Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> Tác giả trẻ

Tác giả trẻ

Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang: 'Cầm bút không phải để trả lời mọi câu hỏi'

Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang: 'Cầm bút không phải để trả lời mọi câu hỏi'
Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang từ chối trả lời câu hỏi của một độc giả cùng tuổi (sinh năm 1981), hoặc đúng hơn là trả lời theo lối truyền thống: “Hãy đọc sách của tôi để tìm câu trả lời trong đó”.

Đó là câu hỏi về đặc điểm chính của 2 lứa tuổi 8x và 9x và sự khác nhau giữa họ. Độc giả Thu Hiền đặt ra câu hỏi này vì Nguyễn Quỳnh Trang, hiện công tác tại báo Thể thao & Văn hóa, là nhà văn chuyên viết về giới trẻ. Cô đã xuất bản vài cuốn sách về thế hệ 8x (1981, Nhiều cách sống, Mất ký ức) và cuốn sách mới nhất về thế hệ 9x: 9X’09.

Buổi ra mắt tiểu thuyết 9X’09 diễn ra chiều 19/2 tại Hà Nội. Đây là cuốn sách thứ 7 của Quỳnh Trang, một nhà văn kiêm nhà báo sinh năm 1981, theo dịch giả Dương Tường là cây bút nữ trẻ “phì nhiêu” của văn chương Việt Nam hiện nay. Từ năm 2012 đến nay, cô đã ra mắt liên tiếp 3 cuốn sách.


Nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang trong buổi ra mắt sách 9X’09 tại Hà Nội. Ảnh: My Ly

Quay lại với câu hỏi của độc giả Thu Hiền, một câu hỏi khó. Nếu độc giả không hỏi Nguyễn Quỳnh Trang mà hỏi hai diễn giả khác trong buổi ra mắt sách, nhà phê bình Phạm xuân Nguyên và nhà thơ Hồng Thanh Quang (những người đều thuộc lứa cha chú), chưa chắc đã có câu trả lời thỏa đáng.

Khi Quỳnh Trang từ chối trả lời và khuyên độc giả nên tìm đọc sách của chị, nhà phê bình Phạm xuân Nguyên ứng xử rất khéo: “Đến 2 người phụ nữ cùng tuổi gà (Quỳnh Trang và Thu Hiền) còn chưa chung tiếng gáy, nói gì đến toàn bộ 2 thế hệ 8x và 9x. Rút ra được điểm đặc trưng của họ là rất khó”.

Ông nói thêm: “Nhà văn viết sách không phải để trả lời những câu hỏi. Sai lầm của thế hệ nhà văn đi trước là cho rằng văn chương có thể trả lời mọi câu hỏi, điều thực ra là không thể”.

Theo nhà phê bình, vai trò của thế hệ nhà văn trẻ hiện nay, chủ đạo là lứa 8x – 9x, là phản ánh tâm tư tình cảm của những người cùng thời. Tài năng, sự quan sát chiêm nghiệm và thời gian sẽ giúp họ làm điều đó. Rất khó cho một tác giả để có thể phản ánh và trả lời mọi câu hỏi lớn về thế hệ mình thông qua một tác phẩm. Nhưng “Các nhà văn vẫn phải làm vì họ mang nợ thế hệ của mình điều đó” – theo ông Nguyên.

Lấy tên cuốn sách mới là 9X’09, Nguyễn Quỳnh Trang tiếp tục giữ nét riêng của mình: tên sách thường gắn với các con số. Trước đây là 1981, Nhiều cách sống, Cho một hành trình, 24h, Đi về không điểm đến… đều có từ chỉ số lượng. Cuốn sách sắp tới của chị là Đàn bà tuổi 30 – tiếp tục viết về chính thế hệ của chị.

9X’09 có ý nghĩa đơn giản là “viết về thế hệ 9x trong bối cảnh năm 2009”. Đó là một năm kinh tế khó khăn, Nguyễn Quỳnh Trang thấy cần phải ghi lại tâm tư của giới trẻ khi “xã hội rơi vào vòng xoáy của sự điên loạn” – theo lời chị. “Khi vật chất đi xuống, người ta quan tâm đến các giá trị tinh thần, nhưng thay vì tìm các giá trị tinh thần nội tại thì người ta lại tìm chúng ở bên ngoài”.


My Ly
Nguồn: Thể thao & Văn hóa

'9X’09' - tiểu thuyết về giới trẻ đương đại

'9X’09' - tiểu thuyết về giới trẻ đương đại

Lý giải về cái tên 9X'09, tác giả Quỳnh Trang nói: "Tôi là người rất kén chọn với tên sách và thường đau đầu để chọn tựa. Từ 9X hé lộ nội dung cuốn sách viết cho các bạn trẻ, 09 là năm tôi bắt đầu đặt bút viết cuốn sách này, cũng là năm Việt Nam rơi vào suy thoái kinh tế. Từ suy thoái kinh tế mà con người gặp nhiều vấn đề về đạo đức, xã hội... Tuy viết sách về giới trẻ nhưng mọi đối tượng, lứa tuổi đều có thể tìm thấy mình cùng bức tranh xã hội trong đó".

Tiểu thuyết 9X'09 xây dựng chân dung giới trẻ đương đại.

Nhân vật của 9X’09 là những bạn trẻ sinh vào những năm 90 của thế kỷ trước. Giai đoạn này, kinh tế Việt Nam mới chập chững từng bước khó khăn sau thời kỳ mở cửa, bao vấn đề đã diễn ra qua sự quan sát của nhân vật Ken và hai đứa em Shu, Shi. Ken từng nôn thốc nôn tháo khi đọc những bài viết về các giá trị đạo đức, nhân văn suy đồi, nhưng Ken buông xuôi và chấp nhận sống bám vào đòi hỏi vật chất.

"Đó là những nhân vật tôi thấy trong các trang báo. Tôi không phải tô vẽ thêm điều gì, bởi hiện thực này đã quá tàn khốc rồi. Nhưng tôi muốn các nhân vật đi qua tàn khốc để có thể sống hướng thiện", nữ tác giả nói.

Dường như các nhân vật trong 4 tiểu thuyết của Nguyễn Quỳnh Trang đều in hằn sự cô đơn, và dằn vặt trong câu hỏi "Tôi là ai?" khi tìm kiếm bản ngã của mình. Và qua mỗi tác phẩm, các nhân vật của cô dường tìm ra hướng đi cho bản thân. Tác phẩm 1981 nói về sự cô đơn, bế tắc cùng cực. Dữ dội hơn là việc phải tìm tới cái chết ở tiểu thuyết Nhiều cách sống. Đến tác phẩm Mất ký ức, lối đi cho nhân vật dần hé mở. Để khi sáng tác ra 9X'09, Quỳnh Tranh để cho nhân vật định hình, tự soi bản thể của chính con người mình.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nhận xét, Nguyễn Quỳnh Trang ở mỗi cuốn tiểu thuyết đều trăn trở, thao thức với khía cạnh nào đó của vấn đề đạo đức, nhân sinh. Ông cho rằng người cầm bút như vậy là có trách nhiệm với xã hội.

Tác giả Nguyễn Quỳnh Trang.

Nữ tác giả khởi bút cho cuốn sách từ năm 2009, song song với cuốn Mất ký ức, sau đó, do bế tắc mà chị đã gác tác phẩm lại. Cho đến cuối năm 2013, Nguyễn Quỳnh Trang mới tìm được hướng đi mới cho tác phẩm, chị bắt tay vào hoàn thành tiểu thuyết trong vòng hai tháng.

Bên cạnh làm báo, viết sách, Quỳnh Trang còn làm MC cho một số chương trình truyền hình. Quá trình tham gia thực hiện chương trình truyền hình Ngược chiều dành riêng cho thanh thiếu niên khiến Quỳnh Trang tiếp xúc với nhiều bạn trẻ bỏ nhà ra đi. Từ đó chị hiểu hơn về tâm lý và đời sống giới trẻ hiện nay, và đó cũng là chất liệu giúp các trang viết của 9X’09 thật hơn.

Nguyễn Quỳnh Trang cho biết chị đã hy sinh nhiều, từ công việc chính đến việc gia đình. Chị cũng phải sửa chữa đến 3 lần, thay đổi bối cảnh, nhân vật tới 3 lần mới ưng ý và đưa tác phẩm đến với độc giả. Tác giả nói: "Viết xong sách, tôi thở phào nhẹ nhõm, cảm giác như vừa trả xong món nợ".


Hiền Đỗ

Nguồn: vnexpress

Trăn trở về cuộc đời thì hãy đọc sách Thu Giang

Trăn trở về cuộc đời thì hãy đọc sách Thu Giang

NXB Trẻ tiết lộ một chuyện đáng mừng: tủ sách học làm người 19 cuốn của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, học giả nổi tiếng miền Nam thế kỷ 20, nay in lại vẫn được độc giả trẻ miền Nam đón nhận.

Nay, tủ sách vừa được giới thiệu ở Hà Nội trong buổi ra mắt tại Trung tâm Văn hóa Pháp. Khi phát hành tại miền Nam, tủ sách in 50.000 bản, trong đó có 6 cuốn đã được tái bản.

Đây là một buổi ra mắt khá đặc biệt: 2 trong số 3 diễn giả còn trẻ và không có tên tuổi nhưng đều được người nghe nể trọng vì vốn kiến thức và văn hóa mà họ chia sẻ. Cụ thể, trong 3 diễn giả, có họa sĩ kiêm biên tập viên Đỗ Biên Thùy của NXB Trẻ và 2 độc giả sinh năm 1989, Nguyễn Anh Vũ và Nguyễn Hữu Đại. Cả 3 đều là những độc giả tâm huyết của Thu Giang, bắt đầu đọc sách của cụ từ khi còn rất trẻ (15 tuổi hoặc 20 tuổi).

“Cái Dũng của thánh nhân”, đầu sách được nhiều người ca ngợi trong tủ sách của cụ Thu Giang

Một độc giả khác của cụ là ông Lý Ngọc Minh, doanh nhân nổi tiếng trong ngành gốm sứ, xuất hiện trong đoạn phim giới thiệu sách. Ngày nay độc giả thích đọc “sách làm giàu” hơn là “sách làm người”, quan tâm đến việc “lập nghiệp” hơn “lập thân”, nhưng người thành đạt như ông Minh là minh chứng cho việc biết đọc sách hay thì vừa có thể lập nghiệp và lập thân.

Dòng “Sách học làm người” của cụ Thu Giang và các học giả cùng thời khá tương đương với dòng sách kỹ năng hiện nay. Về mặt ý nghĩa, 2 dòng sách giống nhau nhưng nội dung thay đổi tùy theo thế hệ. Sách của Thu Giang vẫn có sức sống trong thời đại ngày nay bởi ông không đưa ra những chân lý mới mà chỉ trình bày những chân lý bất biến bằng giọng văn sáng tỏ.

“Trong quá trình trưởng thành, các bạn trẻ chắc chắn có những lúc trăn trở về cuộc đời. Nếu có suy nghĩ như vậy thì các bạn hãy đọc sách của Thu Giang Nguyễn Duy Cần” - họa sĩ Đỗ Biên Thùy nhắn nhủ.

Các đầu sách quan trọng của Thu Giang Nguyễn Duy Cần: Cái dũng của thánh nhân, Thuật xử thế của người xưa, Cái cười của thánh nhân, Thuật yêu đương, Óc sáng suốt, Tôi tự học…


Lê Giang

Nguồn: Thethaovanhoa.vn



Nhà văn Đặng Thiều Quang: Viết văn, con đường không thể từ bỏ

Nhà văn Đặng Thiều Quang:  Viết văn, con đường không thể từ bỏ

Trở lại văn đàn sau gần 4 năm mất tích nhưng Đặng Thiều Quang vẫn khiến những độc giả đã từng yêu mến một Đắc-ta-nhăng của Hoa học trò bồi hồi với tiểu thuyết mới “Săn cá thần”. Và lại thêm một sự ngỡ ngàng khi được biết, anh đang sở hữu một “thương hiệu” cà phê mới nổi nhưng đã đủ làm giới sành cà phê nhớ tới. Cùng lúc ôm cả hai công việc, kinh doanh và viết văn nhưng Đặng Thiều Quang vẫn cảm thấy thừa năng lượng. Với anh, “công việc của nhà văn là kể lại giấc mơ của mình, cũng giống như cà phê, hãy cứ làm, cứ kể, cứ tìm ra cái mới, rồi sẽ được ghi nhận”.

* Học Đại học Kiến trúc, gây ấn tượng trên văn đàn thời kỳ đầu báo Hoa học trò, nhưng rồi lại thấy anh kinh doanh cà phê. Tại sao vậy?

- Thực ra ngay từ những năm ôn thi vào Đại học Kiến trúc, tôi đã có thói quen uống cà phê để thức đêm học và nghiện cà phê từ đó. Không ít lần tôi đùa với bạn bè rằng, không phải là tôi viết văn mà chính là cà phê viết. Với tôi, nếu mỗi sáng được thưởng thức một tách cà phê ngon thì công sức làm việc sẽ lên tới 300%.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, tôi cũng có đi làm công việc thiết kế, nhưng rồi kinh tế suy thoái nên chuyển sang mở quán cà phê. Thời gian này, tôi vẫn viết văn. Cuốn “Chờ tuyết rơi” ra đời cũng vào thời điểm tôi “ôm” quán viết. Sau đó tôi nhượng lại quán, quay sang làm nghề thiết kế, rồi lại nghỉ, lang thang đi chơi viết văn. Cứ quay vòng như thế vài năm, đến năm 2012 thì tôi mở quán Quang ở Khuất Duy Tiến. Quán tồn tại cho đến giờ. Tôi cũng dự định sẽ kinh doanh cà phê lâu dài.

Vòng vèo vậy thôi chứ máu kinh doanh ngấm vào tôi từ hồi mở quán lần đầu. Đi đâu, nhìn thấy địa điểm nào đẹp tôi cũng chỉ nghĩ đến chuyện có thể mở quán làm ăn… Nhưng tôi mở quán Quang, như một sự trở lại với cà phê, lại xuất phát từ cuộc tranh cãi trên mạng rằng thế nào là cà phê ngon, sạch. Với góc độ một nhà văn, một người phản biện xã hội, nếu tôi nói 99% cà phê trên thị trường Hà Nội hiện nay là cà phê giả, độn hương liệu thì có người tin, người không, nhưng nếu được uống cà phê nguyên chất thì họ sẽ hiểu. Vì vậy, tôi quyết định mở quán, để cho mọi người thấy tôi làm thật. Nếu tôi có 100 khách hàng thì họ sẽ là những người được uống cà phê thật.



Đặng Thiều Quang với công việc mình yêu thích tại Cà-phê Quang

* Mải mê với cà phê, nhiều người tưởng anh “bẻ bút” rồi. Nhưng lại đùng một cái anh cho ra mắt “Săn cá thần”, giống như cái thời “Chờ tuyết rơi”, cũng là vắng bóng vài năm trên văn đàn rồi trở lại. Con đường văn chương với anh thật nhiều gián đoạn? Anh cũng đang đi chậm hơn so với những tên tuổi nhà văn nổi cùng thời với mình?

- Tôi cảm nhận rõ bước đi chậm ấy. Lẽ ra tôi đã có thể nhận được sự hưởng ứng tốt hơn từ phía công chúng. Nhưng tôi cũng không quá buồn, hãy cứ viết hay đi thì lúc nào anh cũng có độc giả. Cảm giác tủi thân chỉ thoáng qua với tôi thôi. Tôi cho rằng nếu đã tự ti thì hãy bẻ bút, đập bàn phím. Còn đã là người viết văn thì hãy cứ tự tin. Mình đã định viết ra cái gì thì phải nghĩ mình viết hay nhất.

Trong khoảng thời gian gần 20 năm kể từ khi tôi ra trường, tôi có làm cái này, cái khác nhưng các câu chuyện vẫn sống trong đầu. Những trải nghiệm thực tế đã tác động vào các câu chuyện ở trong tiềm thức một cách vô thức mà đến tôi cũng không ngờ. Như khi tôi viết “Săn cá thần”, suốt 4 năm có lúc tôi viết, bỏ dở nửa năm, lại viết. Nhưng những trải nghiệm trong thời gian đó, như khi làm quản lý câu lạc bộ bia đã cho tôi chất liệu để viết tiếp. Và bạn thấy, thế giới cờ bạc hiện luôn trong tác phẩm. Nó quyện với câu chuyện nhưng cũng là một ngoại cảnh tác động đến câu chuyện. Tuy rằng có lúc tôi không đặt bút viết nhưng mọi thứ vẫn cứ diễn tiến trong đầu, vẫn cứ tưởng tượng các nhân vật sẽ hành xử ra sao, và nó đeo đẳng như một món nợ phải trả, cho tới khi tôi đặt bút viết ra.

* Thông thường khi viết mà bị bỏ dở như thế sẽ rất dẫn tới chán nản. Anh làm thế nào để có thể duy trì đam mê với một câu chuyện?

- Thực ra chỉ cần đặt bút hay ngồi bên máy tính gõ phím một lúc thôi là mạch câu chuyện sẽ quay trở lại, cảm hứng viết lại dâng trào. Lúc ấy, tôi gần như thoát ly với hiện tại để sống trong câu chuyện. Tất nhiên cũng một phần là nhờ vào cà phê. Nhiều câu chuyện được tôi viết ở quán cà phê mà!

* Bây giờ các nhà văn trẻ có xu hướng viết truyện ngắn nhiều hơn, nhanh mà dễ bán. Còn anh thì vài ba năm mới ra mắt một cuốn, lại toàn chọn tiểu thuyết?

- Ngay từ hồi năm 1994, sau khi đặt bút chấm hết bản thảo cuốn “Hoen gỉ”, tôi đã biết rằng chỉ có tiểu thuyết mới làm mình cảm thấy thoải mái nhất, phê nhất, thỏa chí nhất. Còn truyện ngắn chỉ là những tứ, ý tưởng ngắn, giống như một lát cắt của cuộc sống, một bức ảnh chụp mà với nó không có gì nhiều để phô diễn, ngoài khả năng nắm bắt khoảnh khắc. Trong khi tiểu thuyết giống như một bộ phim. Với tiểu thuyết, nhà văn có tha hồ đất diễn, còn chất lượng tới đâu lại phụ thuộc nội lực và khả năng của nhà văn.

Còn nói về tính thương mại, có mấy truyện ngắn được dựng thành phim đâu. Có chăng vừa rồi cũng chỉ có “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của Đỗ Bích Thúy. Còn nếu một cuốn tiểu thuyết tốt, như bộ Harry Potter chẳng hạn, không gì lại được với nó về tính thương mại. Thế nên chưa biết mèo nào cắn mỉu nào. Một cuốn tiểu thuyết có thể đủ ăn cả đời với một nhà văn.

* Mấy năm mới ra một cuốn sách như thế, anh có sợ độc giả quên mình?

- Độc giả đúng là sẽ quên mất. Nhiều người không biết Đặng Thiều Quang là ai khi nhắc đến “Săn cá thần”. Nhưng đối tượng độc giả tôi muốn hướng đến là độc giả lý tưởng, họ có sự uyên bác, đồng cảm với nhân vật, yêu mến nhân vật bởi đó là sự hình dung của người viết. Tất nhiên qua nhân vật, qua câu chuyện, độc giả sẽ có những mường tượng về nhà văn. Tôi muốn có được những độc giả như vậy chứ không phải những người đọc chỉ mong chờ một câu chuyện nhạt nhẽo, tầm thường.

* Nhưng những người nhớ đến anh vẫn cho rằng thời đỉnh cao của anh là thời Hoa học trò?

- Nói thật bây giờ nghĩ lại thời đó tôi lại thấy ngượng. Đó chỉ là giai đoạn tôi tập viết văn mà thôi. Ngay cả tiểu thuyết “Hoen gỉ” cũng chỉ là giai đoạn tập viết tiểu thuyết. Sau giai đoạn đó, nhà văn là tôi trót mê tiểu thuyết và thấy rằng đây mới là địa hạt để thỏa chí vẫy cùng. Trong tiểu thuyết, tôi mới thể hiện chính mình với những gì sục sôi, ẩn chứa những giấc mơ, sự phiêu lưu, mạo hiểm và tự tìm đường đi. Nếu cứ đi mãi một con đường mòn thì sẽ chẳng còn gì thú vị. Khi viết tiểu thuyết, là lúc bạn bắt đầu một cuộc phiêu lưu, có thể 5, 10 năm chưa hoàn thành nhưng đã trót đẻ ra nhân vật thì buộc phải đi tiếp. Nếu không muốn viết thì mọi thứ vẫn cứ sống trong đầu.

* Vừa là nhà văn, viết truyện, lại vừa kinh doanh cà phê. Vậy anh định xây dựng thương hiệu một nhà văn hay thương hiệu cà phê Quang?

- Chắc là cả hai (cười). Viết văn là cái không thể từ bỏ. Nó giống như giấc mơ không thể ngăn được. Người viết chỉ đang kể lại các giấc mơ, các giấc mơ cứ tiếp diễn không thể ngăn cản được. Có thể nó là cơn ác mộng chữ nghĩa nhưng cũng không thể bỏ được.

* Xin cảm ơn anh. Chúc anh thành công với cả hai niềm đam mê của mình!

Khánh Nguyên

Nguồn: Toquoc

Nhà thơ Bình Nguyên Trang: Quyết “liều” với văn xuôi

Nhà thơ Bình Nguyên Trang:  Quyết “liều” với văn xuôi

Bình Nguyên Trang cầm bút đã hơn 20 năm, hiện công tác tại Báo Công an nhân dân và vừa được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, thuộc nhóm hội viên trẻ nhất. Nổi tiếng với thơ nhưng chính văn xuôi "đưa" chị gia nhập hàng ngũ gần 1.000 hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhà thơ Bình Nguyên Trang có cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Hà Nội mới.

- Trở thành hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam, hẳn là chị có điều muốn sẻ chia cùng bạn đọc?

- Cầm bút đã hơn 20 năm, chưa quá dài nhưng cũng không còn là “thuở ban đầu” nữa. Tự thấy mình đã ở vào thời điểm cảm nhận được rõ ràng rằng, là một người viết thì việc quan trọng đầu tiên và sau cùng vẫn là viết. Trở thành hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam thì cũng vui, vì ít nhiều mình đã được ghi nhận ở một tổ chức nghề nghiệp lớn nhất của văn giới trong nước. Một cái cớ để tự nhìn lại con đường mình đi, ý thức rõ hơn về trách nhiệm của một người viết chuyên nghiệp. Một sự chuyên nghiệp được đo bằng nỗ lực lao động, bằng cách sống, nghĩ và viết dài hơi, bớt đi những ồn ào đôi khi rất không hay cho công việc sáng tạo. Vào hội cũng là dịp để giao lưu, học hỏi từ các thế hệ đi trước. Dù vậy, rõ ràng viết là một công việc cá nhân, mình đối diện với mình, không có gì thay thế điều đó cả. Có nhà văn chúc tôi thành hội viên rồi thì đừng “chấm hết” như một số nhà văn khác. Đó là một lời nhắc nhở sâu sắc, rằng nhà văn không quan trọng ở danh xưng, mà ở sức lao động.

Ảnh: VHTT



- Nhiều người Bất ngờ khi thấy chị nộp đơn vào hội qua Ban văn xuôi chứ không phải thơ, lĩnh vực vốn là thế mạnh của chị?

- Thật ra, văn xuôi đã đồng hành cùng tôi ngay từ những ngày đầu cầm bút. Một trong những giải thưởng văn học đầu tiên của tôi là giải nhất truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh của Báo Tiền phong (năm 1997). Tham gia “Hội bút Hương đầu mùa” của Báo Hoa học trò, ngoài thơ, tôi còn viết nhiều truyện ngắn. Tôi xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên từ năm 2000. Sau này, khi làm báo, tôi viết ký và tiếp tục với văn xuôi một cách lặng lẽ. Bạn đọc biết đến tôi qua thơ nhiều hơn, nhưng với hai tập truyện ngắn và hai tập ký chân dung, những thành quả văn xuôi ban đầu của bản thân, tôi tự nghĩ sao mình không liều thử sức ở mảng này...

- Hiện tại, trang facebook của chị vẫn tràn ngập thơ cùng rất nhiều “fan”. Chị nghĩ gì về quan hệ hai chiều giữa mạng xã hội và người viết hôm nay?

- Lâu nay thơ in ra không bán được. Nhưng vấn đề là bạn đọc có quay lưng lại với thơ không? Tôi tin là không. Qua mạng xã hội, tôi được gặp gỡ trực tiếp với bạn đọc thực sự quan tâm đến thơ. Họ cho tôi cảm nhận rõ hơn về sự cần thiết của thơ với đời sống. Chính họ là một phần cảm hứng, động lực để tôi tiếp tục viết.

- Liệu nó có “ảo” quá không?

- Cảm xúc mà chúng ta có từ cái “ảo” đôi khi lại quá thật, thật hơn cả trong đời thường. Bạn đọc đến trang của tôi, dừng lại đọc và chia sẻ, cho tôi cơ hội trò chuyện với họ, đấy là thật, không hề ảo.

Còn nói chung, trong đời sống, đôi khi ở một vài hoàn cảnh nào đó, giấc mơ là điều cuối cùng còn lại trong ta. Một đời sống cân bằng là một đời sống hiện tại mà lại cũng cao hơn hiện tại. Nếu không thế, người cầm bút không thể viết hay. Và một tác phẩm hay phải là tác phẩm có khả năng nuôi nấng, bồi đắp đời sống tinh thần ấy cho bạn đọc...

- Có cảm giác nhờ thế mà Bình Nguyên Trang đang tràn đầy năng lượng sáng tạo, giống như “những tháng ba mùa hoa gạo” thuở nào?

- Tôi đã viết hơn 20 năm qua, đã đi qua chính mình ở nhiều thời điểm, đã thu lượm không ít nỗi vui buồn thất vọng qua nghề viết. Giờ thì tôi tự thấy mình đã biết yêu những điều giản dị trong đời sống xung quanh. Và một cách tự nhiên, tôi nhận biết văn học là con đường tôi sẽ đi tiếp.

- Xin cảm ơn nhà thơ Bình Nguyên Trang!

Thi Thi thực hiện

Hà nội mới


Truyện ngắn Cao Nguyệt Nguyên

Truyện ngắn Cao Nguyệt Nguyên

Tác giả Cao Nguyệt Nguyên sinh năm 1990 tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tốt nghiệp khoa Văn học trường ĐH KHXH&NV HN, hiện đang sống và làm việc tại Hà Nội. Chị đã có một số tác phẩm đăng trên các báo, tạp chí: Văn nghệ; Văn nghệ Trẻ; Tạp chí VNQĐ; Tạp chí Nhà văn… VanVN.Net trân trọng giới thiệu hai truyện ngắn của Cao Nguyệt Nguyên.

Tác giả Cao Nguyệt Nguyên

MÙA QUỶ HÀNH

Những tiếng lịch kịch ở trong buồng vọng ra làm hắn thấy bứt rứt khó chịu. Hơi thở như muốn nén lại dè dặt hơn, thì tiếng giường nan kêu cót két lại lọt thỏm vào đêm nghe trống hoắc rền rĩ. Khoa vớ lấy chiếc chăn đã sờn quấn lên đầu, cố ngủ nhưng vẫn không nhắm mắt được. Bụng hầm hầm nóng, nóng cứ như là uống rượu, sờ xuống đũng quần đã ướt xâm xấp, quẹt ngang lên bức tường thành một vệt thẳng nhơn nhớt. Nhớ đến cảnh lũ gà trống đạp mái, một kiểu làm tình mềm mại. Hắn đưa bàn tay chai sần lên sờ sờ quanh cổ, rồi lên cằm, lên mặt, một cảm giác rờn rợn chạy dọc sống lưng.

Những vết sẹo cũ chưa kịp lành thì vết mới đã bung ra, cái vết ở gần mang tai chắc là sâu nhất, thủng hẳn một lỗ. Đôi hai bàn tay úp lên khuôn mặt, gió từ đông, tây, nam, bắc ở đâu chẳng biết đã luồn vào trong cửa sổ, mùi gió nồng nồng chắc là sắp mưa. Những mảng thịt trên người bắt đầu ngứa âm ỉ. Hắn sợ mùa mưa giống như người ta sợ đói. Mùa mưa, hắn sẽ biến thành quỷ, trong các loài quỷ thì chắc người ta sẽ xếp hắn vào loại quỷ hiền vì quỷ chỉ có khuôn mặt đáng sợ chứ chưa ăn thịt ai bao giờ. Nhớ lại những đêm mưa rừng xối xả, đất như lở dưới chân nhưng quỷ vẫn lao vào rừng, vào khoảng không vô tận để gào thét. Máu chảy theo mưa gội gột hết trên khuôn mặt khó gọi tên cho được.

- Này, anh gì ơi. Đứa con gái nghịch nước ở chân suối Mèng Đeng, có nụ cười tươi như hoa dẻ vàng ấy bắt chuyện.

Hắn không quay đầu lại, nhưng bước chân lần chần khi nghe tiếng nói trong vắt từ phía sau cất lên.

- Sao mà cứ trùm cái mũ kín bưng như là ngáo ộp thế?

À, thì ra không phải là gái làng mình rồi. Đàn bà con gái làng Sông Khoai này có ai mà không biết thằng Khoa mặt quỷ đâu, ai mà không chạy bán sống bán chết khi nhìn thấy dáng hắn vác củi ngang qua đèo Bẩy. Hắn quay đầu lại nhìn.

- Hỏi gì?

Giọng rè rè, ngạc nhiên với chính giọng nói của mình. Có lẽ lâu quá không nói chuyện, cũng may là hắn không quên mất tiếng nói, dù rằng bây giờ thứ tiếng không còn giống tiếng người là mấy. Thế mà đứa con gái xinh kia vẫn cứ cười tươi như không biết sợ là gì.

- Có biết ở đâu có củ mài không? Chỉ cho tôi với.

- Kia.

Hắn đưa tay chỉ lên đỉnh núi con Rếp rồi rảo bước. Phải đi thôi. Hắn tự nhủ lòng thế mặc dù vẫn còn muốn nhìn đứa con gái làng xa kia. Hắn rẽ vào một con đường mòn tắt qua hốc khe Chàm rồi lặng im trong bối cây. Tiếng sáo trôi trên sương, lách qua những cánh dẻ vàng. Dìu dặt. Đứa con gái lần theo tiếng sáo, bầu ngực đẫy đà khuất sau làn áo mỏng đã bị lớp sương đêm trên tán lá rừng ướt nhẹt dính sát vào người. Hắn thấy ruột gan cồn cào khó tả…

"Choang." Hắn nghiêng người, gác một chân lên bậc cửa sổ thì chạm phải cái cốc mỏng ở trên đó. Âm thanh trong nhà im bặt. Gương mặt đứa con gái vụt biến mất… Hắn trở dậy xỏ dép đi ra ngoài. Hắn đi đâu? Chẳng biết, cứ đi, đôi chân đưa đi đâu thì hắn sẽ đi đấy. Đôi chân không chịu sự chỉ đạo của cái đầu. Mà chắc là lâu rồi đã như thế, hắn đi một cách vô định.

Lấy cây sáo trên vách giắt vào cạp quần, bước ra ngoài. Đôi lúc hắn mong đôi chân bước sai nhịp, vào chỗ đất lở ven triền núi. Đấy là lúc hắn mong chờ cái chết đến. Bây giờ hắn đã không còn phải trói chặt chân tay khi cơn quỷ hành đến nữa, hắn đã tự tìm được cách chịu đau tốt nhất cho mình.

Lặng im.

Tiếng rừng gọi. Xa, nhưng mà quen thuộc hơn tiếng gà gáy té tát trong làng. Biết đâu rừng mới là nhà của hắn. Hắn đã đủ lớn để biết sự xuất hiện của hắn trên cuộc đời này là khổ. Mẹ hắn cứ phải cố dành cho hắn những nụ cười chắt chiu, tươi tỉnh trước mặt, nhưng đêm nào cũng lén khóc dưới bếp.

Nỗi đau của một người đàn bà đẻ ra quỷ.

Người đàn bà mỗi lần ra ngoài phải sập cái nón xuống ngang mặt, lấm lút đi sớm về tối. Tất cả họ hàng đã không còn tới nhà này từ mấy năm nay rồi. Căn nhà dưới chân đồi cứ trống hoe, tiêu điều đến lạ. Mệt, chẳng muốn nghĩ nữa. Chân đã đến con suối. Nước lạnh. Hắn ngồi trên tảng đá mài. Đội cái mũ lên đầu. Mùi thơm thoang thoảng, xộc qua lần vải thô dầy đi vào cánh mũi. Mùi thơm vấn vít đu đưa trong đầu, cảm giác mê man rợn ngợp. Tiếng nước tí tách từ trên lá rơi xuống nhẹ như có một bàn tay thon mềm đang rẽ lối đi xuống. Không quá hồi hộp nhưng hắn thích cái cảm giác mới lạ này.

- Đợi lâu chưa?

Hắn giật mình. Là đứa con gái đẹp. Trời còn tối. Đứa con gái đến gần hơn, nhìn không rõ. Mờ ảo, như có một lớp sương bao phủ quanh tấm thân con gái.

- Sao đi giờ này?

Hắn cố gắng cất tiếng dài hơn mọi khi, giống tiếng người hơn.

- Đi lấy củ mài.

Hắn chỉ tay lên dãy núi con Rếp. Đôi mắt lặng ngắt, hơi núi phả xuống. Đứa con gái lội nước, không phát ra tiếng động, đi theo hướng hắn chỉ.

- Hượm cái.

Đứa con gái hình như mỉm cười.

- Sớm. Ngồi đây đã.

Sao hôm nay hắn lạ thế, tự nhiên nói có duyên, có ý tứ, vội vàng cụp đôi mắt xuống. Đứa con gái không nói gì, ngồi xuống hòn đá. Gần lắm nhưng không nhìn thấy rõ, dù đôi mắt hắn đã quen với đêm. Nhìn đêm như ban ngày thì cũng không nhìn thấy rõ được. Mùi thơm thoang thoảng vấn vít trong sương…

- Này.

Hắn ngắt một bông hoa dẻ đưa cho đứa con gái. Đứa con gái nhận lấy rồi đưa lên ngang mặt xoay xoay thành hình tròn giống như cái đèn lồng nhỏ tý.

Hắn đưa cây sáo lên miệng. Lãng đãng. Ngập ngừng. Mỏng và thanh giống như tiếng bước chân rất lướt nhẹ trên mặt nước. Giống như tiếng chim rừng vỗ cánh vút thẳng lên bầu trời còn sâm sẩm tối. Mơ hồ. Huyễn hoặc. Tiếng sáo vờn quanh, đoạn trùng xuống như sắp sửa nuốt trọn làn môi hồng thì lại tan ra. Lạc lõng. Tiếng sáo chạy theo vòng xoáy của những cánh hoa dẻ. Những cánh dẻ rơi chầm chậm. Máu tứa…

Tiếng người đi lấy măng rừng đã vang đâu đây rất gần. Bật dậy, một cảm giác mơ hồ. Hắn nhìn quanh quẩn. Đứa con gái đã đi từ lúc nào chẳng biết. Trên tảng đá vẫn còn bông hoa dẻ vàng sọng thơm lừng. Lớt phớt những hạt mưa bụi, không phải là mưa đá rào rạt. Mưa tháng Bẩy lêu rêu mà ướt át đến bực mình. Hắn về nhà. Cuối cùng thì cũng phải về nhà, đi đâu được. Nhà kia rồi, lửa đã nhen ấm bếp. Qua mùi khói nồng nồng hắn có thể phân biệt được món ăn, canh cà chua. Thì vẫn vậy, ngày nào hắn cũng quen nhìn thấy cái bát chiêu sứt miệng sóng sánh. Vàng suộm. Nao lòng…

Đến ngõ, trong nhà vẫn yên, bố đang ngồi đan giậm ở mé hiên, mẹ hắn đang lúi húi nấu cơm dưới bếp. Chẳng ai biết hắn đi từ nửa đêm, hoặc là đã quen rồi. Mẹ quay đầu ra mỉm cười với hắn. Tháo chiếc mũ sụp, mặt rơm rớm máu. Vành tay áo quệt vội.

Dạo này hắn nhận thấy một sự hoang hoải chán chường của chính mình. Hắn đang chờ đợi điều gì đó xảy ra. Ăn ít hơn, hay ngồi ngóng gió rồi rít lên những tiếng gầm gào nho nhỏ trong cổ họng. Bắt đầu từ cái ngày ông Lùng uống rượu say dưới quán nhà Tư Béo, say đến mức chết vật dưới sàn nhà, thổ ra mật xanh mật đỏ. Người ta bảo phải gọi thằng Khoa xuống mà cõng bố về chứ mẹ hắn không dìu nổi. Những tiếng xì xào, tiếng cười khúc khích, tiếng trẻ con đùn đẩy nhau với ánh mắt sợ xanh lét lần lượt chui vào trong tai rồi cứ ở yên đấy không ra được. Hắn cõng bố trên lưng, miệng ông Lùng lều phều những câu không nghe rõ. Mẹ hắn đi phía sau, đầu hơi cúi xuống, âm thầm gạt nước mắt, tay còn cầm đôi dép đã gần đứt của chồng.

Ăn ít, ngủ ít, đợt mưa này máu sẽ theo những luồng tay cào cấu mà trào ra hết. Hắn sẽ chết. Chết một cách chính thức cả ở thể xác lẫn tâm can, sẽ nhẹ nhàng hơn nếu người ta chỉ chết ở thể xác. Hắn muốn quên tất cả mọi chuyện, muốn giải thoát cho tất cả những ai đang khổ vì hắn.

Mưng mức.

Hắn nghĩ đến mong muốn cuối cùng. Làm sao mà  khuôn mặt trở thành mặt người được? Những âm thanh hỗn tạp mà bấy nhiêu ngày qua đọng lại trong tai hắn giờ đồng loạt vọng ra. Tiếng thét thất thanh của mấy đứa gái làng khi nhìn thấy hắn ở chân dốc, tiếng trẻ con ré lên, tiếng khóc tức tưởi hoà chung với tiếng gió thốc lên đập vào vách núi mỗi đêm, tiếng gào như cứa rách không gian khi hắn bị quỷ hành... Tất cả buốt nhói, mệt mỏi. Hắn ôm đầu quằn quại. Một âm thanh nho nhỏ lách ra từ hỗn tạp âm thanh ấy. Đúng rồi. Đấy là tiếng lịch kịch từ buồng trong vọng ra, mỗi lúc một rõ hơn, vừa rền vừa nhẹ.

Hắn cũng muốn làm ra cái âm thanh ấy. Hắn luồn tay vào trong quần. Mọi thứ vẫn ổn, có nghĩa hắn vẫn là đàn ông, là giống đực đích thực. Hắn chỉ khác những thằng đàn ông khác ở khuôn mặt thôi. Một lần cũng được, có ai giúp hắn không?

- Này.

Hắn giật mình.

- Hôm nào cũng xuống suối à?

Bàn chân hắn vừa chạm xuống nước thì tiếng nói trong trẻo ấy cất lên. Hắn nhìn quanh. Đứa con gái đẹp lẫn trong sương đang tắm. Hắn chững người lại, định quay đi.

- Không thích xem đàn bà tắm à?

Đứa con gái cười.

- Thích...

Hắn ngập ngừng.

- Thì ngồi đấy mà xem.

Hắn ngồi xem thật. Bầu ngực đứa con gái nở ra trong làn khói, bồng bềnh như ảo như thực. Đôi bàn tay thon nhẹ vục nước, đôi bờ vai láng nước. Hắn nằm xuống tảng đá, luống cuống khi thấy mình ướt át. Đứa con gái cười thành tiếng. Kệ. Hắn vẫn nhìn. Đây rồi. Hắn lại thổi sáo. Cái bài mà đứa con gái vẫn thích. Một điệu nhạc không có đầu cũng không có cuối vừa trầm uất lại vừa thanh mảnh…

- Thằng Khoa quỷ làm gì ở đây nhỉ? Lần nào đi cũng gặp.

Tiếng những người đàn ông ồ ồ cất lên. Một cái chớp mắt. Hắn không nhìn thấy gì nữa. Mùi con gái vẫn còn đây, ướt át…

- Nhìn nó kìa, còn nằm đấy mà phủ hoa dẻ lên người. Bệnh quá.

- Không bệnh thì đã chẳng là quỷ. Mà cẩn thận, lội qua chỗ nó bị lây thì chết.

Hắn nhìn xuống thân mình. Những cánh hoa dẻ vàng rắc dày trên người. Bộ quần áo của hắn đâu? Ai lột hết ra thế này? Hắn xấu hổ vơ vội đống quần áo chạy biến vào rừng.

Cái chuyện thằng Khoa quỷ trần truồng nằm bên bờ suối được cả làng biết. Một đồn mười, mười đồn trăm, cứ thế người ta bàn tán. Đừng có mà đi đêm đi hôm qua suối, gặp thằng Khoa quỷ thì tàn một đời, rồi cái mặt của nó mà vờn vào đâu thì ngứa rách thịt ra ở đấy. Người làng đã sợ hắn nay còn sợ hơn.

- Mày đừng có làm thế?

Ông Lùng vục đầu bên chiếc phản gỗ, mùi rượu bay khắp phòng. Đôi mắt đờ đẫn của ông nhìn thằng con tội nghiệp. Cái nhìn vừa có sự hằn học giận dữ, vừa thương.

- Thôi ông.

Bà Lùng can. Mắt đã lưng lưng nước.

Hắn chán rồi, hắn chán nhìn thấy nước mắt lúc nào cũng chực trào ra trong đôi mắt nâu buồn thăm thẳm ấy. Hắn ngồi trong góc nhà, tay khoanh trên gối. Khuôn mặt đã bị khuất lấp hết, chỉ còn nhìn thấy một đôi mắt gần như đã tê dại.

- Phải nói cho nó biết. Có thế nào cũng đừng có làm hại người ta. Có...là quỷ thì cũng không...

Ông Lùng chao chao chén rượu.

- Đã biết con nó làm gì đâu mà chửi nó.

- Người ta nói đấy thôi, người ta nói ầm lên đấy. Rằng...nó trần truồng dưới suối, chờ đàn bà đi qua, nó hái hoa dẻ phủ lên người.

- Thì làm sao?

Bà Lùng khóc.

- Thì cấm.

Ông Lùng nhìn thằng con, giận dữ.

- Từ mai. Cấm đi ra khỏi cửa.

Cấm đoán chẳng có tác dụng gì. Hắn vẫn đi vào lúc nửa đêm. Vẫn ngồi bên suối, mơ màng hái hoa dẻ. Đứa con gái đẹp kia giống như một liều thuốc làm cho hắn đê mê, mệt rã rời đấy nhưng mà thích.

Tiếng vặn thừng kêu cót két, ông Lùng đã chuẩn bị sẵn mấy sợi dây ở ngoài thềm. Vừa thấy dáng hắn về ông đã cười, nụ cười méo xệch. Chẳng cần phải dùng sức, mà cuối cùng thì hắn cũng không thể dùng sức để vằng lại bố mẹ mình được. Khi ông Lùng dồn hết sức túm chặt tay hắn để tròng vào đầu dây thì thấy giật mình vì tay hắn mềm nhũn như bún vậy. Ông Lùng vừa thiết chặt tay con vào sợi dây vừa khóc nức nở. Khuôn mặt méo mó đau đớn. Hắn không khóc, không gào, mà lặng lẽ kéo sợi dây vào trong xó nhà ngồi. Đầu cúi xuống nhẫn nhục, chịu đựng như một con chó biết mình sai. Căn nhà lặng như ngôi nhà chết.

Một ngày, hai ngày... Đủ để hắn biết trong căn nhà chết này chuẩn bị có sự hiện diện của một sinh linh mới. Hắn thấy trống rỗng nhiều hơn là hy vọng, hắn sợ nhìn vào cái bụng lùm lùm của mẹ. Hắn nghiêm khắc với ánh mắt của chính mình. Biết đầu đôi mắt hắn lại ám ảnh bào thai đang được hình thành kia. Đã đến lúc hắn chuẩn bị ra đi rồi, đáng lẽ hắn nên mừng mới phải. Hắn từ chối thức ăn và nước uống. Đôi môi hơi dày bợt hẳn ra, khô nẻ, những vết sẹo ngang dọc tím tái dần trở lại. Hắn cảm thấy cái chết đang đến dần. Cái chết xâm lấn từ đôi tay rã rời, đôi chân tê dại, khuôn mặt, cái bụng, rồi cả chỗ đàn ông của hắn nữa. Mệt mỏi, không còn nghĩ đến cặp vú thây lẩy của đứa con gái đẹp đấy nữa, chỉ có mùi hoa dẻ từ suối bay vào làm hắn nhớ…

Mà đứa con gái ấy có mùi thơm của hoa dẻ, thế thì mùi thơm kia là mùi của hoa hay là mùi của đứa con gái? Cây sáo vẫn trên vách nhà. Hắn rướn người, giằng sợi dây thừng để với lấy. Hắn đưa cây sáo lên miệng, những ngón tay cử động khó nhọc. Tiếng sáo như gọi về một nơi xa xăm. Vô vọng nhưng không oán trách hay thù hận. Chỉ là tiếng lạc loài nửa muốn níu kéo nửa buông xuôi. Ôi chao! Sao đầu hắn đau thế này. Hắn lim dim mắt. Tiếng lịch kịch vang vọng đâu đây chen lẫn vào tiếng sáo và có phần lấn át hơn…

Hắn lùi sâu vào góc tường. Tiếng gọi trong trẻo rất gần, đuổi theo hắn. Hắn hướng đôi mắt nhìn ra khe cửa sổ bé tí xuống suối. Đứa con gái đã nghe thấy tiếng sáo của hắn? Thấy mùi thơm thoang thoảng của đứa con gái vương trên áo mình. Chết mất. Hắn không chịu nổi nữa, nằm lăn ra đất. Mắt hắn đờ dại, miệng há hốc. Tiếng lịch kịch...

Hắn giật đứt sợi dây.

Bờ suối vắng hoe, một chút sương sớm vẫn còn vương trên làn nước. Một vài bông hoa dẻ đã bắt đầu tàn, cánh hoa trôi theo làn nước.

- Có ai không?

Hắn cất giọng rè rè, vẻ run sợ. Có tiếng cười rất khẽ từ trong bối cây dẻ. Hắn bò đến gần, lật mấy tấm lá.

- Có ai không?

Tiếng nước chảy róc rách.

- Ở đâu có củ mài...

Hắn giật mình quay lại. Là đứa con gái đẹp có mùi hoa dẻ. Hắn luống cuống lấy chiếc mũ định ụp lên đầu, nhưng bị đứa con gái giật lấy. Úp hai bàn tay che mặt. Đứa con gái rất gần nhưng lại rất xa. Hắn không nhìn rõ mặt.

- Đưa đây.

Hắn gào lên định giằng lấy cái mũ. Đứa con gái ném lên bầu trời còn sẫm. Cái mũ mất hút.

- Anh không cần phải che đâu, tôi biết mặt anh rồi. Cứ bỏ tay ra.

Hắn sững sờ buông đôi bàn tay ra.

- Tôi đến để giúp anh.

- Giúp gì?

- Thành một người đàn ông…

- Tôi là quỷ.

Tiếng đứa con gái rất nhẹ.

- Được mà.

Hắn không nói gì. Lặng lẽ đưa sáo lên miệng, đăm đăm nhìn vào làn nước lạnh hơi sương. Chua chát. Hoảng loạn. Tấm thân mềm của đứa con gái hiện dần trong sương, càng lúc càng rõ hơn. Gần hơn. Tiếng sáo xa vời, bay chạy. Bước chân của đứa con gái đến gần hơn chút nữa. Mông lung. Hắn nhắm mắt. Một giọt nước long lanh như sương tràn ra. Nghiêng một chút. Nước mắt chảy dọc sống mũi rớt vào cây sáo…

Những lớp rêu xanh mướt đã dầy thêm giờ mịn như một lớp đệm quý giá. Lần đầu tiên hắn tiếp xúc với cơ thể đàn bà, ngỡ ngàng khi cảm nhận thấy sự khác biệt rõ nét về giới tính. Hắn nhẹ nhàng, tỉ mỉ khi chạm vào làn da của đứa con gái. Lớp đệm nhung đã bị vày vò nát, đấy cũng là lúc hắn mệt nhoài. Hắn nằm vật ra, ngửa mặt lên trời bằng ánh mắt sung sướng. Đứa con gái chạy vào khóm cây dẻ. Hắn đuổi theo vòng tay qua eo đứa con gái. Vụt biến mất. Trong vòng tay hắn lúc này là một cây dẻ, với những bông hoa màu hơi tía.

- Lần này phải cố lên bà nhá.

Ông Lùng đứng ở ngoài hè, thỉnh thoảng lại thấp thỏm định bước vào trong buồng nhưng bà đỡ ngăn lại. Việc đàn bà con gái, ai lại thế. Thì thôi, ông đứng đấy vậy. Đôi bàn tay cứ đan vào nhau phát ra từng tiếng răng rắc. Ông chẳng hơi sức đâu mà nhòm ngó đến thằng con trai nữa. Hắn vẫn nằm đấy thôi, đi đâu được. Ối. Một tiếng thất thanh của mụ đỡ vọng ra. Bà Lùng nín bặt, không kêu được một hơi nào nữa.

- Sao lại thế này? Người hay...

Ông Lùng chạy vào giường vợ. Đứa trẻ còn đang dính dơm dớp. Cái rốn chưa kịp cắt. Chỉ có cái miệng nhóp nhép, nhóp nhép. Đứa bé gái, đúng là đứa bé gái thật. Ông Lùng vịn vào cây cột nhà để khỏi ngã. Chân tay bủn rủn như bị hút hết sức lực.

- Thế lại khổ rồi...

Chớp nhoáng. Ông Lùng sà đến chỗ đứa con, lấy khăn mặt ướt lau vết bẩn cho đứa con, nhẹ nhàng tỉ mẩn như lau chùi một vật quý báu.

- Bà đem chôn giúp tôi cuống rốn. Nhớ chôn thật sâu. Kẻo chó mèo nó tha mất, tội nghiệp.

Mụ đỡ tất tưởi đem nhau thai và núm rốn của đứa bé đi chôn, khuất sau chân dốc. Bà vợ ngất lịm vì mệt. Những giọt mồ hôi ướt đầm trên khuôn mặt. Đẻ ở cái tuổi này chẳng mấy người được vuông tròn. Con bé ngọ ngậy đôi bàn tay nhỏ xíu trong tấm tã, sẽ là đứa bé xinh đẹp nếu như không bị hư âm của mặt quỷ dính vào. Đôi mắt long lanh như hai giọt nước trong suốt được bao bọc bởi viền mi màu nâu nhạt, môi mỏng tang đỏ như cánh đào. Ông Lùng đưa bàn tay vuốt nhẹ lên đôi má không cân xứng của con bé, đặt lên đó một nụ hôn. Giọt nước mắt nóng vô tình rơi xuống. Đứa bé chóp chép nuốt giọt nước mắt mặn chát. Ông Lùng nhìn sang vợ rồi đưa bàn tay đen sần vì nắng lên khuôn mặt đứa trẻ, bỗng run bắn khi nghe thấy tiếng khóc của đứa trẻ vang lên.

- Bố xin lỗi! Con không thể sống được..

Đứa bé chớp chớp mắt.

- Nhắm mắt lại đi, xin con đấy… Đừng có nhìn như thế nữa.

Đứa bé nín bặt. Đôi mắt mờ dần…

Gió mạnh.

Gió từ đâu mà mạnh thế? Rát buốt cổ họng. Khô rát. Hắn đứng dậy, sợi dây giật ngược trở lại. Gầm lên nhưng tiếng gầm âm ỉ không thoát ra thành tiếng được. Đừng làm thế. Môi bầm chặt. Tứa máu. Nước mắt rơi trên má hoà vào những vết thương. Khóc.

- Đừng đầu thai vào nhà này nữa...

Ông Lùng quay mặt đi. Đôi bàn tay nhỏ xíu của đứa bé không còn động đậy nữa. Lặng im. Ông quay sang bức vách, chạm vào đôi mắt của thằng con trai. Rã rời. Ông chạy ra ngoài. Mưa trút. Nước hoà tan.

Bà Lùng bế đứa bé đi, thẫn thờ trên con đường mòn. Bóng tối đã ngập đầy. Chập choạng, nhạt nhoà.

Thôi. Ông tự về được. Con đường trước mặt quanh co, chao chao, ông đâm sầm vào bờ rào cây móc hùm. Gai cứa rách một bên má, rớm xót, không đau. Men rượu đã kìm nỗi đau xuống.

- Này. Đừng có theo tao nữa…

Đôi mắt ông già gằm xuống nhìn trừng trừng về phía sau.

- Đi mà đầu thai vào nhà khác…

Chạy cuống cuồng lên đèo Bẩy. Ngã chúi. Mặt quay nghiêng, ông chạm vào cái gì đó. Lấy tay che mặt. Rú lên một tiếng rồi lại chạy tiếp.

- Sao dưới kia đen thế nhỉ?

Khum tay che mắt. Tiếng cười man rợ cất lên. Bước hẫng. Chỉ còn tiếng gió từ dưới thung lũng hất lên rít qua những ngọn cây thông buốt lạnh…

Răng cắn đứt sợi dây thừng. Hắn lao ra ngoài bóng tối theo hướng mẹ hắn đi buổi chiều. Thảng thốt. Hắn ú ớ gọi tên. Nhỏ quá. Gió thổi dạt lại phía sau nghe giống tiếng rên. Không tìm thấy. Hắn lê bước chân đến con suối Mèng Đeng. Mưa bắt đầu rơi rào rạt. Suối vắng tanh, mùi hoa dẻ đã phai không còn đậm như trước nữa. Bóng dáng đứa con gái cũng đâu mất. Hắn đến bên cây dẻ có những bông hoa màu tía. Những cánh hoa tàn rơi xuống nước dập dềnh như những giọt máu.

- Có ai không?

Hắn gào lên. Lạnh buốt theo tiếng mưa, chết lặng trong mưa cùng tiếng sáo. Tuyệt vọng. Âm thanh đứt quãng. Rời rạc...ngứa. Hoa dẻ rơi phủ kín dòng suối. Hoa dẻ chết. Đã đến thời khắc ấy rồi. Da thịt như có bàn tay mân mê từ phía trong, rõ nét hơn. Hắn vục mặt xuống nước, vùng vẫy. Nước xộc lên những gợn máu đỏ au. Cây sáo lùng bùng trong nước, chìm, nổi. Những vết sẹo mới hình thành. Hắn chạy vào rừng sâu. Đã đến mùa quỷ hành…

HƯƠNG ĐÀN BÀ

Xanh biếc, vàng sậm. Giữa hai thứ màu rồ dại ấy bị ngăn đôi bởi những gợn mây trắng nhạt. Có bao giờ mềm thon đâm được thẳng xuống đất, xoá số hoàn toàn màu vàng sậm phía dưới kia. Cả cái màu mái tóc em còn chưa kịp nhuộm lại thành tóc đen con gái. Vậy là giữa em cũng bị ngăn đôi bởi một gợn mây.

Rờ rẫm đi giữa hai hàng cây. Em thấy mùi hoi nồng của đất. Miết chặt lấy da thịt đến cồn cào. Sau lần vải thô đã bạc màu, từng đốm tròn mịn sít chạm vào cánh tay. Nước không đủ để biến màu xanh ngắt của những trái cà phê cô lại bầm máu mà quắt đi khô như làn da, ánh mắt của người đàn bà trong lán.

- Về cơm...

Quay lưng trở lại. Âm thanh ấy cứ ngỡ được hắt ra từ một lồng ngực phè khói, nặng đến mức giơ tay có thể nắm được. Xoá tan hết thảy những dự định tươi mới trong đầu, đè bẹp xuống dưới ba tầng đất.

Rồi em thấy mình đi trong công viên khi chiều muộn với gương mặt bộp phấn...rữa dần dưới một cơn mưa. Bước chân giẫm nát không biết bao nhiêu bông điệp vàng trên phố. Có những thứ chẳng ghê gớm gì nhưng làm em sợ. Một tháng, cũng đủ để quen giường, lối đi, quen cả ánh mắt buồn rượi hơi xếch của người đàn bà cô độc mà em vẫn chưa dám nói. ''Thôi, đừng có gọi về cơm... nữa. Chiều muộn thì đánh ba tiếng kẻng là được''. Cứ để em làm theo phản xạ không điều kiện. Như người ta gọi gà về chuồng mỗi tối. Mà chẳng được. Giữa em và người đàn bà kia có một khoảng cách khó nói thành lời. Giống một quy ước ngầm mà cả hai đã mặc định. Không phải là vai bậc chủ tớ.

Người đàn bà bao giờ cũng ăn cơm trước, mâm bát sắp đặt ngay ngắn trên sập gỗ đã mốc thếch. Em bước vào nhà, mụ lỉnh ra phía búi duối. Rút chiếc áo cánh màu hạt điều với quần lụa nhau nhúm vào cái chậu nhôm. Em biết mụ ra suối tắm. Đi theo. Qua bãi cỏ gianh bên lũng mùa này nhiều rết bò qua. Em sợ.

Bước thấp, bước cao...

Em đi trên một bờ ruộng hai bên phát cỏ cụt lủn, chỉ còn một gờ mỏng tang...rùng rình, rùng rình. Gánh cỏ từ đồng về nhà, gánh cả ánh chiều nhợt nhạt, đôi má hồng con gái, ướt át chảy ròng. Em đang đi sau lưng thím. Thím bảo đi hết bờ đê sẽ lên đến phố, bước nhanh. Trao cho em cái túi và đón lấy bọc giấy từ tay người họ hàng xa. Em cười.

Phố với em là những ô phòng loáng kính trong suốt pha lê, có thể soi rõ nốt ruồi trên mi mắt. Lằng nhằng đến chóng mặt. Ô kín, tơ chăng mà đi vào đâu cũng sập. Phố ồn ào với váy ngắn. Em lặng thinh.

Theo sau những tấm lưng to bè mùi bia rượu. Vụt biến loáng kính. Hiện ra như một con bướm chỉ còn đôi cánh tả tơi. Em thánh thót.

Giờ, em đi sau lưng người đàn bà có cái mùi khét lựng. Cũng nhanh, vội như cái hôm mụ nhặt em từ dưới chợ huyện. Chẳng nói câu nào thế mà em vẫn theo.

Mụ bước xuống giữa lòng nông choèn, suối cạn trơ ra cái rốn lùng bùng rêu trơn nhẫy. Trút từng miếng vải thô kệch và ngâm mình dưới đó. Mắt lim dim. Em đứng, chân mút chặt... lòng đất âm âm.

- Sao không xuống?

Cuống cuồng vấp dúi đầu xuống tảng đá dầy rêu. Trước mắt em, gần lắm cái khoảng trắng loã lồ trong đêm tối. Nước dập dềnh. Bờ ngực cách nhau một ánh nhìn, chẳng ngượng ngập quay đi. Mắt mụ dạo chơi trên làn da em nhầy nhụa.

Nước mát lạnh lẫn vào tanh sạm của rêu. Khác với mùi tít xoè pha tạp cờ lo của phố. Một sự mát lành trong sạch đến kỳ diệu đang thấm thấu vào tận da thịt.

Em co rúm lại. Đôi mắt người đàn bà ánh lên một điều rất lạ. Mấy đứa bạn ngày xưa thường bảo em nói điêu, làm sao đọc được suy nghĩ người khác qua ánh mắt. Chậm thôi, em đã lọt vào cánh rừng âm u ấy. Không có lối đi và một lời chỉ dẫn, vòng quanh những gợn mờ mờ là dấu vết của tuyến lệ khô ran chẳng đủ ri rỉ đôi ba giọt.

Nồng thế.

Mắt chớp và đôi môi bợt bạt mím chặt. Mụ quẫy nước tách ra một đoạn. Má chợt ửng đỏ, sao mụ có thể ngửi thấy mùi ấy trên người em? Mũi thính nhạy hay cái giác quan vốn có của đàn bà.

Ngày đầu của mụ có giống em? Treo lơ thơ vài sợi chỉ, thấy đuối sức mà không rớt được xuống dưới đất. Mắt mở trừng cứ thấy rơi một màu nắng nhạt, vàng hơn... rượt theo những bông điệp vàng, xoạc chân rồi rú lên một tiếng. Chân chữ V. Ra con đĩ. Mụ ngấm ngầm nguyền rủa. Ừ, em cúi đầu. Tưởng mụ biết từ cái hôm chợ chiều dưới huyện, te tua núp dưới tấm bạt ố bẩn. Nhìn xoáy sâu vào cái đũng quần thẫm đỏ, mụ chỉ vào em. Giống như những lần trước người ta chỉ vào em ''đây'', chỉ khác là tay mụ không đeo nhẫn vàng quý giá, ngón trắng như sương mà cong gầy sậy.

Một số ít đàn ông ham mê vì sắc đẹp, đa số ham mê cái khe hẹp giữa chân đàn bà...

Tiếng cười rúc rích, quyện lẫn mùi bia và thuốc lá. Tàn cuộc, những đùi trắng ngần vật vờ giữa phố. Chẳng cần đẹp lắm. Bạn em bảo thế. Cứ... tràn vào giấc mơ, thêu thêu dệt dệt. Một sáng thức dậy, em không sải những bước mềm trên một đường thắng, chân toẽ ra hình chữ bát. Nhìn xuống một khoảng sâu vời vợi tuếch ra. Thân người em sẽ biến thành bức tượng bằng đồng giữa ngã tư thành phố, không rõ mặt, cũng không tên. Nhầm em với một liệt nữ ngày xưa, người ta cúi lạy. Chẳng phải. Không một gã đàn ông nào giơ tay chỉ vào em ''đây''.

Một ngày không mùi kẽm tiết ra từ thân thể đàn ông, em giả vờ giam mình chay tịnh trong phòng. Nhìn xuống đường, lố nhố những điều mông lung. Ngồi cạy gẩy cái vỉa sắt trong đáy lòng mình, lộn xộn những lời nhắn nhủ rồi cũng bung ra. ''Có đẻ thuê thì đẻ, không định kiếm một cục mà biến khỏi cái chốn bẩn tưởi này à?'' Mềm nhưng sắc lẹm không cứa vào lòng mà thấy xót xót là. Lạ thay cái câu nói đấy cứ lớn dần lên trong em như một cái cây. Chẳng biết ví von. Bây giờ mới là lúc quyết định hướng đi cho mình. Không cười, thánh thót mà cứ trơ trơ.

Nhắm mắt vào, một vạt nắng rơi...

Lần thứ hai thấy nó rơi trên đầu em, hẳn một vạt dài chốt cho lần cuối. Những bơi nhảy, giao hoà, tách ra, đọng lại, xoáy tròn...bao nhiêu thứ đó cuộn trào rồi chỉ có một, lạ lẫm.

Em là búp bê với cái bụng lùm lùm. Dù sao cũng thích cái cảm giác được đóng khung trong một cái hộp tiệt trùng. Chỉ thấy thèm thuốc lá và rượu cồn. ''Mất tiền thuê mày đẻ mà còn lén dùng những thứ này thì liệu hồn mà vác bụng về quê''. Không lén lút nữa, ngồi mân mê vòm bụng. Mới hai tháng mà nó đã đạp trong em. Đàn bà mang thai lần đầu bao giờ cũng cố ưỡn lùm bụng về phía trước để khoe thành tích, còn em hóp lại thật sâu muốn giấu đi nỗi ê chề.

Chẳng biết nó có thích những bản nhạc giao hưởng lớp lang, chỉ thấy tai em ù đi, buồn nôn chóng mặt. Em bảo cho em nghe nhạc cải lương, cái bĩu môi dài thườn thượt.

Tháng thứ ba, cánh cửa tiệt trùng mở bung. Chưa kịp ngửi thấy mùi cỏ xanh đầu hè ùa vào mũi, đã bị đưa lên một cái hộp khác màu đen bóng loáng. Mùi điều hoà chẳng dành cho những đứa nhà quê, chao chao vật vã. ''Đã bảo nhìn cái bụng sa sa kiểu này có mà vịt là cái chắc''. Người đàn bà có đôi môi đỏ chót đập bôm bốp cuốn sổ y bạ vào lòng bàn tay. Chiếc răng khểnh trắng ngà vốn như cười khẩy giờ được thể vén làn môi lên hết cỡ. Bốn ánh mắt cùng một lúc nhìn vào bụng em. Vội vàng đưa cái mê nón che nhưng chẳng kịp. Đứng dựa lưng vào cái cột điện lằng nhằng những dòng chữ, một cái hình trái tim bị mũi tên xuyên thủng. Cầu cứu đôi mắt dài hẹp một mí. Phớt lờ. ''Đây là bản hợp đồng đã thoả thuận từ trước, có dấu điểm chỉ đàng hoàng. Bây giờ con gái, chúng tôi chỉ trả chị hai triệu mà giải quyết.'' Xoay qua xoay lại những ký tự lằng nhằng, mắt hoa cà hoa muống. Lúc đó em ước mình ngày xưa được học hết lớp năm.

Bỏ mặc em quỳ giữa ngã ba đường với bản hợp đồng nhau nhúm. Chiếc xe vụt đi, khói, bụi phủ kín mặt và con đường phía trước. Thất thểu đi trên vỉa hè như một con rồ, chẳng buồn nhìn những xác hoa vàng dầy như thảm. Đi đâu về đâu? Câu hỏi ngân lên không thành lời.

Ở ga tàu em sa bụng, rút một sợi dài đứt ruột. Nước mắt vỡ oà chờ đợi cái khối hồng rời khỏi em. Cứ ngỡ mình bước được một chân qua miệng hố. Những cái máy liên hồi trong vòm bụng, rồi lặng im. Tiếng đường ray nghiến xèn xẹt, dật dờ nhìn sang gờ đất bên cạnh có một khóm hoa. Giá mà có ai suốt em như một cái lá vàng. Ướt sũng.

Đôi mắt người đàn bà có những vùng tối khó hiểu. Nghiêng nghiêng mà chẳng thể bước vào. Tức ngực. Vì nước hay cái nhìn đay nghiến kia. Dựa lưng vào một tảng đá, phơi bầu ngực căng tràn dưới trăng. Nơi có hai núm màu nâu thẫm. Không một gợn gió thoáng qua, chỉ chập chờn sáng tối của loài đom đóm. Dật dờ những ý nghĩ xa xôi. Em và đứa bé bay lên...mất hút vào đêm tối.

Nếu là một thiên thần...

Nó sẽ bay lên với đôi cánh trắng muốt, hoà vào nắng gió và tắm bằng những giọt sương. Đêm trở về bên em với một sợi dây màu hồng, mảnh nhưng sẽ chẳng bao giờ đứt. Bay lên cao rồi thỉnh thoảng sẽ sà xuống úp người trên bụng em, mút mát đôi chút nơi bầu sữa. Ở đó thích không? Nó gật đầu. Nước mắt em bật ra như mưa sau một ngày nắng hạn. Mừng hay tủi? Trong veo ngạc nhiên trước những giọt trên má. Em gạt vội, rồi vừa cười và nói với giọng thản nhiên. Cũng may mẹ đã để con ra đi. Là thiên thần thích hơn là con của mẹ. Sẽ được bay khắp trời như một cơn gió...không phải liếm lá đầu đường nếu một ngày mẹ ra đi. Đứa trẻ nhoẻn miệng cười như nắng. Nó làm em nhớ đến những vạt nắng rơi trên đầu. Phải chăng con của mẹ kết thành từ loài hoa ấy?

Nếu được sinh ra con sẽ thế nào? Đôi tai nhỏ và mềm vô tình áp lên trái tim khiến em ngừng đập. Nín thinh. Mẹ sẽ không để con sinh ra vì...mẹ thích con là một thiên thần bé nhỏ.

Đêm chộn rộn những nỗi niềm xếp nghiêng...xếp lệch.

Căn nhà lá được bao quanh bởi một màu đặc quánh, cái âm thanh ấy kéo dài giăng mắc ngập ngừng nơi thềm cửa. Hai mươi năm nữa bây giờ em sẽ là ai? Ngồi nghiêng, nghếch mặt lên trời cười khanh khách như người đàn bà kia hay thả mình xuống phố ồn ào. Hoa rơi dập dềnh từng cánh. Sắp hết mùa...gặp một người quen xa xôi trong quá khứ với tiếng hát say mèm giữa đêm. Lờ lợ tiếng mình. Dựa lưng vào tường, rệu rã. Cây gậy tròn cầm trong tay, đặt lên bụng, miết một đường dài. Cứ ngỡ em đang là phẳng đất giời làm một. Những hạt nắng cựa quậy, đau đớn.

- Đừng làm thế.

Cánh cửa buồng mở bung, mang theo màu trăng nhoe nhoét cắt thành vạt nhỏ chảy trên mái tóc người đàn bà. Đôi mắt khô đỏ au tiết từng giọt huyết xuống đôi gò má. Em nghẹn ứ. Bắt đầu lăn tròn trong vô thức. Lăn tròn những ký ức nhạt nhoà ngày xưa. Màu đỏ loang trong mắt em thành một dòng, cái ngày đầu tiên thành thiếu nữ. Vụng về nhai đọt chuối.

- Nếu như được làm mẹ...tôi sẽ giữ con tôi.

Buông cây gậy, em nức nở.

Ngoài trời, mưa bắt đầu lây rây từng sợi nhỏ. Mùi của đất và tiếng cựa mình của những trái cà phê hoà quyện thành vũ điệu huyền bí. Nhưng đêm nay sẽ không trở lại như cái đêm người đàn ông ấy bỏ đi. Mắt mụ vẫn nhìn đăm đăm ra phía con đường tối âm âm trước mặt. Mọi thứ không trở lại. Cái níu tay và giọt nước mắt của đàn bà...

Giấc mơ nổi trôi mang theo những thứ không thể đưa tay vớt lên được. Đã có lần em đi dưới cơn mưa hoa điệp, cả một khoảng trời vàng rực, từng cánh phủ trên tóc đen xoã từng búp sau lưng. Tung tăng giữa phố. Có mùa nào phố vắng hoe?

Bây giờ em đi giữa giọt trong veo lấp lánh trên vai theo khe ngực lùa vào mát lạnh. Bàn chân thu lại líu ríu. Không với được sợi mưa dài, ngã sấp người xuống đất. Bàn tay ai đỡ lấy em, rất mềm. Đôi môi lạnh đã nhợt nhạt vì mưa đặt lên ngực em một nụ hôn với cái mùi hoi nồng từ thân thể, lướt qua lùm bụng rồi dừng lại rất lâu giữa hai đùi. Tiếng cười cất lên giàn giụa... người đàn bà với cái nhìn khinh miệt bước từng bước, khẽ khàng cướp mất linh hồn em. Mắt nâu héo nhìn mưa.

Em ngồi trước hiên nhà, mặc kệ nước mưa ướt sậm. Âm thanh phía trong buồng vọng ra, chàng đang cố mở chiếc hòm gỗ có cái khoá bằng đồng mà em đang giữ. Loay hoay, đứng trước mặt, vẫn mùi mồ hôi nồng quen thuộc. Một bàn tay xoè ra trước mặt, em cúi đầu. Bàn tay lặng im xoè rộng. Em trao chiếc chìa khoá, cũng run y như ngày đầu được nhận nó. Chiếc khăn thêu đôi chim câu màu đỏ bị xé đôi, rớt xuống chân em chầm chậm. Mưa từng giọt thấm thành màu huyết. Đừng đi. Em sẽ có con. Chìm dần trong khoảng không lạc lõng, em biết sẽ chẳng thu lại được lời nói. Chàng nhìn cây cà phê không trái rồi cúi nhìn em, tia lạnh xuyên thấu đôi bàn tay. Bóng chàng khuất vào đêm, màu nâu cháy.

Những giọt khô cháy lòng. Em ngồi uống rượu khan bên cây cà phê không trái, lá xanh um hằn học giữa đất giời. Dăm ba chiếc lá in hình trên mặt, khoảng sáng tối lập loè. Mùi ngây ngây bùn non thoảng qua rồi đọng lại nơi sống mũi. Vày vò suốt một đêm ròng, không định hình và cũng không thể chối bỏ. Dựa lưng vào một người đàn bà, em thấy bờ vai mình khẽ run. Đôi bàn tay ướt át trải lên em một màu xanh biếc xoa dịu những khao khát tưởng như đã ngủ quên đang âm thầm trỗi dậy.

- Hãy cho tôi một đứa con.

Môi em mấp máy trong nỗi thổn thức phập phồng. Nằm hư hỏng giữa trời, khao khát những vòng tròn xoáy. Tiếng cười chua chát, người đàn bà xa lạ tan dần trước mắt. Chỉ còn thoang thoảng đâu đó mùi hương đàn bà ngai ngái. Từng giọt thưa đều nước mắt. Đuổi theo màu xanh trong vàng sậm, tiếng gió như tiếng khóc hờ vọng lên từ khe núi.

À ơi...

Mùa đông chợt qua ngôi nhà giá lạnh. Ngày hạnh phúc đã qua. Ôi! Cây lạnh se lòng vời vợi. Thoáng nỗi buồn quên lãng trước thời gian. Ôi! Đàn bà...Chẳng phải ai cũng có niềm vui và nỗi buồn của riêng ai.

Giấc mơ bỏ lửng khi cơn mưa vừa dứt.

Đặt tay lên bụng, những cái đạp vội vàng khiến tim em phập phồng. Nỗi tê tái và nụ cười héo hắt của em kết thành một điều thiêng liêng khó giải thích. Trước mắt con đường đất bazan như gần hơn. Em nghe thấy tiếng cựa mình của những mầm cỏ đang nhú lên rất nhẹ. Cái màu vàng rát rúa kia rồi đây sẽ được màu xanh trải thảm mềm tươi mát. Phút chốc khoảng trống trong em được lấp đầy bằng những điều rất thực, nhìn sang buồng bên người đàn bà cô độc đã trở dậy. Bước ra thềm đưa tay hứng những giọt nắng đầu tiên rơi mỏng mảnh. Ngỡ ngàng khi thấy ánh mắt người đàn bà đêm qua chẳng bộn bề chua xót, màu xanh và nắng xóa nhòa đi khoảng tối. Nụ cười gặp nhau trên gương mặt bị gam màu thời gian tô vẽ. Và đâu đó tiếng khóc trẻ con vút lên trong veo... sương sớm, đánh thức tất cả vạn vật trên thế gian đã ngủ quên. Báo hiệu một thiên thần sinh ra giữa cuộc đời.

 

Nguồn: vanvn.net

Dịch giả - nhà thơ Hoàng Thị Vinh: ‘Gọi thật to em sẽ nghe tiếng Việt’

Dịch giả - nhà thơ Hoàng Thị Vinh: ‘Gọi thật to em sẽ nghe tiếng Việt’

“Tôi luôn nghe thánh thót từ nơi sâu thẳm, xa thẳm và đẹp như cổ tích một bản nhạc mê đắm của sóng vỗ, chim hót, của tiếng hoa nở, trăng trôi, mặt trời buông nắng. Rồi một ngày tôi dũng cảm, không chỉ nhón chân nghe ngóng, ngại ngần mà dang rộng vòng tay đón nhận. Bầu trời lung linh huyền ảo, gương mặt quê hương - gương mặt thơ, tình yêu của tôi hiện dần và trái tim tôi cất lên tiếng hát”.

Đó là những lời chia sẻ của dịch giả, nhà thơ, TS ngôn ngữ Hoàng Thị Vinh khi chị vừa về Hà Nội dự một hội thảo về giáo dục. Hoàng Thị Vinh sinh năm 1968 tại Hưng Tân, Hưng Nguyên - Nghệ An, hiện đang sống tại San Francisco (Mỹ). Hoàng Thị Vinh đã có một gia tài nhỏ là ba tập thơ Mưa hoa, Đóa hoa xuyên tuyết Mây hoa.


Dịch giả - nhà thơ Hoàng Thị Vinh


Mỗi bài thơ, một cánh hoa

TS Hoàng Thị Vinh nguyên là sinh viên lớp FN285, khoa tiếng Nga, ĐH Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội). Mỗi lần về Hà Nội, những ký ức về tình bạn, tình yêu của một thời sinh viên ngoại ngữ đầy cực nhọc nhưng tươi vui và đắm mê luôn làm chị thổn thức, nhung nhớ. Đó là những ngày khi nghe ca sĩ Ái Vân hát Triệu đoá hồng (nhạc Raymond Pauls - Liên Xô) trong Tuần Văn hóa Việt Nam năm 1985 tại Moscow. Rồi ký túc xá Đại học Ngoại ngữ những năm 85 -90, nơi đó chiều thứ Bảy nào hầu như cũng vang lên bản nhạc Triệu đoá hồng. Cô sinh viên nào cũng điệu đà hơn khi bỗng dưng "Tặng một đại dương hoa hồng thắm, cho nàng ca sỹ anh yêu thầm ...", những bài hát Đàn sếu, Đôi bờ... là những bài "tủ" của sinh viên khoa tiếng Nga và lưu học sinh đi Nga mỗi dịp có sinh nhật ai đó ở ký túc xá hay liên hoan văn nghệ trường.

Là phu nhân của một nhà ngoại giao công tác tại tòa Lãnh sự Ukraine tại San Francisco (Mỹ), rồi làm viện trưởng một viện nghiên cứu, từng đưa hàng trăm học sinh du học nước ngoài...; ít ai ngờ Hoàng Thị Vinh lại đến với thơ. Ngay cả thời gian công tác tại tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn VN, chị cũng xuất hiện với vai trò biên tập và dịch giả chuyên sâu về đề tài văn học Nga.

Yêu thơ ngấm ngầm, dan díu với thơ một cách bí mật hàng chục năm trời, cho đến khi gần đây Hoàng Thị Vinh công bố liên tiếp mấy tập thơ, thì nhiều nhà văn, nhà thơ cùng công tác với chị đã giật mình vì nội lực và ngôn ngữ thơ của chị. Những câu thơ độc sáng trong không gian đàn bà đầy ám gợi và mê dụ:

“Lặn lội yêu như đi tìm cơm gạo
Hai mươi năm tôi đứng ngã ba đường”
(Người đàn bà bị tôi ruồng bỏ)

“Bạn bè bảo len nhiều khi tự bừng lên
Nóng tay người đan khăn áo”
(Đan khăn mùa Đông)


Vinh nói mỗi bài thơ cô nghĩ như một cánh hoa và mỗi tập thơ là “cơn mưa hoa tình yêu” để dành tặng cho cuộc sống quá đỗi mến thương. Mỗi ngày được đón nhận những bông hoa thì cuộc đời sẽ đầy hơn bởi hương thơm của sự tinh khiết, nhẹ nhàng, hạnh phúc.



Bìa tập Đóa hoa xuyên tuyết


Cả nhà yêu… tiếng Việt

Ông Yurii (chồng của TS Hoàng Thị Vinh) là tham tán thương mại Ukraine tại Mỹ nhưng rất yêu văn học và tiếng Việt. Ông thuộc và hát cả những câu ca dao đã đi sâu vào tâm thức người Việt. Ông chia sẻ: “Tôi đã đến thăm đất nước của các bạn và thực sự ấn tượng với quê hương của đại thi hào Nguyễn Du. Đất nước của những vần thơ giàu tính biểu cảm và giàu nhạc điệu, mặc dù chưa hiểu hết nhưng tôi vẫn thấy bừng sáng, vui vẻ ở trong lòng”.

Thật khó quên khoảnh khắc, khi Yurii nghiêng người trầm tư đọc thơ bằng tiếng Nga mà vợ ông – TS Hoàng Thị Vinh đã chuyển dịch sang lục bát.

Cách làm thơ của TS Hoàng Thị Vinh cũng nhiều điều bất ngờ và thú vị. Chị cho biết rất nhiều bài thơ ra đời vì được con gái Hoàng My “đòi hỏi” quyết liệt. Hoàng My hỏi nhiều từ về tiếng Việt và tra từ điển, không chỉ bắt mẹ giải thích ngọn ngành mà còn khơi trò “đố vui có thưởng” khi bắt mẹ làm thơ về quê hương có những tính từ, động từ đó để có những dẫn chứng, minh xác bằng chính “văn bản” tâm hồn của mẹ.

TS Hoàng Thị Vinh tâm sự: “Mình hay đi đâu xa, lại nhớ bạn, mà bạn mình chủ yếu lại là nhà thơ. Nhớ nhà thơ, nhớ bạn tức là nhớ tiếng Việt. Tiếng Việt đẹp và hiện đại, thậm chí chồng tôi còn ao ước sau một đêm trở thành người Việt để được nghe vợ đọc thơ lục bát. Kỳ diệu đến như vậy, có lẽ chỉ nghe tiếng Việt tôi mới thực sự có cảm giác là chính mình”.

Dù đã sống ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, nhưng những nét đẹp trong tiếng Việt, trong thơ Việt luôn là điều làm TS Hoàng Thị Vinh cảm thấy tự hào. Bao nhiêu năm sống xa quê hương thì cũng là bấy nhiêu thời gian người phụ nữ yêu thơ này dành thời gian cho việc giới thiệu và gìn giữ vẻ đẹp của tiếng Việt. Với chị đó là niềm hạnh phúc khó diễn tả.

Những dòng thơ của chị như một lời tâm sự, rất giản dị nhưng ý nghĩ vô cùng với nhiều người con sống xa tổ quốc:
"Nhìn về phía bên kia đại dương

Có đất nước của em
Gọi thật to em sẽ nghe tiếng Việt"
(Nhìn về)


LÃNG MA
Thể thao & Văn hóa

Hiểu nhau để "đối thoại" với nhau

Hiểu nhau để

“Chỉ khi nào các thế hệ chịu đọc sách của nhau, có nghiên cứu về các dòng văn họ đang diễn ra, thì mới có cơ sở đối thoại”. Cây bút trẻ Nguyễn Trương Quý đưa ra quan điểm khi tham gia trao đổi với báo điện tử Tổ Quốc về đề tài “Các thế hệ nhà văn có “đối thoại” được với nhau không?”


Các cây bút trẻ tham gia trao đổi (từ trái sang phải) Trần Lê Sơn Ý, Trịnh Sơn, Nguyễn Trương Quý

PV: Các nhà văn, nhà thơ được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc phần nhiều xác định bối cảnh chiến tranh đã tác động, ảnh hưởng đến sáng tác của họ. Vậy là thế hệ sinh sau, không trải qua chiến tranh, theo các nhà văn trẻ đây có phải lý do tạo nên sự khác biệt lớn giữa các nhà văn nhà thơ trước đây và hiện nay?

Nguyễn Trương Quý: Về mặt chất liệu, nguồn cảm hứng, thì đúng. Thế hệ nào cũng sẽ viết chủ yếu về cái đương diễn ra quanh đời họ. Tuy nhiên sự khác biệt quan trọng hơn xuất phát từ góc nhìn về những điều vượt lên khỏi thời sự hay bối cảnh. Hemingway chẳng hạn, đã đi qua hai Thế chiến, từng là nhà báo chiến trường và thậm chí còn bị thương. Nhưng khá nhiều tác phẩm lớn của ông lại viết có độ tách biệt với chiến cuộc. Nhiều nhà văn không can dự vào chiến tranh hay trải qua thời đó vẫn viết hay về cuộc chiến quá khứ. Ở Việt Nam, tôi nghĩ mối bận tâm về quá khứ vẫn còn chi phối ít nhất một, hai thế hệ nữa.

Trần Lê Sơn Ý: Có thể, nhưng không phải là lý do duy nhất. Có nhiều thứ để tạo nên khác biệt: thời gian, không gian, khoảng cách thế hệ, tuổi tác, môi trường xã hội, quan điểm, tư duy…

Trịnh Sơn: Sự khác biệt, nếu có, tôi nghĩ rằng không hoàn toàn nằm ở vấn đề thời gian hoặc không gian (hoàn cảnh) mà mỗi thế hệ tác giả trải qua. Từng trải, tôi vẫn tin đây là một động từ không theo khái niệm quá khứ, hiện tại hoặc tương lai. Dễ dàng thấy, có rất nhiều tác phẩm sặc mùi chiến tranh được viết bởi các nhà văn salon, chưa hề chạm đến súng đạn, chết chóc. Lịch sử không là tài sản độc quyền của riêng ai. Quan trọng là bạn cảm nhận, dung chứa và khai thác nó như thế nào. Vừa qua, tôi nghe và rất thích câu nói của nhà văn Thuận: Việt Nam đâu chỉ có chiến tranh!

PV: Nhiều người kể với tôi rằng, các nhà văn thế hệ trước thường mất ăn mất ngủ, mê mẩn… một tác giả hoặc một tác phẩm nào đó - một dạng thức có thể tạm gọi là “thần tượng văn chương”. Và chính đó là con đường để sau này họ trở thành tác giả. Còn ngày nay, dường như “thần tượng văn chương” không có, hoặc rất ít mà phần nhiều là theo tâm lý đám đông, theo sự nhất thời… Anh, chị nhìn nhận vấn đề này thế nào?

Nguyễn Trương Quý: Có lẽ thế hệ trước dễ yêu thích văn chương vì không có nhiều lựa chọn để giải trí hay để khám phá thế giới. Mọi phẩm chất, giá trị đời sống tinh thần xoay quanh cái trục văn chương. Vì thế dễ hiểu “thần tượng văn chương” là tất yếu. Ngày nay thì phức tạp hơn, văn chương phải chia “thị phần” với các loại hình giải trí, nhất là nghe nhìn, và nhiều khi lui về thứ yếu, được xem như một loại hình cổ điển. Lúc nào các đám đông cũng có nhu cầu tìm thần tượng, và có sự lan tỏa nhờ sức mạnh truyền thông. Tôi nghĩ chuyện thần tượng văn chương là bình thường, người đọc tìm thấy gì hữu ích cho cuộc sống của họ thì họ tự khắc lựa chọn. Chỉ sợ rằng công chúng chán văn chương đến nỗi không làm được việc đó thôi.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi vẫn thấy nhiều người trẻ bây giờ vẫn mê mẩn một ai đó, có thể cách họ bày tỏ khác với ngày trước. Người họ mê cũng khác. Tuy nhiên cuộc sống sau này có quá điều tác động, ngoài sách, những người trẻ có phim ảnh, âm nhạc, internet… cộng với rất nhiều phương tiện nghe nhìn vây quanh, họ bị phân tâm, và ít có cơ hội tập trung cũng như sống chết với sách vở văn chương hơn. Nhưng không thiếu người sống chết với văn chương.

Trịnh Sơn: Thần tượng văn chương ư? Có chứ. Tiếng Việt, tôi yêu Nguyễn Trãi và Hồ Anh Thái. Nhưng, tôi không nghĩ mình yêu họ để cố gắng trở thành họ, hoặc trở thành điều gì đó quan trọng hơn những gì mình thực sự có. Tâm lý đám đông à? Còn gì đáng sợ hơn?

PV: Nói về thơ trẻ, có ý kiến cho rằng đọc thơ trước tiên phải hiểu tác giả viết gì và xem “hiểu thơ” là một trong những điều kiện bắt buộc để nhìn nhận và đánh giá thơ. Là một người viết trẻ, anh, chị bày tỏ quan điểm của mình?

Trần Lê Sơn Ý: Theo tôi, hiểu thì quá tốt, nhưng làm sao mà hiểu, vì có khi tác giả còn không hiểu hết chính mình nữa, vì vậy hiểu một góc độ nào đó tương đối là tốt rồi. Cái hiểu và đánh giá này có đồng nghĩa với việc phê bình không? Nếu là phê bình thì câu hỏi này lại chuyển qua vấn đề khác, ví dụ: phương pháp nào để có thể tiếp cận và tìm hiểu tác phẩm, tác giả.

Trịnh Sơn: Tôi không quan tâm lắm, thậm chí là không hề, đến người đọc. Khi viết, tôi đặt lòng tự trọng lên trên hết. Khi đọc, cũng như thế.

PV: Nhưng cũng lại có ý kiến cho rằng, thơ đôi khi không cần phải “hiểu”, phải rạch ròi mà chỉ cần độc giả có thể “cảm” được. Tác giả Trần Lê Sơn Ý và Trịnh Sơn đồng tình hay phản đối quan điểm đó?

Trần Lê Sơn Ý: Quan điểm của tôi là chỉ cần cảm được, bài thơ đã có cơ hội sống.

Trịnh Sơn: Tôi xin lặp lại ý kiến của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, rằng “chỉ có thơ hay và thơ dở, hoặc, thơ thật và thơ giả”.

PV: Anh, chị  thấy mình có lợi thế hay thiệt thòi so với các thế hệ nhà văn, nhà thơ đi trước?

Nguyễn Trương Quý: Tôi không có trải nghiệm về việc viết lách như của thế hệ trước nên khó mà so sánh. Duy có thể thấy rõ là viết văn bây giờ đã không còn là thao tác nghệ thuật được xã hội chú trọng hàng đầu nữa. Văn chương đứng bình đẳng với các loại hình khác, thậm chí trầm lắng khi so với âm nhạc, phim ảnh… Nhà văn hiện tại không có quyền không biết các câu chuyện nghệ thuật toàn cầu, và vô cùng khó khăn khi muốn viết cái gì mới, vì đã có rất nhiều người đã viết mất rồi và độc giả đã no nê rồi.

Trần Lê Sơn Ý: Cả hai, thiệt thòi và lợi thế.

Trịnh Sơn: Thế hệ tôi may mắn hơn nhiều ấy chứ. Ít nhất là trong lĩnh vực xuất bản. Chuyện nhỏ như con thỏ, là thấy dở thì cố không sa vào; thấy hay, cũng vậy.

PV: Anh, chị  thấy tác phẩm của mình so với các thế hệ nhà văn đi trước có điểm gì khác biệt?

Nguyễn Trương Quý: Tôi chú ý đến việc diễn đạt khác đi, chú ý đến chi tiết và ngôn từ của nhân vật, tránh những trữ tình ngoại đề, những tự sự, chiêm nghiệm. Tôi chọn cách khiến nhân vật bộc lộ đặc điểm và các xung đột qua đối thoại, những đối thoại có vẻ rõ ràng nhưng hàm chứa những điều mơ hồ, phi lý. Nó là trạng thái diễn ra của thế hệ này, có gì hoang mang, trống trải.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi chưa bao giờ so sánh. Tuy nhiên nếu phải so sánh thì khác biệt là điều đương nhiên vì các nhà văn đi trước đối diện với vấn đề khác, bối cảnh khác, sống trong một nhịp điệu khác với bây giờ mà. Mà cuộc sống thì bạn biết đấy thay đổi được tính bằng đơn vị nhỏ hơn giây…

Trịnh Sơn: Thế hệ trước? Định ngữ này trừu tượng quá. Thế hệ này, cũng trừu tượng không kém. Tôi thấy mình dở hơn, dường như, luôn phải soi vào tấm gương nào đó để tránh lặp lại. Cả cái thấp kém và điều đáng tôn vinh.

PV: Giả sử, trong vai một tác giả trẻ, khi đọc tác phẩm của các nhà văn nhà thơ thế hệ trước, thực lòng anh, chị thấy chưa hiểu, chưa ổn, chưa thật hay… thì có xuất hiện tâm lý ngại “lên tiếng” không? Vì dù sao đó cũng là một tác giả có bề dày sáng tác, có tên tuổi. Nếu “thành thật” thì dễ bị cho là “phạm thượng”, hoặc chả ai để ý vì mình chỉ là một cái tên “lạ hoắc”… tóm lại là không có lợi cho bản thân thì các anh, chị có “cất đi” sự thẳng thắn của mình không?

Nguyễn Trương Quý: Là một biên tập viên, tôi không ngại lên tiếng để nhận xét bản thảo, và tương tự với tác phẩm của các tác giả dù là thế hệ nào. Điều quan trọng là phải nói được đúng cảm nhận của mình với những phân tích chính xác. Tôi nghĩ những nhận xét chân thành chỉ có lợi cho các tác giả, ngay đối với tôi cũng vậy. Dĩ nhiên, văn chương vốn nghiệt ngã, không dễ gì tiêu hóa được sự phê bình gai góc. Người viết đã đi qua thời hoàng kim họ cũng có những nỗi niềm riêng, cũng cần một sự thông cảm nhất định. Ngay tác phẩm dở nhất của họ cũng cung cấp một bài học bổ ích cho người viết thế hệ sau. Thời này có người đọc để mà chê cũng có khi còn hơn sách ra bị rơi tõm vào im lặng.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi có đánh giá của riêng mình, có cảm nhận của mình, có yêu thích và không yêu thích và đương nhiên cũng có sự bày tỏ kiểu của mình, trong môi trường nào, với ai, mức độ như thế nào, có thúc bách đến mức cần lên tiếng không… Không phải ai cũng có thể bày tỏ hoặc lên tiếng.

Trịnh Sơn: Tôi từng có nhiều bài viết phê bình thẳng thắn về một số tác phẩm trước đây – những tác phẩm ra đời khi tôi chưa ra đời. Phạm thượng? Ồ, có lẽ Nguyễn Du không bao giờ nói như vậy. Khi tôi góp ý một câu hát của nhạc sĩ Trịnh Công sơn, ông rất từ tốn dịu dàng, “à, Trịnh Sơn sửa hay lắm, nhưng mình lỡ viết rồi. Người ta nghe quen rồi. Biết làm sao đây”. Nhạc sĩ họ Trịnh không tát tai hoặc nặng lời với thằng oắt con, có lẽ vì thời niên thiếu ông cũng sẽ đầy hoài nghi và khao khát hoàn mỹ như tôi bấy giờ. Tử tế là tiêu chí đầu tiên của một nhà phê bình, nếu có nhà phê bình.

PV: Anh/chị có muốn có những cuộc “đối thoại” văn chương bình đẳng với các thế hệ cầm bút không?

Nguyễn Trương Quý: Tôi muốn chứ. Bạn nêu câu hỏi đó khiến tôi nghĩ đến sự thật là sức đọc của các thế hệ nhà văn Việt Nam không được tốt. Chỉ khi nào các thế hệ chịu đọc sách của nhau, có nghiên cứu về các dòng văn họ đang diễn ra, thì mới có cơ sở đối thoại. Tôi thú thực hơi chán khi nhiều nhà văn thế hệ 5x, 6x đã không còn đọc sách văn học dịch, và nhiều nhà phê bình vẫn chỉ dẫn tác phẩm của giai đoạn những năm 90 thế kỷ trước để minh họa cho văn học đương đại. Văn trẻ có thể không hợp gu thế hệ trước, nhưng nó là câu chuyện của những ngày này, của thế hệ này. Xét cho cùng thì chẳng có thế hệ nào là bỏ đi cả.

Trần Lê Sơn Ý: Tùy vào việc đối thoại để làm gì, ra một vấn đề gì, học được điều gì, thay đổi được điều gì hay không… tôi mới biết mình muốn hay không.

Trịnh Sơn: Đối thoại được thì tốt quá. Tác phẩm đối thoại của hai nhà thơ Trần Nhuận Minh và Nguyễn Đức Tùng rất có ý nghĩa với tôi. Họ dám mở một cây cầu, có đến được với nhau hay không, không quan trọng. Nhưng ít nhiều, đã tạo được một cây cầu vô hình thiêng liêng khác: đến với độc giả. Quan trọng nhất, có lẽ trước khi bắt đầu đối thoại, mỗi bên nên tự học khái niệm “đối thoại là gì?” và “đối thoại ra làm sao?”. Hy vọng, chúng ta sẽ làm được. Từ cuộc trò chuyện này.

PV: Internet đã làm cho thế giới phẳng và dễ dàng tạo ra những cơ hội ngang bằng cho các địa chỉ văn học trên thế giới nếu độc giả có ngoại ngữ và phương tiện. Theo anh, chị có phải vì lý do đó mà các nền văn học như Trung Quốc, Nga, Pháp, Ấn Độ… không còn ảnh hưởng lớn đến thế hệ viết văn trẻ hiện nay, trong khi thế hệ nhà văn trước đó thì ít nhiều bị ảnh hưởng?

Nguyễn Trương Quý: Tất nhiên phải nói rõ ở đây là do ảnh hưởng của tiếng Anh, thứ ngôn ngữ phổ biến rộng rãi nhờ ảnh hưởng của truyền thông và kinh tế từ Mỹ và một số quốc gia dùng tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Các nền văn học viết bằng các thứ tiếng khác dĩ nhiên lép vế trong tương quan, tuy nhiên ngay các nền văn học đó, việc chuyển ngữ sang tiếng Anh cũng rất được chú trọng và nhanh chóng. Tôi không biết là các tác giả trẻ Việt Nam có ảnh hưởng bởi làn sóng truyện ngôn tình Trung Quốc không, nhưng thị trường sách Việt Nam cũng khá dày đặc dòng sách này, chắc chắn là có tác động đến đời sống giới trẻ.

Còn về văn học thuần túy, thì tôi nghĩ sự ảnh hưởng của các dòng văn học phi Anh ngữ bị pha loãng, vừa do việc chuyển ngữ hạn chế, vừa do nhu cầu đọc của độc giả quyết định. Tiểu thuyết đương đại Pháp chẳng hạn, dịch và đọc đều là những thách đố, vì nhiều tác phẩm không đi theo lối viết của các cuốn sách “best-seller” ở Mỹ.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi nghĩ thế hệ nào cũng có ảnh hưởng nếu có đọc, tất nhiên, còn ảnh hưởng mức độ nào thì phải xem lại.

Trịnh Sơn: Điều chị nói, thế giới phẳng, khả năng ngoại ngữ, tiếp cận đa văn bản,… - chỉ là một phần. Tôi nghĩ, chỉ có tinh thần tự tôn, tự trọng, muốn thoát khỏi cái bóng Trung Hoa, Nga,… mới chính là động lực đáng kể giúp mỗi thế hệ (không riêng gì lớp trẻ ngày nay) nỗ lực phát huy tiếng Việt, góp phần tạo ra một nền văn chương Việt Nam thực sự.

PV: Nhà thơ Vương Trọng có nói rằng: “Những nhà văn nhà thơ nào đọc kỹ Đông Tây kim cổ, có nền tảng, có vốn văn hoá sẽ thận trọng khi đổi mới, sẽ cân nhắc rất kỹ khi quyết định đổi mới. Còn ngược lại, không có nền tảng thì dễ dàng, ít do dự khi đổi mới. Giống như một cô gái quê ra chốn phồn hoa đô thị, nếu vốn hiểu biết văn hoá ít thì thay đổi nhanh lắm. Còn ai có nền tảng văn hoá, sự giáo dục vững thì khó bị thay đổi”. Anh, chị có cho rằng điều này đúng trong văn chương?

Nguyễn Trương Quý: Ở đây tôi chưa rõ, người đã ổn định phong cách muốn đổi mới, hay đổi mới là một cụm từ để nói về việc làm khác đi các thế hệ trước? Đổi mới trong hoàn cảnh nào cũng có giá trị cả. Có nền tảng chắc chắn càng có động lực và lợi thế để đổi mới.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi không biết, tôi không suy tư về chuyện đổi mới. Nghề hiện tại của tôi là làm báo. Những người làm báo hay đùa với nhau khi sếp đòi bài phải hay, tin phải mới rằng: bài hay thì không mới, mới thì không hay, giờ sếp chọn cái nào (Cười).

Trịnh Sơn: Bạn có thể mặc quần loe, áo thun, hở rốn, hở vai, tóc vàng, tóc đỏ, hoặc bất cứ model nào bạn thấy thích hợp, đẹp với bản thân mình. Nhưng, xin đừng mặc áo dài với một chiếc quần short. Bài học lịch sử đã chứng mình đấy thôi.

PV: Là một người viết trẻ, anh, chị mong muốn các nhà văn thế hệ đi trước có cách “đọc” và “đánh giá” như thế nào với tác phẩm của mình viết ra?

Nguyễn Trương Quý: Đơn giản họ cứ đọc thôi. Đọc đã là rất quý báu rồi. Tôi không mong muốn gì, cũng không đòi hỏi gì.

Trần Lê Sơn Ý: Tôi không biết bạn đang mong một câu trả lời như thế nào, nhưng tôi nghĩ một người viết họ sẽ không mong đợi rằng độc giả sẽ đọc mình như thế này, nhà văn thế trước đọc như thế kia, các bạn văn cùng thời sẽ đọc như thế khác. Họ cứ đọc, cứ đánh giá như tác phẩm đó là, đọc, đánh giá như những độc giả khác đọc về một tác phẩm một nhà văn nào đó thôi, quan tâm đến chuyện thế hệ để làm gì.

Trịnh Sơn: Mong ước của tôi có thể quá đáng, rằng, các nhà văn lão thành nên đọc thế hệ chúng tôi như họ đang đọc tác phẩm của chính họ. Hoặc, không nên đọc.

* Cảm ơn các nhà văn, nhà thơ trẻ!

Hiền Nguyễn (thực hiện)

Nguồn: Toquoc

Trang 7 trong tổng số 27 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay913
mod_vvisit_counterHôm qua4079
mod_vvisit_counterTất cả4536498

20 150
,
Hôm nay:30 - 3 - 2017
Hiện có 405 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: