Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> 360 độ X

Thảm trăng sáng bên hố đen hiện thực

Thảm trăng sáng bên hố đen hiện thực

Thể phận của chữ gắn liền với hành trình tâm thức được cấu sinh, hiệp thành từ hiện thực lẫn hư cấu mà người viết tiếp nhận và chuyển thể. Một cuộc hạnh ngộ   “Trăng màu hổ phách”như hương trời vấn vít giữa tầng không, đẩy sáng tạo đến biên độ của mộng mơ nguyên lành và cả những sự thật đắng cay.


Cao Nguyệt Nguyên, một nữ nhà văn trẻ thuộc thế hệ 9X, đã tạo nên một thế giới nhân vật của mình như thế trong tập truyện ngắn đầu tay “Trăng màu hổ phách”. Sở hữu một giọng văn là hợp chất của mây (bồng bềnh), ánh trăng (sáng, dịu), nước (mềm), đất (cứng) được khuấy đều trong trí tưởng hồn nhiên còn vương lại của một kẻ bí ẩn, lẩn khuất trên từng trang viết. 11truyện ngắn, 11 mảnh ghép của khối rubic đa sắc màu nhưng cùng hướng về một cực điểm: vết sẹo thân phận người. Một Bống đầy khao khát rồi lạc bước trong “Lạc khúc”, là Ràng đau đớn về mối tình không vẹn toàn với Mái “Trên đỉnh Chumpua” giá lạnh, đơn côi; là Khoa quỷ dở người, quằn quại trong cơn mê hoan lạc của “Mùa quỷ hành”, là Tuyến vỡ nát của vầng trăng trinh suốt trong một gia đình rối như canh hẹ của “Trăng màu hổ phách”, là Thúy bơ vơ, lạc lõng giữa sự lựa chọn của người mẹ đứt gánh trong “Sóng ô đầu”, là Dín và Súa đầy mất mát thời hậu chiến trong “Đảo mây và bồ câu xám”..


Cao Nguyệt Nguyên từng chia sẻ về chất liệu sáng tạo của mình: “Đa số những truyện ngắn tôi viết đều dựa trên những nhân vật trong cuộc sống thực, những người đã gặp, những chuyện tôi đã trải qua”. Nhiều tác phẩm của Cao Nguyệt Nguyên có sự thể nghiệm về bút pháp, cấu tứ và hình thức diễn đạt như Trăng màu hổ phách, người hai mặt... Vì lẽ tác giả quan niệm rằng: “Đối với người viết trẻ, không nên ngại thể nghiệm các hình thức viết, hãy thỏa sức sáng tạo của mình ở nhiều dạng thể loại, dần dần sẽ tìm ra được phong cách riêng của mình”. 11 truyện ngắn trong một tập đầy đặn, vừa phải, làm khó người đọc một cách mềm mại, khơi gợi sự tưởng tượng ẩn giấu trong không gian huyền ảo, cuốn hút.
Tập truyện “Trăng màu hổ phách” có thể chia làm ba chủ đề xuyên suốt là cuộc đổi thay của những miền quê đang dần đánh mất đi những “tồn thể” truyền thống (Hương trời, Tinh đất xóm Điều, Trên đỉnh Chumpua ; bi kịch buồn thảm trong các gia đình (Trăng màu hổ phách, Đảo mây và bồ câu xám) và tâm lí tình dục của những con người méo mó (Lạc khúc, Mùa quỷ hành, San hô đỏ trên đá)... 

Người đọc cảm nhận sự xáo trộn của những vùng quê hẻo lánh bởi những “lột xác” cố tình, đi ngược lại những giá trị truyền thống. Trong “Hương trời”, nhân vật Hà, dù chỉ là con nuôi của ông Nhẫn, người làm trà sen nổi tiếng, ra sức bảo vệ ao sen và nghề gia truyền vốn dĩ rất kén người chế biến “Ướp sen bằng sức sao có thể thanh thảo bằng chính tâm hồn người làm nó”. Công việc làm sen được tác giả miêu tả rất chi tiết: “Chè xanh được sao tròn búp, giòn rộp trong lớp lá sen. Một lớp gạo sen lấm tấm như ngàn vạn hạt ngọc li ti rải lót đáy chum sành. Chè rắc lên, đều đều… Mồ hôi thánh thót, cách một lớp chè, lại một lớp gạo sen”. Vậy nhưng, người con trai ruột duy nhất của ông Nhẫn lại cứ chực bán đất, bán ao sen để lấy tiền làm việc khác. Từ đó, không khí thanh tao của một gia đình làm nghề tâm hồn đã không còn yên bình như trước: “Đêm cô lại như mực, vắng lặng đến mức có thể nghe thấy cả tiếng thở đau đớn của hương trời”. Một thái độ phản ứng cương mãnh, quyết bảo vệ từng gốc sen của người gìn giữ nghề cổ truyền đã gắn bó như máu thịt: “Ông Nhẫn cố hơi tàn chạy ra chặn trước mũi xe, tay lăm lăm rựa. Một cây sen chết sẽ có một người chết”. Tinh thần ấy của ông Nhẫn và Hà cuối cùng đã bảo vệ được ao sen, nghề làm trà sen, sau này khi ông Nhẫn mất người con ruột thức tỉnh, đã nhường phần nghề và ao sen lại cho Hà. Dù là một kết thúc có hậu nhưng đã gióng lên hồi chuông như “tiếng thở đau đớn của hương trời” trong các làng quê Việt Nam bây giờ giữa tân và cựu, giữa lợi ích vật chất và giá trị truyền thống.

“Tinh đất xóm Điều” tiến xa hơn một bước sự thoái hóa nghiêm trọng của đạo đức ở làng xã trong một gia đình đầy nứt vỡ. Bà Loan, một cụ già neo đơn dù có con cái đề huề nhưng vẫn bị lão Gạc (con rể), bà Mùi (con gái) bỏ rơi, chẳng thèm đếm xỉa ở một làng quê được mệnh danh “Cái đất chó ăn đá gà ăn sỏi bao năm nay”. Nhờ một dự án khai thác đất sét, làng quê ấy thoắt biến “giờ trở thành vàng cốm trong chớp mắt”. Con cháu từ lâu bỏ rơi bà bỗng nhiên quay ngoắc 1800 với “nghĩa cử”: “Bốc bà cụ xuống nhà mình, lấy đất giồng cây mà lấy đền bù”. Bà Loan ngạc nhiên trước thái độ kì lạ của con rể, con gái vốn từ lâu xem mẹ như người dưng, giờ quay lại  một nhà xôm tụ. Nhưng rồi dự án lấy đất không thực hiện, cả nhà ông Gạc thất vọng vô cùng đến nỗi “Suốt ba ngày Lão Gạc không ăn được gì, nằm một chỗ, môi bợt ra”. Con cháu lại biết chuyện xã hỗ trợ người già cô đơn thì nghĩ đến kế “bốc” bà quay trở lại vì “Bà mình mà tách ra, hộ khẩu riêng thì ăn chắc một suất”. Tác giả đã đẩy câu chuyện lên đỉnh điểm của cái rởm đời, thối nát ngay trong chính tình thân nội gia, tiền bạc đã xóa đi mọi ranh giới của trách nhiệm, yêu thương. Sống trong một gia đình như vậy, Thanh - con gái ông Gạc, bà Mùi trở thành sản phẩm của sự xuống cấp, hiện thân cao nhất cho thứ “lý tưởng chết người” mà cha mẹ cô là đại diện. Thanh đi học xa nhà, trở thành một cô gái khác bao cô gái chân quê “...tóc duỗi thẳng, quần bò bó chẽn, hai đầu gối đi va vào nhau”. Bà ngoại cô lo lắng cho cái sự “hỏng” ngoại hình của mình thì Thanh đã có “lập trường cứng”: “Bà cứ lo hão, thời bây giờ, hỏng là ra tiền ra của đấy bà ạ”. Với Thanh chỉ có tiền là cao nhất, ngay cả “cái ngàn vàng” được cha mẹ coi trọng Thanh chỉ phán một câu: “Con xin tiền mẹ nộp học, mẹ không cho, con bán rồi”. Mọi giá trị đều được quy đổi bằng tiền, kể cả trinh tiết: “Thôi, con sẽ trích một khoản đi tân trang lại. Vá là xong”. Mọi giá trị bị đảo lộn trong truyện ngắn “Tinh đất xóm Điều”, một sự thoái hóa có tiến trình của một gia đình, một bộ mặt làng quê trước làn sóng đầy uy lực của đồng tiền.

Không dừng lại ở những làng quê đồng bằng, đồng tiền và sự phá hoại đạo đức, lối sống của nó còn vươn vòi đến những miền non cao núi thẳm. Tác giả Cao Nguyệt Nguyên đã dựng nên một cuộc “thay da” như thế trong “Trên đỉnh Chumpua”. Ràng và Mái là một đôi trai gái H’mông yêu nhau và cũng là nạn nhân của đồng tiền khi phong trào du lịch nở rộ, vươn đến các bản của đôi uyên ương. Ràng rơi vào tình cảnh “...biết Jon say Mái lắm, chợ phiên nào cũng rình dưới chợ” và nổi cơn ghen “Thằng Jon trả bao nhiêu tiền để đưa Mái đi chơi, để tay Mái ôm vòng qua ngực thế?”. Bi kịch của Ràng từ đó, ê chề thất vọng vì một tình yêu “Đã hẹn nhau rồi sao cái bụng bạc thế, ngực đã kề ngực rồi sao lại đi với thằng Jon” chỉ vì một lí do: “Mái đi kiếm tiền”, “Mái muốn cưỡi xe máy lên đồi, ở nhà nghèo lắm”. Du lịch đã đem tiền về bản và Mái “múa xòe cho khách xem, được nhiều tiền lắm” đã trở thành cái nghề của không ít cô gái H’Mông. Mái bên người Tây nhiều đến nỗi, Ràng phải thốt lên: “Mái thành gái Tây rồi”. Đồng tiền nào cũng hai mặt: “Đi tua nhiều, người Mái rộc đi, mắt quầng thâm...” và khi mặt kia của đồng tiền lộ ra đúng hình hài của nó: “Mái vác bụng về, lùm lùm sau áo” đã nói lên tất cả. Vết sẹo ấy cứa vào Mái, vào tình yêu của Ràng, vào núi rừng hoang dã đang gồng mình chịu đựng trước thế lực đồng tiền.

“Trăng màu hổ phách” là truyện ngắn thành công nhất của Cao Nguyệt Nguyên về một bi kịch của số phận một gia đình 6 người có 5 hằng số và 1 ẩn số. Với lối dẫn chuyện đưa lý lịch nhân vật vào đầu, tác giả cho ra 5 hằng số nhân vật luôn có mặt trong truyện là Ông Dư (cha), Bà The (mẹ), Bành (con nhặt), Tuyến (con gái), Thừa (con trai). Mỗi người một số phận, một tính cách, một cách hành xử và “đụng nhau rầm rầm”. Nổi nhất là Bành “...được ông Dư nhặt về từ chợ huyện, băm hai tuổi, thất nghiệp, nghiện đánh phỏm, cằm lẹm, dáng cao, thích cởi trần”. Nhân vật này có cuộc sống trôi nổi, đức cách xấu khiến ông Dư phải rủa: “Uổng công ông nhặt mày. Đã thế tôi nguyền cho cái nhà này lộn giống”. Bành như “con sâu” làm rầu cuộc sống yên bình của gia đình, nhiều lần chọc ghẹo em gái là Tuyến với những màn quấy rối vô đạo đức. Trong khi đó Tuyến chân chất “còn gọi là Tuyến Xẩm, ế chồng, bị thọt chân, cười hở lợi, ở nhà trồng dâu nuôi tằm với mẹ”. Người con gái duy nhất ấy lại rơi vào cơn mê của riêng mình: “Trăng màu hổ phách làm mắt Tuyến hoa hoa, thấy người khó ở, rôm bò lồm ngồm sau lưng, đằng trước”, là chiếc nút để dẫn đến số phận bi thiết của cô. “Ẩn số” chú Dùy “tâm thần bỏ nhà đi từ năm 1979 đến nay chưa rõ tin tức” đã khiến người đọc tò mò theo dõi hành trạng của nhân vật này. Cao Nguyệt Nguyên khéo léo trong cách kể chuyện, biến “Trăng màu hổ phách” như một bài giao hưởng đầy thăng, gián và cuối cùng, những nốt trầm đã thống trị chua cay. Một nhân vật phụ khác xuất hiện trong vai người đi mua giống tằm với đặc điểm: “Dáng cao, có vết bớt hình hoa thị trên má, tóc rậm lù xù, đứng gần mùi chua lựng”. Duyên thay, cô gái lỡ thì Tuyến kết anh này với những đối thoại như thơ: “Màu hổ phách ở đâu? Đây này. Nước mắt Tuyến bật ra như chanh vắt”.  Cuối cùng, Tuyến chọn ra phương án của đời mình “Tuyến dạng chân giữa trời. Da thịt đàn ông hăng hăng như mùi cỏ ấu phủ trùm lên” để khởi đầu một bi kịch mới. Lật lại trang đầu, người đọc tìm thấy chi tiết của ẩn số chú Dùy “đặc điểm nhận dạng vết bớt đỏ bên má trái” và người mua giống tằm “có vết bớt hình hoa thị trên má”, vết bớt căn cước ấy cũng có mặt trong đêm định mệnh “Bông hoa thị màu đỏ hiện lên lờ mờ trên gò má”. Người đọc rơi vào một bi tình cốc, bàng hoàng cho một kết cục khi “Tuyến thấy trong người khó ở, da xanh, hay nôn khan” và “Tuyến đưa tay mân mê vòm bụng” chứng thực sự thể “nhà này lộn giống”  như lời người cha bất hạnh. Hiện thực chua xót kia qua cách kể của Cao Nguyệt Nguyên như một ngọn nến ảo mị trước cơn bão tố nhân sinh. Cái đau của “Trăng màu hổ phách” diễn tiến êm đềm như ánh trăng chiếu rọi lên giọt nước mắt phũ phàng, cay đắng. “Trăng màu hổ phách” là một thiên truyện ngắn hội tụ “điều kiện cần” và “đủ” của một truyện ngắn hay từ ý tưởng, nội dung đến cách dựng chuyện nghệ thuật và lối “tạo hình” nhân vật sinh động, cá tính. Cao Nguyệt Nguyên đã chạm tới ước vọng của người đọc bằng hấp lực của nghệ thuật, mà ở đó chúng ta thật sự sống trong một thế giới của những con chữ có tánh linh, đủ mạnh mẽ để lôi ta vào sự hư cấu đầy mê dụ.

Tác giả cũng thành công lớn với “Đảo mây và bồ câu xám”, hành trình mộng mơ của một bi kịch diễn tiến trong mây, trong sương, trong nguyên thủy nỗi đau. Hai chị em Dín, Súa - hai sản phẩm đầy lỗi của hóa công, chịu nhiều thiệt thòi từ sự di truyền của “chứng nhận nhiễm chất độc da cam” mà cha các cô không may nhiễm phải. Một Súa chưa biết làm mẹ là gì “Súa đẻ rồi, Súa sẩy, ba cái hình hài méo mó như nhau, kỳ dị như một lời nguyền rủa”. Thiên chức của một người phụ nữ bị dìm xuống bể sâu tuyệt vọng, Súa đau đớn thốt lên “Chôn xong rồi, ba đứa con của tôi. Chôn luôn cả đời tôi xuống đấy”. Còn Dín cũng chẳng hơn gì chị, ám ảnh của bi kịch thời hậu chiến khiến người phụ nữ giàu bản năng phải sống trong cảnh: “Mỗi lần nằm bên Tuấn, nâng niu nhau, mà đêm nào Dín cũng mơ, thấy những hình hài thiếu hụt, thấy những tiếng cười trong vắt đầy nước mắt”. “Ba cái hình hài méo mó” đã ra đời của Súa và “ những hình hài thiếu hụt” hãy còn ám ảnh của Dín đã thúc đẩy cho sự lựa chọn sống trên đảo mây, với hàng hoa biêng biêng trắng để quên đi cuộc người xuôi ngược dưới kia. Nhưng bản năng của dục tính đã kéo hai cô gần lại với con người thật “Buổi sáng thức dậy hương hoa dẫu nhạt nhiều nhưng cả Súa và Dín đều thấy âm ỉ trong lòng một nỗi buồn chìm đắm vô tận”. Đảo mây chất chứa một nỗi niềm khiến Dín, cô gái ít nghị lực và kinh nghiệm hơn lâm vào trạng huống “Cái đảo mây này quanh năm động dục, ướt át, mơ màng, chẳng nhẽ sống lâu với nó quá giờ đến lượt Dín cũng bị nhiễm”. Dín trở thành con người khao khát “Thỉnh thoảng có người dưới bản đi ngang qua, nghe thấy tiếng ríu rít gọi nhau, mắt Dín rực lên, môi mấp máy”. Dín bất chấp tất cả, cô muốn được làm người phụ nữ trọn vẹn, viên mãn như bao người khác, như ước mơ, như bản năng giống loài, cá tính phái. Cô được làm mẹ như ý nguyện nhưng lại đi vào vết xe đổ của chị để rồi phải quằn quại với 5 chữ mà không người mẹ mang nặng đẻ đau nào muốn: “Không phải con của tôi”. Tác giả đã gửi nỗi buồn vào mây, vào núi, vào tượng Đức Mẹ, vào cánh chim bồ câu réo gọi hòa bình giờ nức nở với kết cục của nước mắt thời hậu chiến. Chúng ta, những người đọc sẽ chìm vào nỗi buồn đông miên, da diết với hình ảnh: “Đàn bà ngồi với đàn bà giữa sương thì chỉ thấy nước mắt, mây với sương bồng bềnh đến thắt lưng người”.

Mảng chủ đề khác là tâm lí tình dục của những con người méo mó, đầy khao khát nhục cảm nhưng bị giam hãm trong chính ô ngăn cuộc đời chật hẹp, trói buộc.
Là Cốm với ám thị: “Chiếc quần lót màu hoa cà tím ngăn ngắt lơ thơ bay trong giấc mơ Kiên, màu đàn ông nhưng nhức” trong “San hô đỏ trên đá”. Lí do được giải thích là “Muốn làm người lớn thì làm sao. Là thấy trong mình không còn tưng tức...” như bản năng tồn tại của một con người nguyên thể. Cốm đắm đuối trong cơn mộng tình của mình: “Hồn ấy vất vưởng lang thang theo mình mấy năm nay... thân người ấy nhẹ quá, đêm nào cũng chạm vào mà mơ như ôm một đám mây màu trắng”, nhưng bất lực. Biểu tượng San hô đỏ trên đá là thứ của tưởng tượng, là quy kết của thứ dục tình không được đáp ứng.

Là Bống với cuộc sống quẩn quanh, bế tắc, có chồng như không: “Con chán chồng con lắm”, vì một lẽ “Thằng Chính thật thà. Vầng. Thật như đếm”. Bống muốn làm đàn bà, một đàn bà thật sự để rồi quẫy đạp trong ham muốn và đi đến lựa chọn: “Bống len lén nhìn bố khi ông thao thao kể chuyện dế, nói thật chán choét. Nhưng mà có cái gì đấy cứ là lạ toát ra làm cô bị hút sâu vào”. Bi kịch của thân phận bắt đầu từ đó, bố chồng - con dâu, mặc cảm tội lỗi lẫn khao khát mặn nồng. Cao Nguyệt Nguyên viết rất ảo qua những trích đoạn về bắt dế để tường thuật cuộc tình vụng trộm đầy xót xa của Bống, người đàn bà chán chồng.

Và một Khoa sinh ra trong một ngôi nhà “bị hư âm của mặt quỷ dính vào”, mà Khoa là minh chứng cho dòng máu của gia đình bất hạnh, để người đời gọi là “Khoa mặt quỷ” không may được sinh ra. Khoa sống thậm thụt với ước muốn tưởng như bất khả: “Làm sao mà khuôn mặt trở thành mặt người được?”. Hình hài méo mó của mình khiến Khoa mặt quỷ trở thành kẻ lạc lõng, người thừa giữa gia đình làng xóm. Khi đến tuổi lớn, Khoa ám ảnh ước muốn được bên các cô gái, được làm đàn ông. Tác giả đưa Khoa đến cuộc vụng dại với người con gái: “...có mùi thơm của hoa dẻ”, mùi thơm tưởng tượng, lầm lạc “mùi thơm kia là mùi của hoa hay là mùi của đứa con gái?” để bao ngày “Khoa mặt quỷ” đắm đuối bên bờ suối với người trong mộng, với nỗi trống vắng cần được lấp đầy.

Những số phận méo mó thay nhau xuất hiện trên từng trang viết của Cao Nguyệt Nguyên, càng đọc càng cay, càng đắng. Tác giả đi vào gan ruột của nhân vật để lôi lên biết bao chuyện đau lòng, bao ẩn ức giấu kín và bao oan khiên chờ ngày chiêu tuyết. Tính tự sự trong truyện ngắn Cao Nguyệt Nguyên rất lớn và đó là một hướng đi khả dĩ. Nhà phê bình Chris Weedon từng nhận định: “Bất cứ một tự sự nào cũng được kiến tạo dựa trên sự lựa chọn và sự loại trừ. Chẳng hạn, Gayatri Chakravorty Spivak lập luận rằng: “chúng ta không thể làm được gì ngoài việc kiến tạo nên các tự sự”, nhưng “khi một tự sự được tạo dựng, chắc chắn sẽ phải có một số thứ bị cố tình lãng quên hay xóa bỏ”. Cái bị loại trừ, xóa bỏ của Cao Nguyệt Nguyên trong sáng tạo của mình chính là nặn ra những con người có trái tim đá, tình yêu là xa xỉ và thay vào đó là sự thống trị của tâm thức bản năng của xác thịt. Điều này ít nhiều làm cho một số tác phẩm rơi vào “hố đen của hiện thực”, với một trưng dẫn của sự vô cảm của con người và cơn bỉ cực của nỗi đơn côi nghìn đời ai oán. Đọc Cao Nguyệt Nguyên để thấy rằng nhân sinh đầy biến động, méo mó, nứt vỡ đều có lí do tồn tại và rằng mỗi khoảnh khắc trôi qua của đời sống chỉ là nhịp cánh của loài chim cắt, thoắt đến thoắt đi, chỉ còn lại ngọn gió trong lành của lòng bác ái.

 

Theo Lê Vũ Trường Giang - Văn nghệ trẻ Online

Nhà văn trẻ Nguyễn Văn Học: "Tôi làm ra tác phẩm, còn bạn đọc sẽ cho nó số phận"

Nhà văn trẻ Nguyễn Văn Học:

Gia đình hiện đại, đời sống hiện đại đang nhan nhản nguy cơ đổ vỡ, nhan nhản những mâu thuẫn, nghịch lý, và cả phi lý. Đó là thực tiễn. Còn trên sách vở thì sao? Sách vở cũng đang nhan nhản đủ mọi loại sách dạy kỹ năng sống, kỹ năng hàn gắn hạnh phúc, những tâm sự, chia sẻ,... nhưng người ta cũng phát chán những công thức "dạy dỗ" giáo điều ấy. Vậy, chúng ta có thể làm gì để chia sẻ với nhau, chia sẻ với nhiều người? Câu trả lời, theo cách của nhà văn trẻ

Nguyễn Văn Học, đó là truyện ngắn, và hãy cứ viết bằng nhiệt tâm, không nhân danh cái gì để phán xét các nhân vật, đời sống tự nó sẽ biết điều chỉnh.

- PV: Cuộc sống có nhiều bất trắc, nhiều giá trị bị đảo lộn, như anh đã chia sẻ. Vậy đó có phải là một trong những động lực để anh có thêm nhiều sáng tác?


- Nguyễn Văn Học (NVH): Đúng là như vậy. Mỗi người cầm bút có một thế mạnh, và họ đều muốn qua tác phẩm văn học, phản ánh được phần nào và lý giải phần nào đời sống xã hội đương đại. Ngay trong các gia đình, dù là gia đình hạt nhân, gồm bố mẹ và các con, vì mưu sinh, áp lực và lo lắng khiến họ bị quá tải, chênh chao. Họ đôi khi không làm chủ được bản thân, đánh mất mình và đánh mất tổ ấm. Có thể nhiều người viết khác cũng như tôi, đang phản ánh sắc nét vấn đề gia đình thời hiện

- PV: Phải chăng vì lẽ đó, mà những truyện ngắn trong tập Bình minh lúc nửa đêm của anh do NXB Văn học ấn hành mới đây đã khéo léo ẩn đi cái tôi tác giả, tự nhân vật cùng các chi tiết tạo nên tình huống truyện và kéo câu chuyện trở nên sinh động?


- NVH: Như tôi đã nói, cuộc sống quá phức tạp. Liên quan đến gia đình thôi cũng quá nhiều vấn đề và chúng ta không bao giờ khai thác hết. Những năm qua, tôi đã chứng kiến từ thực tế có những chuyện chỉ cần người bình thường kể lại thôi đã gây xúc động, đã hay rồi. Và khi những chi tiết đời sống sinh động ấy được thể hiện bằng tình yêu, và khéo léo một chút là nó đã trở thành những cái truyện khá. Bây giờ thủ pháp truyện ngắn mà các bạn trẻ viết ra khá phong phú. Người viết để nhân vật tự lên tiếng, chứ không nhảy vào câu chuyện  làm thay nhân vật.

- PV:  Là một người đọc, tôi thấy đọc truyện của anh nhàn. Sự nhàn ấy đã tạo nên hấp dẫn. Bởi, tác giả đã đưa những ngổn ngang củđời sống, của số phận con người vào trang sách một cách rất tự nhiên. Đọc như sống giữa đời. Anh chia sẻ thêm gì với bạn đọc từ cách tiếp


- NVH: Có thể nói là, những câu chuyện như tôi thể hiện trong các truyện ngắn trong tập, được chưng cất từ thực tế, cộng với sự nhạy cảm của người làm nghề, tình yêu của tác giả với cuộc sống đã khiến các truyện ngắn gần gũi. Các bạn trẻ đọc sẽ thấy ở đó có chuyện của mình, của người thân, bè bạn, hoặc mình đã chứng kiến, đã sống trong đó hoặc ở đó mà đi ra…

- PV: Tôi có thể nói thế này được không: Đời sống con người muôn hình vạn trạng đủ hấp dẫn và thừa chi tiết hay. Nhà văn cứ thế mà viết còn chưa hết, không cần phải hư cấu?


- NVH: Tôi đồng ý với anh. Cuộc sống này vô cùng phong phú và đa dạng, song cũng thật khó hiểu. Vì thế, chúng ta cần chia sẻ tri thức cho nhau, không ai có thể làm được tất cả. Và, không có sự hư cấu nghệ thuật nào không bắt nguồn từ hiện thực. Ví dụ, anh có mô tả theo trí tưởng tượng về người ngoài hành tinh không có mắt, không có trái tim; như vậy là anh vẫn lấy mắt, trái tim con người hiện thực làm tiền đề cho tưởng tượng bay xa đó thôi.

- PV: Tôi nghĩ nhiều bạn đọc sẽ chia sẻ được với anh ở cách diễn đạt trong sáng, ngôn ngữ dung dị, đời sống. Phải chăng đó cũng là thủ pháp mà anh chủ định sử dụng trong tập Bình minh lúc nửa đêm?


- NVH: Mỗi người có một giai đoạn sáng tác. Người chịu làm mới mình là người đôi khi thay đổi phương thức sáng tác ở mỗi truyện ngắn. Tôi đã viết tập truyện Bình minh lúc nửa đêm bằng những chất liệu hiện thực nhất, chọn một lối viết ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn làm sao cho ngôn ngữ uyển chuyển, linh hoạt và có chất văn.

- PV:  Tập truyện ngắn mới lần này của anh có thể dành cho nhiều đối tượng bạn đọc khác nhau. Đó là sự lựa chọn ngẫu nhiên hay theo ý tưởng nào, của tác giả và nhà xuất bản?


- NVH: Như tôi đã chia sẻ, đề tài gia đình nó hợp với bất cứ đối tượng nào, trừ lứa tuổi thiếu nhi. Đó là đề tài mà nhiều người đọc, soi vào thấy mình trong đó. Họ cũng dễ thấy đồng cảm. Và phải khẳng định đây là ý tưởng của tôi, muốn đưa những chuyện chủ yếu liên quan đến vấn đề gia đình vào một tập. Đó cũng là cách để đánh dấu một giai đoạn sáng tác, cũng là cách đưa đến cho bạn đọc một món ăn, với các vấn đề gia đình được nhìn từ nhiều chiều.

- PV: Anh từng nói nếu chỉ trông chờ vào cảm xúc, bạn sẽ phải đối mặt với một thực tế là cạn cảm xúc. Anh có từng nghĩ, khi cảm xúc dạt dào, như khi anh từng viết không kịp với cảm xúc, thì truyện sẽ hay hơn không?


- NVH: Khi mới viết, quả là tôi đã từng viết rất nhanh khi cảm xúc đến. Tôi viết như điên, chỉ sợ viết không kịp những gì vừa hiện ra ở trong đầu. Nhưng điều ấy cũng có nghĩa là tôi sẽ không thể viết được chữ nào nếu không có cảm xúc. Như vậy, anh sẽ chỉ là người viết “tay chơi” mà thôi. Càng làm nghề lâu, tôi càng chiêm nghiệm sâu sắc một điều: viết khi cảm xúc đã được ghìm nén lại, nung nấu ở trong lòng, mới có thể mang đến cho bạn đọc những tác phẩm tốt.

- PV: Được biết, anh đã từng thành công và có tác phẩm bán khá chạy về vấn đề nhạy cảm của xã hội. Đó là một số truyện về đối tượng gái mại dâm. Tại sao anh không đi theo dòng tiểu thuyết ngôn tình hay đam mỹ? Biết đâu bán sẽ chạy?


- NVH: Tôi không phải nhằm câu khách. Ngay cả khi tôi viết tiểu thuyết Gái điếm hay những truyện ngắn khác về đề tài này, tôi không hề có ý định câu khách. Tôi viết về những gì tôi thấy và tôi cảm. Viết những cái đó, tôi như chắt cả máu trong cơ thể mình ra. Và khi nó đến tay bạn đọc, thì tôi hoàn toàn thở phào, và tự thấy mình đã chẳng đưa ra thị trường một tác phẩm nhạt nhẽo. Một điều nữa, tôi không viết được sách ngôn tình hay đam mỹ. Tôi sẽ vẫn viết ở mảng mà một số người nói đó là dòng văn học chính thống. Người ta bảo, dòng văn học ngôn tình hay đam mỹ là một thứ mốt. Nó có thể bị thay bất cứ lúc nào.

- PV: Như phần đầu tôi đề cập đến những loại sách tâm sự, chia sẻ kỹ năng sống nhưng lại được viết theo kiểu một chiều lý thuyết, thiếu hẳn sự sinh động của đời sống vì thế bạn đọc thấy chán. Với tư cách một tác giả truyện ngắn, anh có thể chia sẻ thêm về sức hấp dẫn của thể loại văn học này?


- NVH: Nói gì thì nói, truyện ngắn vẫn hấp dẫn bạn đọc, dù là thời buổi sống rất nhanh, rất gấp. Truyện ngắn có lợi thế về dung lượng ít, đọc nhanh, nhiều người viết có nghề, dẫn dắt câu chuyện khá hay. Còn như bạn nói, một số cây bút viết thiếu thực tế, thì sự bợt bạt trong tác phẩm là khó tránh khỏi. Đơn giản vì sự tưởng tượng đã không phong phú. Một người đã không giỏi tưởng tượng, lại viết chụp giật, ăn xổi thì làm sao giúp độc giả có được những tác phẩm chất lượng.

- PV: Để tạm dừng cuộc trò chuyện này, anh có thể chia sẻ thêm gì với bạn đọc của mình?


- NVH: Sách đã xuất bản, nó sẽ có đời sống riêng. Tôi không thể kiểm soát tác phẩm, bạn đọc sẽ làm việc đó.

- PV: Vâng, xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện thú vị này!

Theo Khúc Hồng Thiện

Fantasy không chỉ là giấc mơ kỳ ảo

Fantasy không chỉ là giấc mơ kỳ ảo

Fantasy được tạm hiểu là văn học kỳ ảo, giả tưởng. Những năm gần đây, số lượng các tác phẩm của dòng văn học mới mẻ này xuất hiện ngày càng nhiều trong làng văn Việt Nam. Song dường như, văn học fantasy nước ta vẫn bị ngầm mặc định là dòng văn học dành cho người trẻ, trẻ ở lực lượng cầm bút lẫn độc giả.

Sức hút của văn chương kỳ ảo

Định nghĩa về dòng văn học fantasy hiện nay còn mang tính tương đối. Theo nhà văn Phan Hồn Nhiên, một trong những đại diện tiêu biểu của dòng văn học này, thì fantasy phải có hai thế giới trở lên, yếu tố kỳ ảo, siêu nhiên là khúc xạ của thế giới thực. Câu chuyện diễn ra ở thế giới thực và ảo song song tồn tại, nhân vật di chuyển theo một lối thông nhau giữa hai thế giới.

Nhà văn, dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng cho rằng cần phân biệt giữa dòng tác phẩm fantasy thuần túy và tác phẩm có yếu tố fantasy. Fantasy thuần túy không có lời giải thích khoa học nào về sự tồn tại song song của thế giới thực, ảo. Riêng những tác phẩm có giải thích khoa học (dù thuyết phục hay còn mơ hồ, khoa học hiện tại chưa thể giải thích được, song hiện tượng đó có khả năng xảy ra) về sự tồn tại của thế giới ảo; tác phẩm thuộc chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thì cả hai đều được coi là tác phẩm có yếu tố fantasy chứ không phải fantasy thuần túy.


Tác giả Phạm Bá Diệp (ngoài cùng bên trái) và nhà văn Phan Hồn Nhiên trong một cuộc tọa đàm về văn học fantasy tại TP Hồ Chí Minh( ảnh)

Trên thế giới có nhiều tác phẩm fantasy trở thành kinh điển như "Chúa nhẫn" của J.R.R. Tolkien, "Alice ở xứ thần tiên" của Lewis Carroll, "Peter Pan" của J.M. Barrie, "Phù thủy xứ Oz" của L. Frank Baum, "Harry Potter" của J.K. Rowling, "Biên niên sử Narnia" của C.S Lewis... Dễ nhận thấy văn học fantasy trên thế giới thường gắn với tác phẩm điện ảnh "bom tấn" vì các yếu tố kỳ ảo càng trở nên thu hút khi dựng bằng kỹ xảo điện ảnh. Đình đám nhất phải kể đến phim "Harry Potter", "Chúa Nhẫn", "Alice ở xứ thần tiên" ... Theo nhà văn Phan Hồn Nhiên: "Trên thế giới, văn học fantasy tồn tại lâu đời và phát triển rất mạnh. Nó chia làm nhiều thể loại khác nhau và phân loại cho từng đối tượng như dành cho thiếu nhi, người trưởng thành, nam, nữ... Trong khi đó, văn học fantasy ở Việt Nam chỉ mới chập chững khoảng 10 năm trở lại đây".

Đếm các tác phẩm và tác giả viết fantasy ở Việt Nam chỉ được trên đầu ngón tay. Thành công nhất phải kể đến nhà văn Phan Hồn Nhiên với các tác phẩm mang tính phiêu lưu, ma mị như "Những đôi mắt lạnh", "Chuỗi hạt Azoth", "Xuyên thấm", "Máu hiếm"... Trong cuộc thi "Văn học tuổi 20" lần 5 - 2014, xuất hiện rất nhiều tác phẩm fantasy hoặc mang yếu tố fantasy như: "Urem - Người đang mơ" của Phạm Bá Diệp, "Hạt hòa bình" của Minh Moon, "Người ngủ thuê" của Nhật Phi... Nhiều tác phẩm fantasy gây được chú ý như "Kim cương" của Thùy Dương, "Thiên Mã" của Hà Thủy Nguyên, "Huyền thoại lục địa MU" của Tô Đức Quỳnh...

Fantasy Việt Nam vẫn chỉ là kiểu thể nghiệm bước đầu hoặc chủ yếu nặng tính giải trí để đáp ứng bạn đọc chứ chưa chú trọng chất văn chương, sự thần bí và tính tư tưởng. Các tác phẩm đỉnh cao gần như không có. Do đó, nếu ở phương Tây, dòng văn học này đã lên đến đỉnh cao và dành cho mọi đối tượng thì ở Việt Nam nó vẫn bị coi là dòng văn học của người trẻ - những người bị cho là thường mơ mộng hão huyền.

Giới trẻ dễ tiếp nhận thể nghiệm mới, luôn muốn tìm tòi, khám phá và thể hiện. Văn chương phản ánh hiện thực ít nhiều làm người trẻ cảm thấy cũ mòn hay quá mệt mỏi, không có hứng thú trong khi thế giới ảo luôn bay bổng cho trí tưởng tượng và mang lại nhiều bất ngờ khó đoán. Cũng có ý kiến cho rằng, mê đắm với fantasy chứng tỏ người trẻ đang tìm cách trốn chạy, "cứu rỗi" mình trước thực tại tha hóa, đầy rẫy cạm bẫy. Fantasy khiến cho người đọc cảm thấy thế giới trở nên tốt đẹp hơn, họ nhìn cuộc sống đầy mơ mộng, yêu đời. Thậm chí nó có thể giúp tác giả tạm giả thuyết về những hiện tượng kỳ lạ mà khoa học vẫn chưa giải thích được.

Phạm Bá Diệp cho rằng thế hệ trẻ như mình đều sống trong thế giới fantasy từ game, các loại phim khoa học viễn tưởng, mang yếu tố kỳ ảo. Say mê các tác phẩm điện ảnh kỳ ảo nổi tiếng của thế giới cũng chủ yếu là họ. Vậy nên, tác giả fantasy đa số là người trẻ. Họ thuộc thế hệ 8x, 9x và hứa hẹn các tác phẩm của lứa 10x.

Viết fantasy, người trẻ cần gì?

"Nhiều bạn trẻ cho rằng đây là dòng văn học dễ viết, chỉ cần tưởng tượng phong phú thì dễ dàng làm nên một tác phẩm. Thực ra, fantasy cực kỳ khó viết dù nó không bó buộc như các thể loại khác. Trí tưởng tượng chỉ là cánh cửa để bạn bước vào mê cung fantasy. Nếu không có kiến thức và nền văn hóa vững để tạo lập đường dây câu chuyện và hệ thống những gì mình viết thì chắc chắn bạn sẽ lạc vào mê cung đó. Rất nhiều thứ bị nhồi nhét vào tác phẩm khiến cho nó lủng củng, rối rắm. Phải làm sao khi xây dựng thế giới ảo dù phi lý nhưng được người đọc chấp nhận và diễn tiến, hành động của nhân vật trong thế giới đó được sắp xếp logic, hấp dẫn theo một cách vận hành nhất định" - nhà văn Phan Hồn Nhiên phân tích.

Chị cho hay, chính bản thân chị khi bắt đầu viết fantasy cũng đã có thời gian dài viết các thể loại khác. Đó là cách để rèn tay nghề từ từ, vì fantasy là sự pha trộn của hiện thực lẫn tưởng tượng nên người viết phải bắt đầu tập viết truyện lấy chất liệu từ hiện thực rồi mới đến truyện pha yếu tố kỳ ảo và truyện fantasy thuần túy. Mỗi tác phẩm là một cách nhà văn Phan Hồn Nhiên tự nâng mình.



Một số tác phẩm văn học fantasy Việt Nam(ảnh)

Với "Những đôi mắt lạnh" chị chỉ dừng lại ở việc xây dựng hai thế giới thực và ảo. Đến "Chuỗi hạt Azoth", chị học cách cài cắm các yếu tố huyền thoại, hệ thống biểu tượng để câu chuyện thu hút, hấp dẫn. Cuối cùng, với "Xuyên thấm", Phan Hồn Nhiên bắt đầu phân tích nội tâm, đi sâu vào tâm lý nhân vật. Chị thú nhận: "Mỗi cuốn fantasy mới phải là một nấc thang mới, hay hơn cuốn cũ. Do đó, lâu lâu tôi mới ra cuốn mới vì phải luôn tự nâng cấp mình".

Phạm Bá Diệp nói vui: "Nếu không viết fantasy thì tôi không biết viết cái gì". Nhưng bắt tay viết "Urem - Người đang mơ", Diệp mới "toát mồ hôi". Mất một năm chuẩn bị và một năm viết. Khi cuốn sách ra mắt và đoạt giải khuyến khích của cuộc thi Văn học tuổi 20 lần 5, anh nhận được rất nhiều luồng ý kiến khen chê. "Cuốn sách kể về ngày thế giới sắp tận thế với sự hoành hành của căn bệnh Urem. Ai bị nhiễm bệnh đều rơi vào giấc ngủ sâu và không thể tỉnh dậy.

Kiên - nhân vật chính, người duy nhất tỉnh dậy sau giấc mơ dài năm năm, với những năng lực tỉnh thức đặc biệt đã được chọn mang trọng trách tìm lối thoát cho căn bệnh này. Chọn giấc mơ là cách dễ nhất để xây dựng thế giới kỳ ảo. Chính tôi cũng nhận thấy tác phẩm của mình còn đụng đâu viết đó, nhồi nhét rất nhiều thứ thập cẩm nhiễu loạn để tạo nên yếu tố kỳ ảo trong truyện như game, "Tam quốc chí"... Thành ra khi một nhà báo hỏi tôi lấy nền văn hóa hoặc cảm hứng nào để xây dựng thế giới ảo trong cuốn sách này thì tôi lúng túng" - Diệp nói.

Nếu đọc qua các tác phẩm văn học fantasy ở Việt Nam sẽ dễ dàng nhận thấy nó mang đậm nền tảng văn hóa, kho tàng văn học châu Âu. Nhiều cây bút trẻ đưa những yếu tố này vào như cách học làm sang. Bản sắc dân tộc trong fantasy Việt gần như là con số 0 trong khi nền văn hóa, kho tàng văn học dân gian của ta đa đạng và hấp dẫn không thua kém. Nếu phương Tây có nàng Lọ Lem, người lùn, tiên, các vị thần... thì chúng ta có nàng Tấm, Sọ Dừa, ông Bụt, các vị thần như Sơn Tinh, Thủy Tinh...  Nhưng rất tiếc những câu chuyện huyền thoại của cha ông lại không khiến nhiều cây bút trẻ mặn mà.

Một nhà văn cho rằng, thời đại của sự giao thoa văn hóa thì nếu chỉ chăm chăm vào văn hóa Việt sẽ không tạo được những tác phẩm mang đặc trưng của sự giao thoa đó. Hơn nữa việc vận dụng kho tàng thuần Việt để tạo thế giới ảo cho tác phẩm fantasy rất khó vì nhiều người không muốn truyện cổ tích, truyền thuyết quen thuộc bị thêm thắt, sáng tạo. Nhưng không thể vin lý do đó để lạm dụng vay mượn văn hóa ngoại lai (mà chính tác giả chưa chắc đã am hiểu) và thoái thác tác phẩm fantasy mang hồn cốt Việt. Phạm Bá Diệp cho biết anh đang liều lĩnh thử sức với một tác phẩm fantasy lấy Đạo Mẫu - một tín ngưỡng dân gian lâu đời của dân tộc -  làm nguyên liệu xây dựng thế giới ảo. Đây là một thức thách khó khăn song có thể coi đó như tín hiệu đầy hứa hẹn cho fantasy đậm bản sắc Việt.
Theo Mai Quỳnh Nga - Văn nghệ công an

Đội ngũ lý luận phê bình trẻ: Thiếu và yếu

Đội ngũ lý luận phê bình trẻ: Thiếu và yếu

Người viết trẻ được coi là tương lai của nền văn học Việt Nam, lý luận phê bình là một trong những công cụ nền tảng hỗ trợ sáng tác. Nhưng thực tế, hai lực lượng này đang ngày càng xa nhau, "sợ hãi", né tránh nhau.

Phê bình tránh người trẻ

TS Trần Lê Hoa Tranh, hiện là giảng viên Trường ĐH KHXH - NV TPHCM kể lại câu chuyện khi cô bắt tay nghiên cứu các hiện tượng văn học như ngôn tình hay các nhà văn trẻ Việt Nam mới như Hamlet Trương, Anh Khang… đã bị một số người phê phán là “giết gà dùng dao mổ trâu” với hàm nghĩa cho rằng lý luận phê bình (LLPB) nên làm cái cao siêu hơn là những cái “tầm thường” đó. Đây không phải là trường hợp duy nhất, ngay tại tọa đàm về sách, một nhà LLPB tên tuổi khi được hỏi có nhận xét gì về những cây bút trẻ hiện nay đã hùng hồn đáp lại: “Không đọc vì không đáng để quan tâm”.

 

Nhà văn trẻ Tiểu Quyên (hàng đứng, đầu tiên bên phải) giới thiệu sách mới với độc giả

Sự xa lánh của một bộ phận giới phê bình chính vì thế đã tạo nên một khoảng trống của nền văn học. Giữa lúc nhiều nhà thơ than rằng thơ bị rẻ rúng thì một nhà thơ trẻ như Phong Việt cứ mỗi tập thơ bán hàng chục ngàn bản. Khi nhiều cây bút lão làng chật vật với tác phẩm chỉ 2.000 - 5.000 bản thì có những Anh Khang, Iris Cao, Hamlet Trương… tác phẩm nào ra mắt cũng đạt 5 con số bản bán được.

Dù nhìn dưới góc độ nào, các cây bút trẻ trên đều là những hiện tượng văn học đáng để nghiên cứu. Thế nhưng, cho đến nay không có bất cứ một nhà phê bình nào đánh giá về giá trị nghệ thuật, văn chương của những tác giả ăn khách này để từ đó lý giải sự thành công, nhu cầu của bạn đọc. Chỉ có những phân tích của báo chí về vấn đề quảng bá, làm truyền thông sách của những tác phẩm ăn khách trên. Nhà thơ, nhà LLPB Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng LLPB VHNT Trung ương đã nhận xét việc thiếu hụt này làm nảy sinh nghi ngờ rằng LLPB ít nhất ở mảng sáng tác trẻ đang có sự xa rời hiện thực sáng tác.

Vì sao các nhà LLPB né tránh văn học trẻ, nhiều lý giải được nêu ra nhưng như tiết lộ của một nhà phê bình tại một hội nghị về LLPB vừa diễn ra thì vấn đề thực ra rất đơn giản: Bởi vì họ không đọc! Không đọc không phải vì xem thường hay không thích mà chỉ thuần túy là sự khác biệt quá lớn về thế hệ. Đa số tác phẩm gây xôn xao vừa qua của người trẻ đều viết cho bạn đọc trẻ. Ở đó có những từ ngữ của riêng họ, có những vấn đề của riêng người trẻ hôm nay, có cả những quan điểm, suy nghĩ mà chỉ có người trẻ biết và cảm nhận. Trong khi đó, đa số những nhà phê bình tên tuổi hiện nay đều đã ở lứa tuổi tương đối lớn, với sự khác biệt về thế hệ nên khi đọc các tác phẩm này có cái không hiểu, có cái không biết, thậm chí có cái buồn cười về sự ấu trĩ, ngớ ngẩn, thơ ngây của người viết trẻ. Trong trường hợp đó, các nhà phê bình cao niên lựa chọn cách im lặng.

Người trẻ sợ phê bình

Vậy ai có thể phê bình tốt nhất với các tác phẩm của người viết trẻ? Dĩ nhiên chính là các nhà phê bình trẻ. Thế nhưng, đội ngũ này lại đang lâm vào một khủng hoảng mà như Hội đồng LLPB VHNT Trung ương nhận xét ngắn gọn là: thiếu và yếu.

TS Trần Lê Hoa Tranh đưa một ví dụ trực quan là ngay cả ở Khoa Văn học và Ngôn ngữ của Trường ĐH KHXH-NV TPHCM, một nơi được xem là đào tạo cơ bản về văn cũng rất ít bạn trẻ nào chọn LLPB. Tốt nghiệp Khoa Văn học và Ngôn ngữ chỉ mới biết đại khái về LLPB, lên cao học mới chính thức học LLPB nhưng rất ít bạn trẻ đăng ký học. TS Phan Tuấn Anh, ĐH Huế cho biết để trở thành một nhà LLPB, sinh viên phải học khoảng 70 môn nhưng chỉ có 10 môn là liên quan trực tiếp. Đó là chưa kể đến việc các giáo trình LLPB đa phần được soạn từ cách nay 30 - 40 năm, thậm chí có một số giáo trình phê bình ngày trước do vấn đề dịch thuật nên hiện không thể đọc được chứ chưa nói đến việc hiểu để giảng dạy, tiếp thu.

Đó mới chỉ là việc học, người trẻ bước vào LLPB còn vấp phải vô vàn trở ngại. Nhà báo Phan Tùng Sơn của Báo Quân đội Nhân dân nhận xét là hiện có hàng ngàn ấn phẩm báo chí nhưng không đâu có chuyên trang cho LLPB. Nhà phê bình Cẩm Lệ hiện đang công tác tại Sở VH-TT TPHCM cho biết thêm, với người được đào tạo LLPB lại không được dạy để viết phê bình trên báo thường ngày. Chính vì vậy, dù có viết cũng rất khó để được sử dụng trên các tờ báo thông thường.

Tuy nhiên, tất cả những nhà phê bình đều cho rằng những trở ngại trên chỉ là phụ, trở ngại chính, lớn nhất chính là việc sợ đụng chạm. Nhà báo Phạm Đức Hải, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TPHCM, nguyên Tổng Biên tập Báo Tuổi trẻ nhận xét, người viết trẻ ngày nay sợ đụng chạm, chỉ thích viết những gì có sẵn. Trong khi đó, đã viết phê bình thì chắc chắn là đụng chạm, không thể tránh khỏi những mâu thuẫn, tức giận. Chính vì thế, người viết phê bình ngoài các yêu cầu của một người viết còn cần thêm chữ “dũng”, không ngại va chạm.

Tuy nhiên, điều này không đơn giản vì sự đả kích, phê phán không chỉ từ phía sáng tác mà thậm chí ngay từ trong giới phê bình. Một thực tế là các nhà phê bình trẻ vừa phải chật vật kiếm sống, bổ sung kiến thức, tìm nơi để đăng sáng tác của mình nhưng đến khi có tác phẩm thì lại bị các bậc đàn anh trong nghề xem là “trẻ ranh”, “trứng khôn hơn vịt”… dù rằng như nhà phê bình Hồng Vinh nhận xét là nếu không có trứng hôm nay thì làm sao có vịt ngày mai!

Hệ quả của những gian nan vất vả, chướng ngại kể trên là đội ngũ LLPB trẻ ngày càng vắng vẻ, thế nhưng nhu cầu phê bình các sáng tác mới vẫn đang tồn tại. Kết quả là xuất hiện một kiểu “phê bình” phổ biến hiện nay là phê bình tay ngang, tán dương thái quá hoặc xúc phạm người bị phê bình.

Lối ra cho người trẻ viết lý luận phê bình

Vừa qua, tại TP Vũng Tàu đã diễn ra Hội nghị những người trẻ viết lý luận phê bình VHNT khu vực phía Nam do Hội đồng lý luận phê bình VHNT Trung ương tổ chức. Một trong những trọng tâm chính là việc tìm ra giải pháp để phát triển đội ngũ người trẻ viết LLPB vốn đang khủng hoảng thiếu hiện nay.

Nhà báo Phạm Đức Hải nêu ra một thực tế là các cơ quan báo chí thực ra rất mong muốn có các bài viết phê bình, trong trường hợp Báo Tuổi trẻ là các bài phê bình trẻ thì mức trả nhuận bút đều rất cao, nhất là các bài nhận được đánh giá hay, phản hồi bạn đọc tốt. Ở các báo khác, tùy vào nhu cầu có các đòi hỏi khác nhau nhưng đều có sự ưu ái với phê bình. Tuy nhiên, điều quan trọng là các bài viết ngoài kiến thức, trình độ còn đòi hỏi sự phù hợp với báo chí hiện đại.

Nhà phê bình Hồng Vinh thì đề cập đến vai trò của các tổ chức phê bình, hội nghề nghiệp trong việc bảo vệ các cây bút phê bình, nhất là những cây bút trẻ trước các áp lực của xã hội. Đây là một vấn đề được đề cập đến nhiều lần vì thực tế đã có không ít trường hợp người sáng tác, viết LLPB hứng chịu đủ mọi đã kích trong khi các tổ chức hội nghề nghiệp lại không phản ứng gây nản lòng cho các tác giả, đặc biệt là các tác giả trẻ.

Và cuối cùng là vấn đề là người viết LLPB trẻ hầu như bị đứng ngoài trong các giải thưởng văn học từ địa phương đến trung ương. Nhiều nơi không có giải cho tác phẩm LLPB hoặc nếu có thì đánh đồng chung một giải khiến các tác giả trẻ hầu như không có cơ hội. Một giải thưởng LLPB dành riêng cho người trẻ được xem là một sự khích lệ quan trọng với những người trẻ dấn thân vào lĩnh vực LLPB hiện nay.
Theo Tường Vy - Sài Gòn giải phóng

'Lối đi' nào cho những người viết văn trẻ?

'Lối đi' nào cho những người viết văn trẻ?

TP.HCM hiện là nơi có nhiều người viết văn nhất cả nước, tuy nhiên việc tập hợp, gắn kết các bạn trẻ lại không hề đơn giản. Mỗi người mỗi công việc hoặc do trở ngại một số thủ tục hành chính, họ phải tự tìm 'lối đi' cho riêng mình để thỏa niềm đam mê văn chương nặng nợ...

Tự thân vận động
Mặc dù đang sinh sống và công tác đã lâu ở TP.HCM nhưng nhà thơ trẻ Lê Hòa (thành viên Câu lạc bộ Lục bát Sài Gòn) lại phải về tận Đà Lạt nơi anh là hội viên Hội Văn hóa nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng để ra mắt tập thơ Hát ru bầu trời do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Lê Hòa cũng từng đến xin hồ sơ để làm thủ tục gia nhập Hội Nhà văn TP.HCM nhưng do chưa có KT3 và hộ khẩu nên đành… thua. Mặc dù nhiều bạn văn của anh ở TP.HCM đã nhiệt tình ký xác nhận và ủng hộ nhưng thủ tục vẫn còn nhiều vướng mắc.

Nhà thơ trẻ Lê Hòa có nhiều tác phẩm đang được độc giả yêu thích

Nhà thơ Lê Hòa tâm sự: "Cơm áo không đùa với khách thơ, quả nhiên đến bây giờ câu nói ấy vẫn đang vận vào những người chỉ đơn thuần muốn sống bằng văn chương. Với trở lực "áo cơm ghì sát đất", người viết trẻ buộc phải tìm đủ mọi cách để mưu sinh hòng tiếp tục nuôi dưỡng lửa đam mê. Nhà thơ ở nước ta thường… nghèo và chưa đủ tầm chuyên nghiệp để nuôi sống gia đình, còn muốn phát hành sách cũng không có nơi nào dám đứng ra "cưu mang" khiến dễ nản lòng. Còn người viết trẻ như chúng tôi chân ướt chân ráo vào làng văn mà phải bỏ ra vài chục triệu tự in sách, tự phát hành và cầm chắc việc ế ẩm, lỗ vốn và không được ai quan tâm. Chỉ một vài trường hợp may mắn bán được sách có thể dư giả chút ít thì so với mặt bằng chung cũng chưa thấm vào đâu. Tuy nhiên đã mang lấy nghiệp vào thân thì đành chịu”.
Cũng như Lê Hòa, nhà thơ Nguyễn Đăng Khoa là một hiện tượng lạ hiện nay trên văn đàn. Đam mê làm thơ từ nhỏ nhưng phải đến khi ra trường về làm ở một… ngân hàng lớn, anh mới có điều kiện ổn định để an tâm sống chết với thơ. Tự in thơ và phát hành nhưng tập Con đường tự trôi của anh đã được công chúng đón nhận. Nguyễn Đăng Khoa kể: “Khi chở tập thơ về chất từng chồng cao trong phòng, tôi không biết khi nào mới tiêu thụ hết. Vậy mà bạn bè thương, người này giới thiệu người kia, tôi rao bán trên mạng xã hội và tự chạy xe máy đi giao. Tôi đang chuẩn bị "hậu kỳ" cho tập thơ thứ hai, cũng bằng hình thức tự phát hành...”.

Tác giả Con đường tự trôi Nguyễn Đăng Khoa

Cách đây một năm, nhà văn trẻ Anh Khang từng gây xôn xao dư luận với tác phẩm Buồn làm sao buông (chạm mốc phát hành 40.000 cuốn, xếp thứ 3) và cuốn Ngày trôi về phía cũ (xếp thứ 10) trong thể loại sách văn học được bán chạy nhất ở Hội sách TP.HCM năm 2014. Anh ghi tên mình vào kỷ lục “Nhà văn trẻ có số lượng bản in nhiều nhất”. Khi ra mắt cuốn sách tứ 4 Đi đâu cũng nhớ Sài Gòn… và em, Anh Khang còn tổ chức giao lưu cùng các ca sĩ khách mời: Jun Phạm (nhóm 365), Quốc Thiên, Hamlet Trương, Iris Cao… thu hút hàng trăm người tham dự.
Vì khó có thu nhập cao mà các cây viết trẻ: Phùng Hiệu, Trần Hoàng Nhân, Trần Lê Sơn Ý, Lê Thiếu Nhơn, Ngô Liêm Khoan, Nguyễn Phong Việt, Tiểu Quyên, Hòa Bình, Phạm Phương Lan… phải chọn nhiều nghề tay trái để kiếm sống nuôi mộng văn chương.

Nhà thơ Anh Khang có sách bán chạy nhất năm 2014 trong vòng vây độc giả

Đừng để những cây viết trẻ "chết yểu"
Ngày 27.8 vừa qua Ban Nhà văn trẻ (Hội Nhà văn TP.HCM) đã được thành lập, đề ra nhiều nội dung nóng nhằm tập hợp các cây bút trẻ. Tuy nhiên, theo chủ nhiệm Trần Nhã Thụy: “Các sân chơi chính thống dành cho sáng tác trẻ hiện nay vẫn còn quá ít để họ có dịp thể hiện. Nhiều chương trình muốn tổ chức đang cần có kinh phí mà bây giờ vận động rất khó. Chúng tôi vẫn đang cố gắng mời gọi các bạn viết văn trẻ đến sinh hoạt nhưng định kiến giữa người viết là hội viên Hội Nhà văn và không hội viên vẫn còn nặng nề. Đó là những lực cản sắp tới cần phải tháo bỏ…”.
Còn theo nhà thơ Trương Nam Hương: “Tiếp xúc với các bạn viết văn trẻ bây giờ tôi thấy rất thích. Họ luôn năng động, nhiệt huyết và có tấm lòng. Vì vậy, tổ chức Hội Nhà văn cần nâng rộng vòng tay nâng đỡ cho những đứa con tinh thần để họ chỉ vô tư sáng tác và cống hiến”.

Nhờ kết hợp nhiều chương trình văn nghệ đặc sắc nên những buổi giới thiệu tác

phẩm mới của cây bút trẻ An Khang luôn thu hút rất đông độc giả đến ủng hộ

Tuy nhiên, nhà thơ Lê Hòa băn khoăn: “Hiện tại vẫn còn nhiều người viết có "hồn vía" văn chương, chỉ có điều họ chưa dám sống trọn vẹn một đam mê với nghề. Ban Nhà văn trẻ phải khơi bùng ngọn lửa đam mê đó. Nhất là khi chúng ta đang sống dưới muôn vàn áp lực và biến động không ngừng của cuộc sống. Hơn bao giờ hết người viết trẻ cần ở ban, hội một điểm tựa để lấy lại thăng bằng và viết. Thăng bằng ở đây có nghĩa là một định hướng đúng đắn về thẩm mỹ văn học một cách chuyên nghiệp, đừng để những cây viết trẻ… chết yểu".
“Mong mỏi lớn nhất của tôi là Hội Nhà văn nên đẩy mạnh hơn nữa những công tác truyền thông và ủy lạo sáng tác trẻ, thêm nhiều sự kiện hơn nữa và những cuộc thi tạo đầu ra cho sản phẩm văn chương và dùng uy tín của Hội Nhà văn để tiếp thị sản phẩm văn chương đến với người đọc. Bởi lẽ, văn chương sẽ cô đơn lắm nếu thiếu người chia sẻ”,  cây bút trẻ Nguyễn Đăng Khoa trăn trở.

Theo Lê Công Sơn - Thanh niên online

Di Li: 'Mỗi dịp Halloween sẽ ra một cuốn trinh thám kinh dị'

Di Li: 'Mỗi dịp Halloween sẽ ra một cuốn trinh thám kinh dị'

Nữ nhà văn ra mắt tập truyện ngắn trinh thám kinh dị “Khách lạ và người lái taxi” trong một buổi gặp gỡ của câu lạc bộ những người thích truyện trinh thám, nhân sắp đến một ngày lễ mà cô yêu thích, Halloween.

Buổi ra mắt diễn ra tại Booksquare, Hà Nội hôm 25/10. Khách lạ và người lái taxi (NXB Dân trí và Bách Việt) là tập hợp những truyện ngắn Di Li viết rải rác trong hơn 10 năm nay nhưng chưa in thành sách.

Nhà văn Di Li (áo đỏ) cùng độc giả trong buổi ra mắt sách

Đây không phải là những sáng tác mới của nữ nhà văn. Theo chị, truyện ngắn cũng không còn là thể loại thịnh hành trong văn chương hiện nay. Quan sát thị trường sách trong  và ngoài nước, Di Li nhận thấy thể loại chủ đạo vẫn là tiểu thuyết.

“Người ta thích đọc tiểu thuyết trinh thám hơn là truyện ngắn trinh thám, thích đọc tiểu thuyết lãng mạn hơn là truyện ngắn lãng mạn, thích đọc tiểu thuyết lịch sử hơn là truyện ngắn lịch sử” – Di Li nói với Thể thao & Văn hóa.

“Vì vậy, sau cuốn Khách lạ và người lái taxi, tôi sẽ không viết truyện ngắn nữa. Thay vào đó, mỗi năm vào dịp Halloween, tôi sẽ cố gắng ra được một cuốn tiểu thuyết trinh thám kinh dị”.

Bìa cuốn "Khách lạ và người lái taxi"

Quan điểm của Di Li luôn là nhà văn phải biết chiều độc giả. “Chiều độc giả chẳng có gì xấu nếu tác phẩm của mình vẫn đạt chất lượng” – chị nói – “Hơn nữa, nếu độc giả thích đọc tiểu thuyết hơn truyện ngắn thì đó là điều tốt và cần khích lệ”.

Khách lạ và người lái taxi tập hợp những câu chuyện nhuốm màu sắc liêu trai, kỳ dị, được kể bằng giọng văn nhuần nhuyễn. Dù viết rất nhiều dòng sách (trinh thám, du ký, kỹ năng, truyền thông...) nhưng Di Li vẫn nổi tiếng là một tác giả trinh thám kinh dị ăn khách với các tiểu thuyết Trại hoa đỏCâu lạc bộ số 7.

Theo Nha Đam - Thể thao & Văn hóa

Văn nghệ sĩ trẻ góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng

Văn nghệ sĩ trẻ góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng

Luật văn học chưa có dẫn đến tình trạng bản quyền tác phẩm bị xâm phạm, giải pháp nào để giữ gìn và phát huy những bộ môn nghệ thuật truyền thống trong đó có ca trù, hoa hậu hoạt động nghệ thuật không chuyên nhưng lại luôn được công chúng quan tâm hơn những nghệ sĩ chuyên nghiệp khác là những vấn đề nổi cộm trong hội nghị văn nghệ sĩ trẻ góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng.

Còn quá nhiều vấn đề cần giải quyết

Sáng 14/10/2015, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phối hợp với Báo Tiền Phong tổ chức Hội nghị Văn nghệ sĩ trẻ góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng.

Tại hội nghị, nhiều ý kiến về thực trạng văn học, nghệ thuật, hội họa đã được các nghệ sĩ trẻ chia sẻ một cách thẳng thắn. Họ cũng bày tỏ những tâm tư nguyện vọng của mình trước lĩnh vực nghề nghiệp đang tham gia.

Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Phó ban Nhà văn trẻ Hội nhà văn Việt Nam đã đề cập đến vấn đề luật bản quyền văn học. Chính vì luật nhà văn, luật văn học chưa có nên bản quyền ở Việt Nam mấy chục năm nay vẫn là một câu chuyện đáng buồn.

Nhà văn Xuân Thủy phát biểu tại hội nghị

Đề cập đến vấn đề thị trường và chính thống, nhà văn Nguyễn Xuân Thủy cho rằng cả cá nhân nghệ sĩ và các cơ quan chức năng đều phải có những điều chỉnh để giải quyết. Anh viện dẫn câu chuyện của ca sĩ Trọng Tấn rời bỏ vị trí giảng viên ở Học viện âm nhạc quốc gia sau những lùm xùm không được giải quyết vì dám tự ý bỏ về  trong chuyến công tác tại Lào. Nhà văn Nguyễn Xuân Thủy cho rằng, khó có thể nói rằng Trọng Tấn đã thanh thản rời bỏ vị trí đáng mơ ước ấy. “Dĩ nhiên anh đã có nhiều suy nghĩ đắn đo mới đi đến quyết định. Dù rằng đó là sự lựa chọn cá nhân nhưng  thử hỏi tận trong sâu thẳm Trọng Tấn có ra đi thanh thản hay không, hay anh vẫn mong muốn được làm công việc của một giảng viên trên ghế nhà trường mà vẫn tỏa sáng trên sân khấu? Theo tôi, cả bản thân Trọng Tấn và cơ quan chức năng có liên quan đều nên có sự điều chỉnh để tránh xảy ra những thiệt thòi trong việc sử dụng nhân tài”, nhà văn Xuân Thủy khẳng định.

Ở phương diện quản lý văn hóa, nhà văn Xuân Thủy nêu lên một vấn đề gây bức xúc: “Hiện nay đơn vị quản lý hàng nghìn nhà văn, nhà thơ nhà hoạt động nghệ thuật ở Việt Nam là Phòng văn học của Cục Nghệ thuật biểu diễn. Theo nhà văn Xuân Thủy, nhà văn, nhà thơ là những người ghi lại ký ức, lịch sử của dân tộc. “Vậy tại sao quản lý họ lại chỉ là một đơn vị cấp phòng? Trong khi điện ảnh có Cục điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn có Cục Nghệ thuật Biểu diễn, … thì văn học cũng nên có một đơn vị chức năng tương tự để quản lý. Hội nghị nhà văn trẻ cũng chưa được chú tâm, thậm chí mười mấy năm mới được tổ chức một lần. Mới khóa trước mình vẫn còn là nhà văn trẻ thì khóa sau đã thành ông, thành bà hết”.

Nhà thơ Quang Hưng

Ở lĩnh vực hội họa, mỹ thuật, họa sĩ Trần Hoàng Sơn, phó chủ nhiệm Khoa Hội họa, trường ĐH Mỹ Thuật Hà Nội cho rằng, tranh sơn mài đang bị mai một có nguy cơ biến mất nếu chúng ta không xây dựng một cơ chế bảo tồn và phát triển. “Hiện nay, chất liệu tranh sơn mài trên thị trường quá khan hiếm, do không có người làm ra. Chất liệu khó tìm, chi phí sản xuất đắt đỏ là những lý do khiến các nghệ nhân dân gian “bỏ” sơn mài để tìm đến với những chất liệu sơn hiện đại có giá rẻ và tiện lợi hơn nhưng lại có độ bền không bằng. Nếu cứ kéo dài tình trạng này, chắc chắn tranh sơn mài sẽ đối diện với nguy cơ “tuyệt chủng”. Điều này rất nguy hiểm vì đây được xem là thế mạnh của tranh Viêt Nam, là thương hiệu mà thế giới biết đến và yêu thích. Nếu để mất tranh sơn mài, hội họa nghệ thuật Việt Nam sẽ mất đi bản sắc  quý nhất.

Họa  sĩ  Đỗ Hiệp, chủ  nhiệm  CLB Họa sĩ trẻ, Hội Mỹ thuật Việt Nam bày tỏ quan điểm: “Việt Nam chưa có thị trường nghệ thuật nên nghệ sĩ đa số là mạnh ai người ấy sống. Điều này càng được thể hiện rõ trong lĩnh vực hội họa”. Anh lấy ví dụ về việc một nhóm họa sĩ VN mới đây đã tự tổ chức một cuộc triển lãm hội họa đương đại ở trung tâm chợ hàng Da, thu hút sự chú ý của nhiều du khách nước nhà. Đây là điều mà đến cả cơ quan nhà nước cũng chưa làm được. Nhưng những cuộc triển lãm như thế chỉ mang yếu tố tự phát, không bền được. Về lâu dài vẫn phải nhờ đến các cơ quan chức năng của nhà nước đứng ra hỗ trợ và phát triển”.

Nghệ sĩ không sống dược bằng nghề

Tại hội nghị, ca nương Phạm Thị Huệ nêu lên một thực trạng đau lòng, đó là việc nhiều nghệ sĩ không sống được bằng nghề.

Ca nương Phạm Thị Huệ nêu lên một thực trạng đau lòng, đó là việc nhiều nghệ sĩ không sống được bằng nghề. Họ phải làm thêm một nghề tay trái nào đó để có thêm thu nhập, và để có tiền nuôi niềm đam mê nghệ thuật đã trot “vận vào thân”. Chị cũng cho rằng,  muốn bảo tồn được ca trù là phải thành lập được các tổ chức do nhà nước bảo trợ 100% phí đầu tư, có những chính sách hỗ trợ cho các nghệ nhân, ca nương. “Các tổ chức này phải tạo ra được những sân chơi hay sân diễn, nhà hát cho họ hoạt động và biểu diễn nghệ thuật. Về vấn đề đào tạo, các đơn vị truyền nghề phải mở được các lớp dạy nghề. Bên cạnh đó cũng phải đưa ca trù vào các hệ thống trường nhạc để đảm bảo tính chuyên nghiệp, đưa vào hệ thống các trường phổ thông, để các em ngay từ khi còn nhỏ đã được làm quen và biết trân trọng ca trù nói riêng và các bộ môn nghệ thuật truyền thống nói chung. Cũng như từ đó các em sẽ biết hơn về giá trị nghệ thuật của các tác phẩm xưa do cha ông sáng tạo nên”.

Điều mà ca nương Phạm Thị Huệ đau đáu và mong muốn nhất đó là các ca nương sống được bằng nghề. Hiện nay, do các ca nưỡng phải sống bằng nghề tay trái. Những buổi biểu diễn nghệ thuật của họ phần nhiều chỉ là để thỏa mãn niềm đam mê. Họ không thể dành hết thời gian, công sức để tập luyện. Vì thế chất lượng buổi biểu diễn sẽ không cao.

Phạm Thị Huệ hiện là giảng viên bộ môn đàn tì bà của Học viện âm nhạc quốc gia, một công việc ổn định đủ để có thể nuôi sống niềm đam mê ca trù. Nhưng theo chia sẻ của chị, không nhiều ca nương có được may mắn như thế. Ngoài ra chị còn phải dạy thêm, diễn thêm. Thậm chí chị còn phải chạy show đám cưới, tiệc vui và hát ca trù giữa những ồn ào, ăn uống, pha tạp. “Chạy những show như thế chỉ là giải pháp mưu sinh. Ca trù chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được vang lên trong một không gian tĩnh lặng, cổ kính và có người muốn thưởng thức thực sự. Nhưng với tình trạng bị thả nổi như hiện nay thì chẳng biết ca trù sẽ không đi đâu về đâu. Sau khi được Unessco công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, những họa động nói chung có chút thay đổi nhưng đó chỉ là dạng bề nổi của truyền thông. Còn sự quan tâm thực sự thì chưa có”, ca nương Phạm Thị Huệ chia sẻ.

Hoa hậu Ngọc Hân cũng là gương mặt trẻ rất được chú ý tại Hội nghị này

Có mặt tại hội nghị với tư cách là một thành viên, hoa hậu Ngọc Hân nêu lên thực trạng đáng buồn và có phần thiệt thòi cho những người làm nghệ thuật chuyên nghiệp. Cô chia sẻ chân thành: “Bản thân tôi là một người hoạt động nghệ thuật nghiệp dư nhưng lại được công chúng quan tâm, đón nhận hơn rất nhiều những nghệ sĩ chuyên nghiệp chỉ bởi vì tôi có danh hiệu hoa hậu”.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh bày tỏ sự quan tâm và mong muốn đời sống nghệ sĩ được đảm bảo để họ có thể chuyên tâm làm nghệ thuật. Đó cũng là nỗi niềm chung của hàng nghìn nhà văn, nhà thơ, ca nương, nghệ sĩ, họa sĩ, … những con người nắm giữ phần tinh túy nhất, đẹp đẽ nhất, cao quý nhất của dân tộc. Lấy ý kiến từ hội nghị văn nghệ sĩ trẻ, đại diện lãnh đạo Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho rằng, họ mong muốn được lắng nghe, tiếp thu tâm tư, tình cảm của nghệ sĩ để từ đó làm căn cứ góp ý dự thảo văn kiện Đại hội XII của Đảng.

Theo Đào Bích - Dân trí

Cuốn sách “John đi tìm Hùng” ra mắt ấn bản mới

Cuốn sách “John đi tìm Hùng” ra mắt ấn bản mới

Cuốn sách “John đi tìm Hùng” - Việt Nam trong con mắt chàng Việt kiều tuổi hai mươi đi bộ 80 ngày dọc dải đất hình chữ S với chiếc ví rỗng là kết quả của chuyến đi bộ xuyên Việt kéo dài 80 ngày không mang theo tiền của chàng trai người Mỹ gốc Việt Trần Hùng John.

Cuốn sách ra mắt lần đầu năm 2013 và cùng năm đó, một phát biểu của Trần Hùng John được Bộ Giáo dục và Đào tạo trích dẫn đưa vào đề thi Đại học khối D trong bài nghị luận.

Cuốn sách thu hút sự quan tâm không chỉ từ các bạn trẻ mà còn cả những người lớn tuổi bởi những trải nghiệm chân thực và những suy nghĩ liên tưởng sâu sắc về cuộc sống, về sự khác nhau trong lối ứng xử và văn hóa Đông – Tây. Con mắt khách quan của một chàng trai người Mỹ đã nhìn thấy những mặt trái trong lối suy nghĩ, hành xử - những điều kìm hãm sự phát triển của người Việt. Trong cuốn sách “John đi tìm Hùng”, độc giả cũng cảm nhận rõ hình ảnh về một nước Việt Nam xinh đẹp, yên bình và thân thiện – như một lời mời gọi những người Việt xa xứ mấy chục năm qua như bà và mẹ của Hùng trở về Việt Nam.

Ngày 1.10.2015, cuốn sách sẽ ra mắt ấn bản mới với minh họa mới, bổ sung thêm phần Vĩ thanh - chia sẻ của Hùng John những đổi thay trong công việc, cuộc sống và đặc biệt, sự thay đổi trong cách suy nghĩ, cách ứng xử để phù hợp với cuộc sống, lối sống ở Việt Nam.

Ấn bản mới của cuốn sách John đi tìm Hùng.

Cho tới nay, cuốn sách đã được tái bản tới lần thứ 5. Trong lần tái bản này, cuốn sách được họa sĩ Đỗ Giáp Nhất vẽ bìa và minh họa theo phong cách trẻ trung, hiện đại hơn, bổ sung thêm phần Vĩ thanh. Trong phần này, Trần Hùng John chia sẻ những đổi thay trong công việc, cuộc sống và đặc biệt, sự thay đổi trong cách suy nghĩ, cách ứng xử để phù hợp với cuộc sống, lối sống ở Việt Nam.

Trần Hùng John chia sẻ:“Tôi đã học được cách để thích nghi. Tôi buộc phải thích nghi. Tôi đã thay đổi rất nhiều kể từ khi mới đến Việt Nam và khi bắt đầu hành trình xuyên Việt. Không còn là một anh chàng khù khờ, cả tin, ngây thơ. Việt Nam, hay nói đúng hơn là Hà Nội, đã tôi luyện tôi.”

Dù trải qua nhiều khó khăn, nhiều lần vấp ngã, nhưng Hùng vẫn giữ được cái nhìn tích cực và đầy lạc quan: “…ẩn sâu trong mỗi chúng ta, luôn luôn có một “hero” - một anh hùng có thể làm được nhiều điều hơn chúng ta tưởng. Thế nên hãy dũng cảm lên, hãy bước chân ra ngoài kia để sống, vấp ngã, yêu thương, trải nghiệm, thất bại, và rồi bạn sẽ tìm được “anh hùng” ở trong chính bạn.”

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng từng chia sẻ: “Chúng ta có dư điều kiện thuận lợi hơn Hùng nhưng quả tình chúng ta ít ai làm được một hành trình như Hùng. Có đi như vậy mới hiểu được đúng về xã hội, về con người ở những môi trường rất khác nhau và từ đó giúp chúng ta điều chỉnh lại mục đích cuộc sống của chính mình.”

Theo nhà báo Việt Quỳnh “Đây là một cuốn kí rất đáng giở từng trang để xem kĩ. Đó là những dòng chữ được chắt chiu từ kí ức đau buồn của một chàng trai trẻ mới ngoài hai mươi tuổi. Anh không có ý định làm văn chương, chỉ muốn chia sẻ trải nghiệm một quãng đời son trẻ, với tình cảm thiết tha với cuội nguồn. Và cuốn kí hành trình này đầy ắp chất thơ, chất tình, ngôn ngữ lưu hoạt, lay động sự cảm thông từ trái tim người đọc”.

Nhà báo Trương Hoàng cho rằng, “John đi tìm Hùng” không hoàn toàn là một cuốn phiêu lưu kí. Nó là cuộc tìm kiếm của John về những giá trị thật sự của anh chàng Hùng, trong cùng một con người. Để rồi cuối cùng, chàng John cũng như bạn đọc ngộ ra rằng phải sống sâu sắc hơn và trân trọng hơn cuộc sống giản dị, bình yên mà mình đang có.”

Tác giả Trần Hùng John.

Ấn bản mới John đi tìm Hùng sẽ ra mắt độc giả cả nước ngày 1/10/2015. Nhân dịp này, Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức chương trình giao lưu với tác giả Trần Hùng John vào hồi 17:00, thứ Năm, ngày 1.10.2015 tại Vườn sách Kim Đồng trong khuôn khổ Hội sách Hà Nội tại Hoàng thành Thăng Long.

Chương trình là dịp để các bạn trẻ có dịp gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ những trải nghiệm, suy nghĩ về đất nước con người Việt Nam của chàng trai người Mỹ gốc Việt Trần Hùng John sau quá trình đi bộ xuyên Việt và quãng thời gian sinh sống, làm việc tại Việt Nam.

Những chia sẻ của Hùng sẽ giúp chúng ta soi chiếu vào chính bản thân mình, để thấy rằng, mình đã thực sự hiểu hết về đất nước Việt Nam, về nơi mình đã từng sinh ra và lớn lên, với cách suy nghĩ và hành động như bao lâu nay mình vẫn thế?!

Theo Thời nay online

Trang 8 trong tổng số 58 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay811
mod_vvisit_counterHôm qua4263
mod_vvisit_counterTất cả4532317

20 161
,
Hôm nay:29 - 3 - 2017
Hiện có 339 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: