Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> Tác giả trẻ

Tác giả trẻ

Gặp Thiên Sơn - Người trẻ nhất đoạt giải Tiểu thuyết

Gặp Thiên Sơn - Người trẻ nhất đoạt giải Tiểu thuyết

Thiên Sơn sinh năm 1972, tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội (Đại học KHXH&NV), hiện là biên tập viên tạp chí Điện ảnh Việt Nam. Anh viết nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết... Trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 của Hội Nhà văn Việt Nam (2006 - 2010), anh là tác giả trẻ nhất được trao giải chính thức (giải C) với tác phẩm "Dòng sông chết" (NXB Công an Nhân dân 2009). Anh cũng là tác giả duy nhất thắng giải mà chưa phải là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Nhân dịp này, TT&VH có cuộc trò chuyện với anh.

Nguyễn Đình Tú hé lộ chuyện KÍN

Nguyễn Đình Tú hé lộ chuyện KÍN

Kín” – cuốn tiểu thuyết thứ 5 của nhà văn Nguyễn Đình Tú đã ra đời, gây ấn tượng mạnh ngay từ bìa 1 màu đỏ chót, đặc tả hình đôi mắt sắc sảo, phía dưới là cánh bướm xòe rộng. Bìa 4 là lời bình của nhà thơ Nguyễn Bình Phương.  Lên kế hoạch từ khi đang hoàn tất những dòng cuối cùng của cuốn thứ tư, “Kín” được viết với thời gian kỷ lục: 2 tháng cho hơn 500 trang. Nhân dịp ra sách, nhà văn hé lộ những điều ít người biết về chuyện Kín của mình…

Uông Triều với "Những pho tượng đá ở Yên Tử"

Uông Triều với

Sau tập truyện ngắn đầu tay "Đôi mắt Đông Hoàng", Uông Triều tiếp tục ra mắt độc giả tập tiểu luận - khảo cứu mang tên "Những pho tượng đá ở Yên Tử". Đây là tập sách viết về con người, phong tục tập quán, lễ hội, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử... của tỉnh Quảng Ninh. Tập sách là tập hợp các bài viết chọn lọc của anh đã đăng trên mục Đất Quảng Ninh, người Quảng Ninh của báo Quảng Ninh trong nhiều năm. Đây có thể xem là cuốn cẩm nang cho những ai muốn khám phá nét độc đáo, vẻ đẹp trầm tích văn hóa của vùng đất địa đầu Tổ quốc. Tuy mới chỉ dừng lại ở những bài viết mang tính giới thiệu khái quát cùng cảm nhận riêng tư dựa trên tư liệu lịch sử, văn hóa và điền dã nhưng đây là nỗ lực đáng ghi nhận của một người viết trẻ.

Có lần, Uông Triều đã bộc bạch: Quảng Ninh là vùng đất địa đầu của Tổ quốc, là quê hương của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, nơi có vịnh Hạ Long là kì quan thiên nhiên thế giới, có sông Bạch Đằng vĩ đại, ba lần ca khúc khải hoàn trong lịch sử đấu tranh dân tộc. Vùng đất Đông Bắc có núi non, biển đảo, đồng bằng với một không gian văn hóa đa dạng, phong phú "là hình ảnh của nước Việt Nam thu nhỏ" (Phạm Văn Đồng) đã tạo cảm hứng "khảo cổ" cho anh. Cuốn sách có những bài viết đáng chú ý như: Tượng phật chùa Quỳnh Lâm - đệ nhất An Nam tứ đại khí, Thành nhà Nguyễn, Bích Động thi xã, Đệ nhị tổ Trúc Lâm Pháp Loa, Tín ngưỡng thành hoàng ở Quảng Ninh… Đó là "những lát cắt để tìm hiểu cội nguồn văn hóa truyền thống vùng Đông Bắc". Anh cũng hy vọng "cuốn sách sẽ là một nguồn tư liệu tham khảo về vùng đất địa đầu Tổ quốc dành cho bạn bè xa gần yêu mến vùng đất Quảng Ninh thân yêu".

Điểm hấp dẫn của tập sách là hơi hướng tự sự đan xen cảm xúc riêng tư lồng vào khung cảnh người xưa, việc cũ. Như đoạn trong bài Phố xưa Quảng Yên: "Tôi cứ lang thang dọc theo những con phố xưa, lòng tự hỏi không biết nơi đâu nữ sĩ Xuân Hương và Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển đã từng sinh sống. Ít những biết rằng nữ sĩ tài ba họ Hồ đã từng có những năm tháng sống ở Quảng Yên khi lấy chồng là tham hiệp trấn Yên Quảng. Trần Phúc Hiển làm Tham hiệp trấn Yên quảng từ năm 1813 đến năm 1818, trong thời gian này Xuân Hương đã đến Quảng Yên, giúp chồng công việc hành chính ở công đường. Không biết nữ sĩ có vào chợ Rừng để ngắm cảnh buôn bán nhộn nhịp hay ra Bến Ngự mà hóng gió mịt và đã từng thưởng thức món nem chua nổi tiếng hay chưa?" Điều đó chứng tỏ Uông Triều đã "phục cổ" đâu chỉ bằng lí trí?

Sau tập tiểu luận - khảo cứu này, Uông Triều sẽ ra mắt tiểu thuyết đầu tay.

Sách do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin và Công ty Truyền thông Hà Thế liên kết xuất bản, 2011.

 

 

Cú đúp giải thưởng có trở thành một hiện tượng thơ trẻ?

Cú đúp giải thưởng có trở thành một hiện tượng thơ trẻ?

Năm 2010, một cái tên còn khá mới lạ xuất hiện trên văn đàn - Nguyễn Phan Quế Mai giành một lúc hai giải thưởng thơ: Giải năm 2010 của Hội Nhà văn Hà Nội và cuộc thi Thơ về Hà Nội (do báo Văn nghệ và Đài PTTH Hà Nội tổ chức). Vậy liệu cái tên Nguyễn Phan Quế Mai có được dư luận chú ý và ghi nhận như một hiện tượng thơ trẻ?


Nguyễn Phan Quế Mai trong đêm trao giải cuộc thi Thơ về Hà Nội (15/10/2010) (Ảnh: Khánh Vân)


Vài năm gần đây các giải thưởng thơ được dư luận chú ý, trong đó có các giải thưởng thường niên của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội thường bị rơi vào tình trạng bỏ trống ngôi vị cao nhất. Đã có nhiều cuộc tranh luận thẳng thắn và không kém phần gay gắt giữa quan điểm “Thơ mất mùa” và “Mỗi mùa có gì thì gặt lấy”, không nên đưa ra so sánh chất lượng giữa năm này với năm khác để trao giải thường niên…

Năm 2010, một cái tên xuất hiện trên văn đàn: Nguyễn Phan Quế Mai, giành một lúc hai giải thưởng thơ: Giải của Hội Nhà văn Hà Nội và Giải nhất cuộc thi Thơ về Hà Nội (do báo Văn nghệ và Đài PTTH Hà Nội tổ chức). Câu hỏi đặt ra là, liệu cái tên Nguyễn Phan Quế Mai có được dư luận chú ý và ghi nhận như một hiện tượng thơ trẻ không?

Tập thơ Cởi gió của Nguyễn Phan Quế Mai được hội đồng chung khảo của Hội Nhà văn Hà Nội nhận xét: “Được chú ý giữa những giọng thơ trẻ. Một giọng thơ biết tiết chế để khi chạm đến cái riêng tư vẫn không sa vào bé nhỏ, vụn vặt. Tình cảm với đất nước quê hương của người xa xứ, hoặc đang sống ngay giữa lòng đất nước, thật tha thiết mà không lạm dụng cảm xúc. Tác giả cũng chứng tỏ một bản lĩnh thơ trẻ, không chấp nhận cách cấu tứ quen tay, không sa vào ngôn từ dễ dãi, cũng không gây choáng bằng hình thức cầu kỳ, phù phiếm”. Còn Nhà thơ Vũ Quần Phương, phát biểu trong buổi trao giải cuộc thi Thơ về Hà Nội đánh giá thơ của Nguyễn Phan Quế Mai là có tìm tòi về thể hiện, tạo được một giọng điệu riêng, lạ, nhưng dễ hiểu và dễ được chấp nhận.

Trong khi thơ trẻ đã và đang rơi vào sự cầu kỳ khó hiểu, thơ với cách viết cũ thì không còn là lựa chọn của số đông những người cầm bút trẻ thì Nguyễn Phan Quế Mai là người biết dung hoà giữa cái cũ và cái mới của thơ một cách nhuần nhị. Tuy nhiên, dù dung hoà trong xu thế thơ trẻ và thơ với cách viết cũ thì Nguyễn Phan Quế Mai vẫn thiên nhiều về hướng “cũ” hơn. Trong các bài thơ của chị, dường như mọi sự “bùng nổ” và làm chìa khoá cảm thụ khách quan đều nằm ở phần kết - gói trong 1,2 câu hoặc một khổ ngắn cuối bài, ví dụ như trong bài Cởi gió là: Một ngày gió nâng tôi lên cao/ Gió trao tôi đôi cánh/ Và bảo tôi hãy cởi gió ra và bay lên trên ý nghĩ" , trong bài Hà Nội: “Tôi không được sinh ra và lớn lên trong Hà Nội/ Hà Nội tự sinh và tự lớn trong tôi”.

Còn lại là những dẫn dắt, những suy tư mang hơi hướng của kể, tả. Hơi hướng của hoài niệm, cảm xúc, suy tư nhiều hơn sự chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, day dứt. Câu chữ không lên gân, trúc trắc, không bị “già” trước tuổi - như nhiều cây bút trẻ. Thơ Nguyễn Phan Quế Mai đi vào lòng độc giả bằng con đường “trực diện”. Những gì muốn diễn đạt, những gì muốn truyền tải đều hiển hiện ở ngay con chữ, vì thế thơ chị dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ nhận được sự đồng cảm: “Mình gọi tên nhau năm tháng dài thêm/ ngày rớt nắng mùa lên hương/ có cớ vui buồn và sóng lên từ âm thanh giản dị/ đan vào nhau sóng sánh nhau dan díu nhau/ quyện vào nhau những thương buồn trìu mến” hay “ Chạm môi vào tháng Tư/ giật mình nghe môi tháng Tư là nụ hoa gạo đỏ”… “Tháng Tư nở hoa/ bằng những đôi-môi-hoa-gạo-đỏ” và “Những ngôi sao của tôi/ Gánh trên vai mình hẩm hiu số phận/ Vô danh giữa đời thường/ Dẫu đôi lúc đặt vào mắt tôi bao tia nhìn mang hình dấu hỏi”.…Đó có thể được coi là ưu thế của thơ Nguyễn Phan Quế Mai. Tuy nhiên, với tâm thế của độc giả khó tính, biết đâu đó lại là rào cản cho cảm thụ nội dung cũng như nghệ thuật ở khía cạnh đa tầng và có chiều sâu.

Thực ra “tạng” thơ kiểu Nguyễn Phan Quế Mai không mới, và không khó tìm trên báo, trên các tạp chí văn học. Thậm chí đó từng là “bước đệm”, là ranh giới cho sự chuyển tiếp từ cái cũ sang cái mới. Có người chưa thể bước qua ranh giới ấy, hoặc thử bước qua mà không hợp nên vẫn giữ cho mình một khoảng cách “an toàn” bằng nền móng của thơ truyền thống. Hay như nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét chung thì các bài thơ tham gia cuộc thi thơ về Hà Nội lần này không có bài nào vượt qua được các áng thơ văn viết về Hà Nội của các nhà thơ trước đó.

Từ giải thưởng này, suy nghĩ về sự chuyển động của thơ trẻ hôm nay thấy rằng, dường như những nỗ lực của thơ trẻ mấy năm qua chỉ mang đến đời sống văn học một làn gió lạ. Bất chợt thổi đến và gây lên những xôn xao, chứ chưa được ghi nhận trên phương diện nghệ thuật. Có thể đây là điều mà các cây bút trẻ trên con đường sáng tạo của mình cần phải dừng lại, quan sát và lắng nghe. Bởi lâu nay, trước những đổi mới có phần táo bạo và mạnh mẽ của thơ ca thì hình như “gu” thẩm mỹ thơ của công chúng và của giới chuyên môn vẫn chưa thay đổi nhiều. Thơ dễ hiểu, biết tiết chế… vẫn được đón nhận và đánh giá cao.

Đã có những người cầm bút vừa xuất hiện đã tạo được sự chú ý của dư luận bao gồm cả tính hai mặt - hoặc là được trông chờ, hoặc là khó tiếp nhận. Phải có một quá trình và thời gian thì câu trả lời mới được giải đáp họ có trở thành “hiện tượng” tạo nên trào lưu, phong cách, thể thức, dòng văn học mới hay không. Nhưng điều kiện ít nhất, gần như tiên quyết cần phải có để tạo sự chú ý là cái “mới”, cái “khác lạ”, cái “không giống ai” có ý nghĩa và giá trị nghệ thuật xuất hiện. Không thể phủ nhận bằng cách nói: Công chúng không quan tâm người cầm bút viết theo thể thức nào, cũ hay mới, miễn là hay. Tuy nhiên cách thức thể hiện nghệ thuật mới hay cũ, mới đến đâu, cũ ở mức độ nào nó thể hiện lịch sử, thời đại, và cấp độ nhận thức chính người cầm bút và môi trường, xã hội người cầm bút đang tồn tại.

Quay trở lại trường hợp thơ Nguyễn Phan Quế Mai với hai giải thưởng khá danh giá gần đây, có thể làm “hài lòng” số đông những người đã quen thích nghi với thơ cũ, nhưng khó có thể trở thành một hiện tượng thơ trẻ được chú ý, ít nhất trong thời điểm này. Vì thế, giải thưởng khép lại phần nào tạo ra độ “hẫng” với những cây bút trẻ. Ngay cả với ban chung khảo giải thưởng 2010 của Hội Nhà văn Hà Nội (dù đã quyết định trao giải thưởng cho Cởi gió) sau khi dành những lời khen ngợi cũng thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Trao giải cho tập thơ của Nguyễn Phan Quế Mai, Hội Nhà văn Hà Nội khẳng định sự thành công bước đầu của một giọng thơ trẻ, đồng thời cũng mong chờ sự bứt phá của tác giả trong thời gian tới, trên cơ sở gia tăng độ mỹ cảm cho ngôn ngữ, nghiêm khắc hơn trong kỹ thuật và nghệ thuật thơ”.

Theo Toquoc

 

Phan Hồn Nhiên tâm đắc hai nhân vật nữ của "Công ty"

Phan Hồn Nhiên tâm đắc hai nhân vật nữ của

Với Phan Hồn Nhiên, tuổi trẻ đồng nghĩa với sẵn sàng đón nhận thay đổi. Các nhân vật của chị trong "Công ty", "Mắt bão" là những người trẻ không ngừng chuyển động. Ngay chính tác giả cũng không giấu dự định làm mới phong cách của mình.

Tối 18/9, cây bút quen thuộc với tuổi trẻ và tuổi mới lớn tham dự buổi giao lưu giữa các tác giả của NXB Kim Đồng và bạn đọc tại Hội chợ sách quốc tế Việt Nam lần thứ 3, bên cạnh nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhà văn Dương Thụy. "Tên là Hồn Nhiên mà sao khuôn mặt đầy trầm tư", nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét về chị.

"Tên là Hồn Nhiên mà sao khuôn mặt đầy trầm tư".


- Tại sao chị chọn viết cho hai đối tượng người trẻ và cho tuổi mới lớn?

- Để có những trang viết khiến độc giả chấp nhận, hẳn người viết nên viết về đối tượng mà mình hiểu rõ nhất. Có lẽ vì vậy mà tôi chọn viết về hai đối tượng trên. Mặt khác, thế giới xung quanh và bên trong người trẻ có quá nhiều đề tài để khai thác. Chẳng hạn một khả năng chỉ giới trẻ có là không ngừng hy vọng, sẵn sàng thử sức và can đảm thay đổi - thay đổi theo chiều hướng tích cực và cả… tiêu cực! Giới trẻ có khả năng sống hết mình trong từng khoảnh khắc, có thể chấp nhận thất bại và đứng lên từ thất bại. Đặc điểm này của giới trẻ vừa hấp dẫn, vừa thử thách khả năng nắm bắt của người sáng tác. Mặt khác, là người viết, có điều kiện đi cùng cùng người trẻ, suy nghĩ và phân tích thế giới bên trong của họ cũng là cách để chính tôi dày dặn hơn về nhận thức.

- Sự khác nhau giữa người trẻ ở các thế hệ 7x (thế hệ của Phan Hồn Nhiên) và 8x, 9x?

- Sự phân chia các thế hệ theo cách trên có lẽ chỉ bao hàm ý nghĩa bối cảnh xã hội vào thời điểm người trẻ lớn lên hơn là thế giới bên trong của họ. Dù ở thế hệ nào, tôi luôn tin rằng người trẻ cũng đầy khát khao học hỏi, vượt lên không phải so với cộng đồng mà quan trọng là vượt lên so với chính mình của ngày hôm qua. Tất nhiên, càng về sau này, điều kiện xã hội càng cởi mở hơn, chất lượng sống của các bạn - nhất là ở các đô thị lớn - càng cao hơn, cơ hội học hỏi rộng rãi và dễ dàng hơn. Chính vì vậy, các bạn thay đổi nhanh, trưởng thành và chững chạc sớm hơn.

Thế hệ 7x chúng tôi thời sinh viên cũng có rất nhiều khát khao, nhất là khát khao học tập. Tuy vậy, những gì chúng tôi đạt được cũng chỉ dừng ở một mức độ nhất định, không thể thuận lợi như bây giờ. Nhưng chính vì khó khăn, các nỗ lực của ngày ấy thật đáng giá và đáng nhớ.

Phan Hồn Nhiên luôn sẵn sàng đón nhận thay đổi giống như các nhân vật trong sách của chị.


Khi viết về giới trẻ trong thế hệ mình, tôi lấy cảm hứng từ người bạn thân Dương Thụy rất nhiều. Tôi gặp Dương Thụy vào năm 1997, lúc đó cô ấy đang là sinh viên ngoại ngữ của Đại học Tổng hợp. Chúng tôi in quyển sách đầu tiên cùng nhau, ở NXB Kim Đồng. Thời sinh viên, Dương Thụy rất đặc biệt. Không giống những người bạn khác là mong học xong có việc làm ở công ty nước ngoài, lương cao, tìm kiếm một đời sống yên ổn, Dương Thụy muốn sau khi ra trường phải học cao hơn, không chỉ học ở Việt Nam mà còn ở nước ngoài, có cơ hội thử sức ở những môi trường xa lạ và khó khăn. Thế hệ chúng tôi lúc ấy có Hoàng Dạ Thi, Châu Giang thường tò mò kinh ngạc và tự hỏi liệu Dương Thụy có thực hiện được mơ ước xa vời và mệt nhọc đó hay không. Thế nhưng cô ấy đã làm được. Và con đường Dương Thụy đi sau này rất nhiều bạn trẻ đi theo, thật tự nhiên. Có lẽ đó chính là lý do sâu xa khiến những trang viết của một nhà văn như Dương Thụy được thế hệ độc giả 8x, 9x yêu mến đến thế.

- Cuộc sống thường ngày của Phan Hồn Nhiên ra sao?

- Công việc hiện tại chính của tôi là tổ chức bài vở và biên tập phần nội dung cho tờ Sinh Viên Việt Nam. Bận rộn nhưng công việc thực sự hứng thú vì hàng ngày tôi được làm việc với các bạn phóng viên và cộng tác viên là những người trẻ năng động, sắc bén và thông minh, đặc biệt là những bạn sinh viên có nhiều ý tưởng mới lạ. Cũng nhờ làm báo, tôi có điều kiện gắn bó với đời sống giới trẻ, quan sát và nắm bắt những xu hướng mới, luôn phải tìm câu trả lời cho những thay đổi mỗi ngày ấy.

- Chị sắp xếp công việc viết như thế nào?


- 8 giờ công sở tôi tập trung hoàn toàn cho bài vở và công tác biên tập. Tôi chỉ có thời gian viết vào buổi tối cùng các ngày nghỉ. Tôi hiểu mình khao khát trở thành người viết như thế nào nên tập thói quen viết thường xuyên, đều đặn. Dù không phải tất cả những gì viết ra đều xuất bản, tôi vẫn xem việc viết mỗi ngày như một khâu không thể thiếu và tôi kiểm soát chặt chẽ quá trình rèn luyện này.

Phan Hồn Nhiên trong một chuyến đi Đà Lạt.


- Tác phẩm tâm đắc của chị?

- Với đối tượng thứ nhất, những người trẻ đô thị trưởng thành, tôi chọn tập truyện ngắn "Cánh trái". Với đối tượng thứ hai - tuổi mới lớn, tôi chọn tập "Người mưa".

- Chị tâm đắc nhân vật trẻ tuổi nào trong tác phẩm của chị?

- Nhân vật tôi hài lòng nhất cho đến thời điểm này có lẽ là Huy trong The Joker - một người trẻ với những giấc mơ tan vỡ, cô độc nhưng không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp.

Tuy nhiên, để có thể mỉm cười khi nhớ lại, thì tôi lại thích hai nhân vật Lim và Hoàng Anh trong truyện dài "Công ty". Hai cô gái này tiêu biểu cho hai hình ảnh có vẻ đối lập của người trẻ. Như Hoàng Anh chẳng hạn, cô ta không phải người xấu, chỉ là một người muốn đi nhanh. Để đạt được điều đó, cô tự nguyện đánh đổi. Cô ấy luôn tin rằng mình là kẻ chủ động trong cuộc đi săn, mà không thể ngờ mình lại là con mồi của chính tham vọng tăm tối. Còn nhân vật Lim thì trong sáng và vô tư lự. Nhưng rõ ràng, sự trong sáng không thể nào tồn tại được mãi trong cuộc sống phức tạp này. Thế nên Lim cũng phải thay đổi, tự khám phá để nhận biết bản chất thật của cuộc sống. Tuy nhiên, điểm chung của hai nhân vật này, cũng như nhiều nhân vật trẻ khác trong trang viết của tôi, đó là mọi sự kiện xảy ra trong cuộc sống họ là do họ chủ động lựa chọn, chứ không phải do ai khác đẩy họ vào.

- Kế hoạch sáng tác sắp tới của chị?

- Trước mắt, tôi dự định không xuất bản trong vòng một năm. Tôi đang tập trung tìm một hướng khác, đủ sức hấp dẫn chính tôi. Vấn đề của tôi hiện nay là cần chọn hình thức thể hiện mới, để có thể sử dụng một số kỹ thuật mà tôi đã rèn luyện được.

Theo Ev.

 

 

 

Hải Miên: "Văn chương cần sự thành thật"

Hải Miên:

Là cây bút được nhiều bạn đọc trẻ yêu thích, Hải Miên từ giã văn chương để lăn lộn với nghề báo trong một thời gian. Gần đây, chị quay lại viết lách bằng tập truyện "Visa" đoạt giải 3 Văn học tuổi 20. Cây bút nữ chia sẻ về công việc của mình.

- Bén duyên với văn chương từ thời còn là sinh viên, vì sao chị ngừng viết văn để quay sang công việc làm báo?

- Bài báo đầu tiên tôi viết vào năm 1995, chính thức đi làm báo năm 1998. Tôi học chuyên văn từ bé. Thi đại học khối C. Tôi học Báo chí, ra trường đi làm báo. Bận tối mắt, và cũng đã vắt kiệt mình ra chữ (cho báo). Thêm nữa khi bạn làm báo chuyên nghiệp, thì lối tư duy báo chí rất khác với lối tư duy văn học. Thế là phải "hai chọn một". Cái "rãnh trượt" ấy xem ra rất tự nhiên và đương nhiên.

Hải Miên, cây bút đoạt giải 3 cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20".


- Vậy vì lý do gì sau một thời gian dài chị lại quyết định ngừng làm báo quay về viết văn?

- Tôi mới dừng làm báo năm ngoái đây thôi. Nghề nghiệp nào cũng đem lại cho chúng ta thu nhập và vốn sống (cùng nhiều thứ lỉnh kỉnh khác). Nghề báo không độc quyền cung cấp vốn sống cũng như nỗi mệt mỏi tâm hồn cho ai cả. Chỉ là đến một lúc, tôi muốn nói những câu chuyện khác bằng một giọng điệu khác, một tâm thế khác. Con người cá nhân tăng trưởng đến mức nó không còn đi lọt vào cái khe hẹp báo chí. Thế là dừng.

Tôi không dùng văn chương để thay thế cho báo chí. Viết văn là do thôi thúc nội tại, nên có lần tôi đã nói: "Tôi viết văn để được yên thân". Yên thân với những thôi thúc, nài nỉ nội tâm, cái tiếng nói đã không ngừng tra vấn tôi: "Bao giờ thì cô bắt đầu?".

- Nếu nói việc quay lại văn chương là một thôi thúc nội tâm thì sao chị chọn một cuộc thi để quay lại chứ không phải một lúc nào khác?

- Có một sự hiểu lầm nhỏ ở đây, không có câu hỏi này của bạn thì tôi không có dịp "nói lại cho rõ".

Tôi bắt đầu viết lại 3 tháng sau khi ngừng làm báo. Viết để đó. Cuộc thi chỉ là thời điểm tôi chọn để xuất hiện lại. Vì giải thưởng Văn học tuổi 20 có những tiêu chí cụ thể, riêng biệt của nó, nên tôi phải viết ra những truyện mới mà không thể dùng những truyện có sẵn, trừ "Một người con của mẹ Âu Cơ".

- Nguyễn Quốc Duẩn - nhà bảo trợ nghệ thuật, người chị trân trọng viết lời cảm ơn ngay từ đầu tập sách "Visa" - đóng vai trò như thế nào với công việc viết văn của chị?


- Nguyễn Quốc Duẩn là người đã nói: "Đừng lần lữa nữa. Bỏ hết đi. Làm điều em muốn. Làm điều gì đó cho một viễn cảnh xa hơn. Anh nuôi".

Anh cũng là người nói: "Em có tài. Đủ tài. Em chỉ thiếu sự kiên nhẫn và kiên định".

Anh nói và anh làm, tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể quay lại với việc viết lách.

Anh không là người viết, cũng không tôn sùng văn chương như thái độ của nhiều người, nhưng anh yêu mến sự sáng tạo và trân trọng con người sáng tạo. Anh biết họ phải được nuôi dưỡng trong một bầu dưỡng khí đặc biệt mới có thể sống được như - họ - vốn - là. Và hiện giờ, anh là người tạo ra và duy trì bầu dưỡng khí đặc biệt ấy cho tôi.

- Chị cho rằng khoảng thời gian 3 tuần viết tập truyện ngắn "Visa" để dự thi Văn học tuổi 20, chị đã sống thành thực với mình, thành thực với văn chương nhất. Theo chị, sự thành thật là yếu tố cần hay đủ cho một người viết muốn gắn bó lâu dài văn chương?

- Với tôi, viết là nhìn sâu vào thế giới nội tâm mình, đối diện với tâm hồn mình, cả những góc khuất tối tăm. Theo một nhà thơ, viết là hành động "diễn dịch mình bởi chữ", để khám phá và soi sáng chính mình, trước khi nghĩ đến làm được điều gì đó cho ai khác. Không thành thật với mình thì làm sao thành thật với văn chương? Không thành thật với văn chương thì cái chúng ta gửi đến cho bạn đọc cùng lắm chỉ là những trang viết "giả cầy". Và những trang viết "giả cầy" thì cũng chỉ tập hợp được xung quanh nó những bạn đọc "giả cầy" với những tiếng vỗ tay hay chửi rủa cũng "giả cầy" nốt. Đó là thứ mà tôi không mơ ước.

Tập truyện ngắn đoạt giải của Hải Miên.


- Trong tập truyện ngắn "Visa", những cô gái trẻ có cá tính đặc biệt, mạnh mẽ và ngang tàng. Trong hình bóng những nhân vật này có bao nhiêu phần trăm là con người thật của chị?

- "Họ không phải là tôi nhưng luôn có chút gì hình bóng của tôi", nói vậy là sòng phẳng nhất về mối liên hệ giữa nhân vật và tác giả. "Khó khuất phục", đó có lẽ là đặc điểm mà tôi đã cho nhân vật "vay mượn" của mình thường xuyên nhất.

- Vì sao chị chọn giọng văn hài hước để thể hiện những câu chuyện khá buồn và đôi khi còn thấm đẫm chất bi kịch?

- Giọng văn của tôi ảnh hưởng tính cách của tôi chăng? Tôi có xu hướng hài hước hóa mọi chuyện, kể cả nỗi buồn và nỗi đau (của chính tôi thôi). Khi nhìn mọi sự nặng nề và buồn thảm của đời này qua lăng kính hài hước, may ra ta thấy có chút gì lóe lên của ánh sáng trí tuệ. Và chút ánh sáng này sẽ soi sáng cho ta chứ không phải là những nức nở, nhòe nhoẹt kia.

Nói chung, tôi vẫn muốn nhìn thấy một nụ cười qua làn nước mắt. Với tôi, đấy là nụ cười đẹp nhất.

- Vì sao truyện ngắn của chị thường phảng phất những câu ca dao, dân ca, tục ngữ, thơ ca và nhiều trích dẫn?

- Bạn đang hỏi đến chuyện bếp núc văn chương, nói ra cho rõ sẽ rất dài dòng. Tôi xin nói đại khái: Ca dao, dân ca, tục ngữ, thơ ca và nhiều trích dẫn... nằm trong trường liên tưởng của tôi. Trường liên tưởng này liên quan đến quá trình tích lũy văn hóa, tri thức của cá nhân mỗi người.

Tuy nhiên, khi tôi để cho những yếu tố của trường liên tưởng này xuất hiện trong trang viết, là bởi vì nó phù hợp với bối cảnh câu chuyện và nhân vật trong truyện. Ở một truyện khác của tôi (vừa viết), bạn sẽ thấy chả có hình bóng của câu ca dao, tục ngữ, hò vè nào cả, mà chỉ có sủa thôi, sủa khan, vì nhân vật chính là một con chó!

-Trên những trang viết chị có cái nhìn khá buồn về tình yêu và cuộc sống. Nhưng, ở lời tự bạch trong tập truyện ngắn mới nhất của mình, chị lại cho biết: “đang sống những ngày vui xen lẫn với ngày vừa”. Vì sao thế?

- Viết văn, với tôi, là diễn đạt "cái tôi sâu thẳm" thành lời.

Sống, là diễn đạt "cái tôi xã hội" sao cho hài hòa trong mối tương quan "Anh - Tôi".

Hai "cái tôi" này không phải luôn luôn trùng khít lên nhau, dù ít nhiều có đổ bóng vào nhau.

Do đó, ta có thể thấy một người đàn ông cực kỳ hấp dẫn, hài hước, sinh động trong đời thường nhưng lại là một nhà văn vô cùng nhàm tẻ trong văn chương; và ngược lại.

- Chị nghĩ gì về nhận xét của nhà văn Phan Thị Vàng Anh dành cho phong cách văn chương của chị: "Ở Hải Miên không thấy sự say chữ, chỉ thấy sự say ý"?


- Văn chương là nghệ thuật của ngôn từ, nó dùng ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt. Và trong nghệ thuật, phương tiện cũng có thể là mục đích cuối cùng, nên có người say mê vẻ đẹp của từ ngữ, tỉ mẩn đẽo gọt như cụ Nguyễn Tuân, như bác Lê Đạt, khiến cho mỗi câu văn đều ngân lên, mỗi từ ngữ đều phát sáng. Riêng tôi, tôi quan tâm hơn đến cấu trúc, dàn dựng, bày binh bố trận - với phương tiện là ngôn ngữ. Tuy nhiên, tôi hiểu ý của nhà văn Vàng Anh. Tôi coi đấy là một lời nhắc nhở có giá trị đối với mình.

- Khác với nhận xét của Phan Thị Vàng Anh, nhiều người cho rằng chị khá tinh và đáo để trong cách dùng từ. Những truyện ngắn như "Một người con của mẹ Âu Cơ", "Chữ của tôi", "Chị em thú nhún" có ngôn từ sinh động, giàu màu sắc và cảm xúc. Chị nghĩ sao?

- Với những người đọc khác nhau, chúng ta có những cảm nhận khác nhau, đánh giá khác nhau, đòi hỏi khác nhau. Tập Visa có thể thỏa mãn đối tượng này mà chưa thỏa mãn đối tượng khác, điều ấy không có gì là mâu thuẫn nên không cần phải bàn cãi để phân định. Cảm nhận của con người đối với mọi sự vật, hiện tượng đều mang tính đặc thù, cá nhân và bấp bênh, nên nói cho cùng, "mọi sự đều tương đối".

Với Vàng Anh hay các bạn đọc khác cũng vậy, đều không thể đứng ra ngoài sự tương đối này. Tuy nhiên, tôi vẫn xem mức độ đòi hỏi của Vàng Anh là một mức độ mình cần phải nhớ mỗi khi cầm bút.

- Giải thưởng cuộc vận động sáng tác "Văn học tuổi 20" có ý nghĩa như thế nào trên con đường viết lách của chị?

- Hành trình văn chương của một người thường được miêu tả và liên kết lại bởi những cột mốc. Tập Visa là một cột mốc, tôi xem là cột mốc khởi đầu, đánh dấu thời kỳ viết văn có ý thức của tôi (trước viết ăn vào năng khiếu, và rất bản năng. Truyện viết ra hay cũng không biết nhờ đâu mà hay, dở cũng không biết vì sao mà dở). Từ cột mốc này, tôi khởi hành chuyến tàu chữ nghĩa của mình, về một miền không khi nào có ga cuối.

- Sau giải thưởng này, thái độ của chị với văn chương đổi khác ra sao?

- Để bù đắp cho tư tưởng nghèo nàn của mình, tôi thường trích dẫn. Giờ tôi lại trích dẫn đây: "Trên con đường đi đến đỉnh cao nghệ thuật, có la liệt những nấm mồ vô danh" (không nhớ ra là của ai). Trước tôi vùng vằng, muốn bứt ra khỏi hàng ngũ "la liệt những nấm mồ vô danh" đó. Giờ thì không vùng vằng nữa, biết chấp nhận văn chương như một phần hoạt động sống của mình, mà là phần hoạt động sống quan trọng, mặc cho khi ngã xuống, mình rơi vào cái huyệt mộ nào, "vô danh" hay "có danh"!

Theo Evan

Nguyễn Đình Tú - nhà văn hai trong một

Nguyễn Đình Tú - nhà văn hai trong một

Nhà văn Nguyễn Đình Tú sinh năm 1974 tại Kiến An, Hải Phòng. Tốt nghiệp Đại học Luật Hà Nội (1996). Tu nghiệp sĩ quan tại Trường Quân chính Quân khu 3 (1996 - 1997). Từ năm 1997 đến 2001 công tác tại Viện Kiểm sát quân sự Quân khu 3. Từ năm 2001 công tác tại tạp chí Văn nghệ quân đội. Hiện là Trưởng Ban Văn xuôi tạp chí Văn nghệ quân đội. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (2005).


Tác phẩm chính đã xuất bản: "Bên bờ những dòng chảy" (tập truyện ngắn, 2001); "Không thể nào khác được" (tập truyện ngắn, 2002); "Nỗi ám ảnh khôn nguôi" (tập truyện ngắn, 2003); "Hồ sơ một tử tù" (tiểu thuyết, 2002); "Nét mặt buồn" (tiểu thuyết, 2005); "Bên dòng Sầu Diện" (tiểu thuyết, 2007); "Nháp" (tiểu thuyết, 2008); "Phiên bản" (tiểu thuyết, 2009).

Giải thưởng văn học: Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ quân đội, 1999. Giải thưởng tiểu thuyết Nxb Công an nhân dân phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam, 2002. Gải thưởng văn học 10 năm Bộ Công an. Giải thưởng văn học 5 năm Bộ Quốc phòng.

*

Nhà văn cầm tinh con Hổ này rồi sẽ còn gây nhiều bất ngờ, ngạc nhiên cho bạn đọc và giới phê bình. Nói như thế có quá với Nguyễn Đình Tú? Tôi dám chắc là không! Còn nhớ cách đây dăm năm, khi mới quen biết Nguyễn Đình Tú, tôi có cảm giác đây là con người hiền lành, chân chỉ hạt bột. Đã thế lại về làm việc ở một cơ quan tuy là văn nghệ nhưng vẫn là nơi "quân lệnh như sơn". Một nơi nếu kể về đường thăng tiến thì không có gì là quá khó khăn để khi tuổi độ hơn năm mươi, trên cầu vai đã có quân hàm đại tá và biết đâu có chức này chức nọ. Nhưng dường như đã là nghệ sĩ nói chung, nhà văn nói riêng, tôi thấy chẳng mấy ai quá trọng công danh. Tuy nhiên đã là công chức, hơn nữa lại là sĩ quan quân đội, thì có lẽ cái ý thức tổ chức kỉ luật là rất cao. Vì thế mới thấy Nguyễn Đình Tú làm việc nghiêm cẩn. Cứ nghĩ cái tính ấy và nhất là cái môi trường làm việc ấy sẽ đào luyện cây bút này thành một người có thể lành nhưng không mạnh trong nghề văn. Ấy là nghĩ thế nhưng không phải thế!

Khi bắt đầu khởi nghiệp văn bằng truyện ngắn có vẻ như Nguyễn Đình Tú viết rất nắn nót, cẩn thận và có cái gì đó đượm vẻ thơ ngây "Tôi tên là Tâm. Tôi sinh ra và lớn lên vào những thập kỉ cuối cùng của thế kỉ 20. Tôi đến trường vào một buổi sáng mùa thu nắng trong, gió nhẹ" (Nỗi buồn trong suốt). Nhưng rồi Nguyễn Đình Tú chuyển hướng viết rất nhanh khi anh bập vào đời sống thị thành - nơi đó khó mà tìm thấy những nỗi buồn trong suốt nữa. Anh bắt đầu viết về những "Vũ điệu của thị dân" (tên một truyện ngắn). Trong truyện ngắn này có câu: "Tự nhiên tôi cũng muốn nhảy. Nhưng tôi chưa định hình được vũ điệu mà mình trình diễn sẽ như thế nào?". Có vẻ như Nguyễn Đình Tú già dặn sớm hơn những bạn bè cùng trang lứa viết văn khi trải nghiệm đời sống của thị dân. Rõ ràng ở đoạn đầu, Nguyễn Đình Tú viết nhiều nhưng kĩ lưỡng, có mức độ, song dễ thấy là chưa có lửa. Nhà văn bậc đàn anh Lê Lựu rất tinh tế khi nhận xét: "Còn rất trẻ nhưng văn Nguyễn Đình Tú đã già như một người từng trải, thạo nghề, rất chỉn chu từ ý tưởng, cốt truyện đến cung cách nói năng, hành động của nhân vật, ở anh rất khó bắt bẻ, không thấy sự chông chênh, không thấy độ rung quá nhịp của một trái tim hồi hộp, phấp phỏng. Cái gì cũng đến độ vừa đủ là dừng".

Ba tập truyện ngắn được in liền trong ba năm: "Bên bờ những dòng chảy" (2001); "Không thể nào khác được" ( 2002); "Nỗi ám ảnh khôn nguôi" (2003) đã định hình tên tuổi Nguyễn Đình Tú trên văn đàn. Truyện ngắn là nơi anh bộc lộ cái khả năng sống của mình - ở đây tôi muốn nói đến chữ sống của người làm nghề văn. Trong truyện ngắn, Nguyễn Đình Tú đồng thời cũng bộc lộ cái năng khiếu "chui vào nhiều loại nhân vật (...) để gửi gắm mọi ý tưởng của mình" (Chu Lai).

Dường như Nguyễn Đình Tú không thỏa mãn với truyện ngắn. Có thể là sự tác động mang tính thời sự khi có một nhà văn đã thành danh nhờ viết truyện ngắn, nay quay lại khẩn thiết kêu gọi các nhà văn trẻ nhất quyết phải viết tiểu thuyết, vì truyện ngắn chỉ như là súng lục, dao găm; tiểu thuyết mới là đại bác, trọng pháo. Nhưng lí do quan trọng hơn là sự thôi thúc từ bên trong của người cầm bút - tiểu thuyết là hình thức nghệ thuật hữu hiệu nhất để khái quát hóa nghệ thuật đời sống. Nhìn ra cái tố chất tiểu thuyết trong văn Nguyễn Đình Tú lại là một đồng nghiệp văn chương đi trước, người có nhiều kinh nghiệm viết tiểu thuyết - nhà văn Chu Lai. Ông nhận định: "Viết thành công nhiều cảnh đời, viết thành công về nhiều nhân vật, đó cũng là yếu tố cấu thành năng lực tiểu thuyết, ở Tú, qua một vài truyện đã le lói hơi thở của tiểu thuyết cụ cựa bên trong. Tú hoàn toàn có đủ năng lực đi dài hơi vào những mảng sống nóng nhất với một bút pháp trần trụi nhất ngoài những tứ văn huyền ảo, cổ xưa nhuốm màu phonclore đã đạt được những khoái cảm thẩm mĩ nhất định".

Tâm thế của Nguyễn Đình Tú cũng giống  Đỗ Tiến Thụy khi nhà văn này viết: "Không thỏa mãn. Đó là cảm giác của tôi mỗi khi viết xong một cái truyện ngắn. Thì viết tiểu thuyết". Nhưng mỗi nhà văn khi bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết cũng từ những nguyên nhân rất khác nhau. Nhà văn Nguyễn Khải kể lại nguyên nhân viết tiểu thuyết "Gặp gỡ cuối năm" là bắt đầu từ một câu nói của một người chị: "Tao không sợ cái chết nhưng tao sợ cái xác chết của chính tao" (Nguyễn Khải - Chuyện nghề, 1999). Trở lại trường hợp nguyễn Đình Tú viết tiểu thuyết. Bắt đầu từ "Hồ sơ một tử tù" (tên được đặt ban đầu là "Bên kia là cát bụi"). Tác phẩm này nhận được Giải thưởng tiểu thuyết Nxb Công an nhân dân và Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002 (tiểu thuyết được chuyển thành phim truyền hình với tên phim "Lời sám hối muộn màng", khá hấp dẫn người xem). Vì sao cuốn tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Đình Tú lại viết về tội phạm, về án phạt, về nhà tù, về thế giới giang hồ trong xã hội hiện đại? Câu trả lời không có gì là quá khó khi mọi người đều biết Nguyễn Đình Tú vốn là người học luật và trước khi hành nghề văn đã có những năm tháng hành nghề luật. Nói cách khác là ghề luật đã ám vào nghiệp văn Nguyễn Đình Tú. Có lẽ bắt đầu từ đây cây bút trẻ này thực sự say mê khám phá, thể hiện những góc khuất của đời sống xã hội và con người thời hiện đại. Tôi thấy nhà văn trẻ này quả thật là người mạo hiểm, hay nói cách khác là thích phiêu lưu, mạo hiểm. M. Kundera cũng đã nhấn mạnh rằng nhà văn khi viết tiểu thuyết khác nào làm một cuộc thám hiểm, đầy rẫy những bất ngờ, thú vị và nguy hiểm.

Nhà văn Khuất Quang Thụy định danh "Hồ sơ một tử tù" là kiểu tiểu thuyết tội phạm học. Nguyễn Đình Tú không thích tiểu thuyết của mình bị xem là truyện vụ án "Theo tôi đề tài nào cũng đáng được các nhà văn khai phá, và khi nó được công chúng đón đọc thì có nghĩa là anh đã thành công. Dostoievski viết "Tội ác và trừng phạt", Kafka viết "Vụ án", chẳng lẽ hai ông đó là nhà văn của những truyện vụ án?". Hai cuốn tiểu thuyết "Nháp" và "Phiên bản" của Nguyễn Đình Tú được xem là hiện tượng best-seller trên văn đàn những năm gần đây. Cả hai cuốn đều gây nên những dư luận, những cách đánh giá rất trái chiều nhau. Nhưng theo tôi điều đáng nói hơn cả chính là ở chỗ, cả ba cuốn tiểu thuyết "Hồ sơ một tử tù", "Nháp", "Phiên bản" (và rất có thể cả cuốn tiểu thuyết sắp in) đều thể hiện một bút pháp tiểu thuyết táo tợn và dịu dàng (theo cách đánh giá của nhà văn Chu Lai). Khác nhà văn Chu Lai, tôi gọi Nguyễn Đình Tú là nhà văn hai trong một. Sỡ dĩ tôi gọi thế là vì Nguyễn Đình Tú trong văn xuôi, đặc biệt trong tiểu thuyết, thường chan hòa cả hai tố chất của người viết: vừa đắm đuối vừa tỉnh táo, vừa chân phương vừa sắc lẹm, vừa nhập thân vừa biết tiết chế, vừa rõ ràng khúc chiết vừa cố ý rối ren... Nhưng lại có một mạch văn khác trong tiểu thuyết "Bên dòng Sầu Diện" - một mạch văn bản năng, giản dị và chân phương. Có người nhận xét rằng tạng văn này mới phù hợp với tạng người Nguyễn Đình Tú. Nhà văn này là vậy, con người phận sự hay con người nghệ sĩ đều luôn luôn hai trong một. Trong đời thường anh gây cảm giác dễ gần gũi đấy nhưng mà cũng dễ xa lạ, dễ thành người dưng đấy. Trong văn chương cũng vậy, có lúc thấy anh viết rất nhanh, viết như lên đồng trong "Nháp" hay "Phiên bản"; có lúc lại thấy anh viết chậm chạp, vất vả như cày ruộng trong "Bên dòng Sầu Diện" (cuốn này cuối sách ghi: Bắt đầu viết ngày 01 tháng 6 năm 2002. Viết xong lần 1 ngày 10 tháng 01 năm 2003. Viết xong lần 2 ngày 10 tháng 3 năm 2006). Mặc dầu được viết trong gần 4 năm, mặc dầu được giải thưởng, nhưng rõ ràng đây là tác phẩm mà cả tác giả, cả người đọc đều thấy chưa hài lòng. Bên thềm Đại hội VIII Nhà văn Việt Nam, trong mấy phút tiếp xúc ngắn ngủi, Nguyễn Đình Tú đã bật mí với tôi, anh vừa viết xong một tiểu thuyết mới, có tên rất gợi: "Kín" (dài khoảng hơn 400 trang). Như sự mô tả vắn tắt thì trong cuốn tiểu thuyết mới này  tác giả vẫn rất chú ý đến vai trò của cốt truyện. Anh có vẻ bằng lòng hơn cả về đứa con tinh thần mới này của mình. Anh khoe đã đưa cho sáu người văn đọc, trong đó có nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, đều nhận được những lời bình giá rất đáng lạc quan.

Nguyễn Đình Tú đang ở độ tráng niên cả về tuổi đời, cả về nghề văn. Bút lực của anh còn rất dồi dào. Sau khi đọc "Nháp" và "Phiên bản" của Nguyễn Đình Tú, tôi cứ hình dung anh giống như một nghệ sĩ xiếc trên dây. Anh làm cho người xem hồi hộp, nhiều lúc như nghẹt thở vì những pha diễn mạo hiểm của mình. Trong đội hình các nhà văn thế hệ 7X hiện nay, Nguyễn Đình Tú đã là một tên tuổi khá nổi bật bên cạnh Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Tiến Thụy, Phan Đình Minh, Phùng Văn Khai, Vũ Đình Giang, Đỗ Bích Thúy, Phong Điệp... Khi nói Nguyễn Đình Tú là nhà văn hai trong một là tôi muốn nói đến sự mâu thuẫn có tính thống nhất ở cây bút trẻ đầy triển vọng này.

Theo Văn nghệ Trẻ



 

Đặng Thiều Quang: Chàng ngự lâm nặng gánh văn chương

Đặng Thiều Quang: Chàng ngự lâm nặng gánh văn chương

Nổi tiếng và nhiều fan tuổi teen khi mới 19 tuổi, với truyện dài kỳ "Tôi và d’Artagnan" in trên Hoa học trò (1997), ngỡ tưởng con đường văn chương với Đặng Thiều Quang cứ thế thênh thang bước… Vậy mà luẩn quẩn chuyện cơm áo gạo tiền, phải đến 10 năm sau (2007), gã mới thực sự tự do để viết.

Đặng Thiều Quang với các tác phẩm đã xuất bản: "Hoen gỉ" (1996); "Tôi và d’Artagnan" (2007); "Chờ tuyết rơi" (2007); "Đảo cát trắng" (2008); "Bóng giai nhân" (2009); "Phải lòng" (2009).

Chàng ngự lâm trong văn chương

Đến với văn chương ban đầu không gì ngoài chữ "ngông". Thời ấy, Hoa học trò là tờ báo gối đầu giường của không biết bao nhiêu nam thanh nữ tú, nhiều truyện trong đó đậm chất mơ màng, trong trẻo và không ít kiểu "hồng hồng tím tím", "nhặt lá đá ống bơ". Vốn sẵn chất văn trong người bởi bố mẹ là giáo viên dạy văn, gã thầm nghĩ, nếu mình viết, ắt hẳn sẽ hay hơn, hài hước hơn. Cũng theo trào lưu... phải có một bút danh thời ấy, do mê "Ba chàng lính ngự lâm" của Dumas, hắn chọn tên d’Artagnan. Và quả thế, mười mấy năm trước, độc giả teen ồ à với những gì d’ Artagnan viết ra hơn cần biết Đặng Thiều Quang là ai.


Những năm ấy, khi đang còn là sinh viên kiến trúc, có nhiều thời gian và còn lắm mơ mộng, gã viết rất hăng. Trong 5 năm, Đặng Thiều Quang hoàn thành tiểu thuyết "Hoen gỉ", truyện dài "Tôi và d’Artagnan" cùng khoảng 40 truyện ngắn. Cũng nhờ khỏe viết, gã tìm ra được niềm yêu thích của mình ở tiểu thuyết và cảm thấy mình phù hợp với thể loại này.

Với mong muốn sẽ gắn bó với việc viết văn và bán sách do... gã viết để sống, gã vác một bao tải to chứa bản thảo tiểu thuyết "Hoen gỉ" cùng các truyện ngắn khác lên đường vào Nam. Mang "Hoen gỉ" đi dự thi Văn học tuổi 20 mà chẳng được giải gì, bản thảo gửi NXB Trẻ đến giờ vẫn... bặt vô âm tín, gã nhận ra những hoang tưởng ăm ắp của tuổi trẻ. Vỡ mộng, gã quay trở về Hà Nội.

… và giữa đời thường

Năm 1997, tốt nghiệp ra trường, bắt đầu phải đối mặt với chuyện tự lực cánh sinh lo "cơm áo gạo tiền" trong khi nghề kiến trúc không sử dụng được vì kinh tế đình trệ, thấy đồng nghiệp xoay ngang xoay ngửa tìm kiếm việc làm, năm 1998, gã chặc lưỡi mở quán cà phê, kinh doanh thêm game online, đồng thời, quay lưng với văn chương.

5 năm đóng vai anh chủ quán, "một ngày như mọi ngày" buồn tẻ lặp lại, trong gã nỗi chán chường dần dần chất chứa. Đến năm 2002, công việc kinh doanh khó khăn đã tạo điều kiện cho gã có thời gian chui dưới gầm cầu thang của quán, kê mấy tấm phản làm bàn và hì hục viết nốt cuốn tiểu thuyết dở dang trước đó 5 năm: "Chờ tuyết rơi". Khi viết nốt đoạn kết cuốn tiểu thuyết, gã cảm thấy mình thực sự được tự do, và bắt đầu chất vấn bản thân tại sao phải sống trong nhàm chán như những ngày qua? Tự hỏi và tự trả lời xong, gã nhượng lại quán, quay trở lại nghề kiến trúc sư bằng cách cùng bạn bè mở văn phòng thiết kế.

Từ năm 2002 đến 2006, với 4 năm, gã kịp kiếm được một ít tiền, kịp lấy một cô vợ là nhân viên văn phòng và sinh ra hai cô con gái. Giải trí thường ngày của gã là vào mạng, lang thang blog và viết entry cùng những đoản văn ngắn. Khi việc viết được lặp lại, gã thêm một lần nhận ra bản thân không thích hợp với nghề kiến trúc, mong muốn của gã thực sự là viết và được tập trung tâm sức vào viết. Đến năm 2007, gã rời văn phòng kiến trúc, trở thành tay... tự do theo đúng nghĩa. Vào thời điểm này tôi gặp gã, khi đang loay hoay tìm cách kiếm thêm chút tiền bằng nghề báo. Có lẽ nghề báo không thích hợp với Đặng Thiều Quang nên ngoài mấy bài viết về du lịch, ẩm thực, phượt, câu cá (sở thích tủ), gã chẳng viết thêm được gì.

Văn chương phù phiếm, câu cá cũng phù phiếm nốt

Nói đến chuyện câu cá, Đặng Thiều Quang phấn chấn hồ hởi hẳn lên. Năm 2006, gã gia nhập CLB câu cá và chắc rằng mình đã tìm được "bầy đàn". Câu cá luôn tạo cho gã cảm giác thách thức của việc cần vượt qua chính mình. Vốn là tay sát cá quả, giỏi loại câu đặc biệt vốn bị thất truyền, trong làng câu, gã được mệnh danh là "Quang cá quả". Gã có vẻ rất hãnh diện với biệt hiệu này, đến nỗi, khi hỏi về anh bạn đồng nghiệp kiến trúc và đồng lứa Hoa học trò Nguyễn Vĩnh Tiến đang nổi danh như cồn với bài hát "Bà tôi", gã trả lời báo chí, tôi cũng nổi danh với "Quang cá quả" đấy thôi!

Với sở thích câu cá, gã mất một tuần, có khi vài tháng lang thang trong núi sâu rừng thẳm để săn cho bằng được những loài cá quý hiếm. Nếu đi theo đoàn, cá câu được sẽ cùng nhau nướng, vùi tro, nấu canh chua, làm các món ăn dân tộc... ngay tại ven bờ suối. Bên trại lửa, cùng món cá ngon, gã có dịp gặp gỡ giao lưu với các tay câu hoặc người dân bản địa, học hỏi văn hóa vùng miền, đây chính là tư liệu quý cho việc viết. Nếu đi một mình, gã sẽ tranh thủ gặm nhấm đến tận cùng nỗi cô đơn giữa núi rừng sâu quạnh quẽ, đây cũng là cảm xúc tốt cho việc viết. Nhưng đi câu mãi rồi gã cũng thấy đây là một thứ phù phiếm. Gã bảo gã chưa làm tròn trách nhiệm, hiện sống bằng nguồn chu cấp của vợ, vợ đang là trụ cột kinh tế gia đình chứ không phải gã, hai đứa con gái thì thi thoảng mới được bố cho đi chơi, lỗi suy cho cùng là tại tính ham chơi của gã.


* * *


Tôi còn nhớ, trước hôm tọa đàm tác phẩm Đặng Thiều Quang tại hội trường Hội Nhà văn VN hồi năm 2009, bỗng dưng gã xuất hiện ồn ào trên... mạng, nháo nhác cả lên từ việc mời người đến tham dự đến đặt viết bài tham luận. Sơ sơ, đến 50 nhà văn, nhà phê bình được gã... gõ cửa bằng E-mail, điện thoại (chưa kể bạn bè, đồng nghiệp và fan); 10 người bị gã "trói" vào các tham luận bình phẩm truyện. Thế rồi ai cũng gật đầu vì thấy "thằng này chơi được".

Chiều 17/8, tôi ngang qua hội trường Hội Nhà văn xem công việc chuẩn bị tọa đàm đến đâu, thấy gã đang ghé vai vác tấm pano to đùng loạng choạng từng bước đi từ tầng một lên tầng hai. Nhìn hình ảnh ấy, tôi liên tưởng đến Sisyphe trong thần thoại Hy Lạp bị trừng phạt, phải vác đá lên núi, tới đỉnh, hòn đá lăn xuống, lại quay xuống vác lên, cứ thế muôn kiếp... Với Đặng Thiều Quang, gánh văn chương đang đè nặng trên vai gã có phải là do sự trừng phạt của số phận?

Theo TT&VH

Trang 4 trong tổng số 8 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay403
mod_vvisit_counterHôm qua3198
mod_vvisit_counterTất cả4695901

20 108
,
Hôm nay:23 - 5 - 2017
Hiện có 315 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: