nhiều đứa trốn học ra các điểm chắn tàu Nguyễn Khuyến, Điện Biên Phủ, Trần Phú đón xem các chuyến tàu qua lại. Chúng dỏng tai nghe đến thuộc lòng các hiệu còi tàu vọng ra từ ga Hàng Cỏ. Có thể biết chính xác lúc nào thì tàu chuyển bánh. Nghển cổ ngóng vào trong ga đón xem những đợt khói trắng đầu tiên phả lên nền trời. Và tiếng xình xịch bánh sắt chậm rãi nhịp nhàng tiến lại gần. Vài đứa hiếu kỳ hơn còn leo lên cầu vượt Khâm Thiên để nhìn tận mắt vào trong cái ống khói khổng lồ hì hục nhả hơi ướt mèm.


Những ngày hè rỗi rãi, lũ trẻ đi men theo đường sắt từ quãng Trần Phú lên cầu dẫn Phùng Hưng. Cây cầu dẫn đường sắt được xây dựng cùng với cầu Long Biên còn y nguyên dáng vẻ mềm mại uy nghi với hàng lan can thép uốn hình số 8 liên tiếp qua hết cây cầu. Những mố cầu xây đá hộc kiểu vòm mái vững chãi chạy vòng quanh khu phố cổ sầm uất Phùng Hưng, Cửa Đông, Hàng Vải, Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Giấy, Nguyễn Thiếp, Hàng Đậu. Đi bộ trên cầu dẫn có thể nhìn bao quát toàn cảnh những ngói nâu tường cũ một thời Hà Nội cổ kính êm đềm. Người ở xa về ngồi trên tàu hỏa cao hơn nhìn xuống vô cùng choáng ngợp với ánh đèn lộng lẫy giăng mắc khắp thành phố. Ngày ấy những miền quê từ Gia Lâm trở ra hầu như tối om trên suốt hành trình từ Hà Nội đi Lạng Sơn, Hải Phòng, Lào Cai. Những năm chiến tranh trên toa tàu khách cũng chỉ có vài ngọn đèn bão treo dưới giá để hàng. Lúc thắp, lúc hết dầu khói bay cay mắt.


Những năm chiến tranh có vài trường đại học sơ tán lên vùng núi phía Bắc dọc theo tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai, như: Trường Xây dựng, Kiến trúc, Sư phạm, Tài chính, Quân sự… Tàu hỏa là phương tiện duy nhất của sinh viên Hà Nội. Sinh viên thường mua vé tàu cho đến hết học kỳ đầu tiên năm thứ nhất. Những năm còn lại là đi nhờ. Nhảy tàu xuống chỗ chắn Trần Phú, Điện Biên Phủ. Hình như những người lái tàu cũng biết điều đó và họ giúp đỡ sinh viên nghèo bằng cách luôn giảm tốc độ khi về đến đấy.


Tiếng tàu hỏa tu tu xình xịch quen thuộc đến mức có cô gái ngoại thành vào Hà Nội tìm đến một ông lang nổi tiếng ở Bờ Hồ khám bệnh. Cô gái khai bệnh lúc nào cũng nghe như có tiếng tu tu xình xịch trong đầu. Ông lang giữ cô lại chữa trong vòng một năm. Bệnh khỏi. Cô có thêm một em bé và ở lại luôn trên phố. Dân phố có thêm thành ngữ “Tu tu xình xịch” để chỉ những phụ nữ nhập cư lỡ làng.


Tàu hỏa hơi nước biến mất từ năm 1993. Thành phố luyến tiếc âm thanh thân thương của nó suốt gần một thế kỷ. Không còn tiếng “tu tu xình xịch” nữa. Những phụ nữ lỡ làng giờ cũng gọi là bà mẹ đơn thân. Dịch ra tiếng Anh là Single mom.


Nguồn SGGP

Trang 5 trong tổng số 58 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay814
mod_vvisit_counterHôm qua4263
mod_vvisit_counterTất cả4532320

20 162
,
Hôm nay:29 - 3 - 2017
Hiện có 344 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: