Tôn Vinh Văn Hoá Đọc

Text size
  • C? ch? l?n
  • C? ch? m?c ??nh
  • C? ch? nh?
Trang chủ >>> Văn học Trẻ >>> Tác giả trẻ

Tác giả trẻ

Đối thoại với tác giả trẻ Nguyễn Quang Lập

Đối thoại với tác giả trẻ Nguyễn Quang Lập

Bỗng dưng trời chuyển mát, như thế một mùa thu hiếm hoi nào bất ngờ đột nhập vào giữa những ngày hè chói chang của Huế. Chiếc xe đạp già nua, bướng bỉnh của tôi xem ra có vẻ nhạy cảm với thời tiết nên đã chịu khó tăng tốc, giúp tôi kịp đến tòa soạn Tạp chí Sông Hương đúng giờ hẹn. Cuộc tọa đàm thân mật với tác giả trẻ Nguyễn Quang Lập.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập - Ảnh: internet

Trong phòng tiếp khách, các anh Tô Nhuận Vỹ, Tổng biên tập, Thái Ngọc San, Thư ký tòa soạn, và nhà văn Nguyễn Quang Lập đã có mặt. Tôi là người đến sau cùng của buổi trao đổi “thân tình và thẳng thắn” hôm nay.

- “Một giờ trước lúc rạng sáng”(1) ra đời là một thành công đáng mừng.

- Vừa pha trà, anh Tô Nhuận Vỹ vừa đưa chúng tôi vào chuyện.

- Bằng những sáng tác của mình, thời gian qua, Nguyễn Quang Lập phần nào tiêu biểu cho đội ngũ những người viết văn trẻ hiện nay. Khác với giai đoạn đầu, trong vòng năm năm trở lại đây, đội ngũ này đã đóng góp những sắc thái mới cho văn học Bình Trị Thiên nói riêng và cả nước nói chung. Họ rất năng động trong việc phát hiện đề tài, mạnh bạo trong tư duy và tự tin trong làm việc. Điều đáng buồn là những bài phê bình về tác phẩm của họ phần lớn rơi vào tình trạng “đực cái bất phân”, khuyết điểm nói không tới nơi, ưu điểm cũng không khẳng định được sắc thái. Ưu và khuyết trong sáng tạo nghệ thuật là điều hết sức bình thường, nhưng viết “bình bình, thường thường” về ưu và khuyết như đã từng có trong bao năm qua là điều rất không bình thường. Phủ dụ không ra phủ dụ, nhắc nhở không ra nhắc nhở, đó là sự trì trệ trong phê bình văn học hiện nay. Thái độ lập lờ, không đi đến tận cùng chính kiến đã khiến không ít tờ báo không phát huy được hiệu quả mà ngược lại đã biến chuyển mục “ý kiến bạn đọc” thành đồ trang sức cho một thứ trò chơi dân chủ, thành cái mộc che đỡ cho các ban biên tập sợ “Gió máy cuộc đời”, kiểu phê bình như vậy không giúp cho tác giả phát hiện ra cái mạnh đích thực và chưa đích thực của mình, thậm chí đẩy họ vào tình trạng hoang mang. Nếu tôi không nhầm thì chính Nguyễn Quang Lập cũng có lúc có những dấu hiệu dao động về cái “mạnh” trong sáng tác của mình.

- Đến giờ G rồi phải không? - Nguyễn Quang Lập vừa cười vừa tiếp lời anh Vỹ. - Điều đó tôi cũng thấy được qua một số bài phê bình các truyện ngắn của tôi. Có khi họ phát hiện ra những vấn đề mà chính chủ nhân của những tác phẩm ấy cũng phải sửng sốt. Tôi không ngần ngại tự khen mình “giỏi quá” nếu trong lúc sáng tác, tôi nghĩ ra được những điều mà họ gán cho tác phẩm của tôi. Ngược lại, cũng có những bài phê bình rập khuôn theo một mô hình có sẵn, có khen, có chê nhưng người được phê bình không thể rút ra được một “bài học” nào cả. Tôi thường trực tiếp nghe ý kiến của bạn bè hơn là ý kiến của các nhà phê bình đăng trên báo.

- Giữa người phê bình và người sáng tác đúng là đang tồn tại một khoảng cách như thế - tôi nói. - Nhưng có lẽ cũng không nên loại trừ khả năng nhiều khi ý nghĩa khách quan của bản thân hình tượng nghệ thuật vượt ra ngoài ý đồ sáng tạo của tác giả.

Hình như đã bắt đầu “nóng máy” anh Thái Ngọc San sôi nổi hẳn lên:

- Người sáng tác bao giờ cũng phải lắng tai để nghe, nghe để tự bản thân mình phải vượt lên. Tiếc rằng không khí phê bình hiện nay ít có khả năng hỗ trợ cho các tác giả nhìn thấy đúng chân dung của mình. Điều tôi quan tâm hàng đầu là làm thế nào để có thể hình thành được những tác giả có bản sắc. Không thể chờ đợi một cách thụ động, các tờ báo và các nhà phê bình có phần trách nhiệm không nhỏ trong việc hình thành cái bản sắc ấy. Về trường hợp của Nguyễn Quang Lập, tôi không ngần ngại khi khẳng định rằng đang có những tín hiệu báo trước sự xuất hiện của một bản sắc từ truyện ngắn đầu tay Người lính hay nói trạng đăng trên Sông Hương, và sau đó là Tiếng lục lạc. Cả hai truyện này đều đầy chất lạc quan, yêu đời. Không lạc quan không thể nào biết được nỗi đau như ở Tiếng lục lạc. Cả hai truyện đều hoàn chỉnh về bố cục lẫn “chất truyện” của nó. Và như vậy, một con đường riêng của Nguyễn Quang Lập đã được vạch ra. Người ta đã tốn không ít nước bọt và giấy mực để thẩm định tư cách truyện ngắn. Đó không phải là một việc làm vô ích mà cần phải được tiếp tục. Theo tôi, truyện ngắn của chúng ta hiện nay đang gặp khó khăn, nếu không muốn nói là bế tắc. Truyện ngắn bây giờ đang rất cũ.

- Nếu không kể một vài truyện yếu (chẳng hạn như Một giờ trước lúc rạng sáng) thì hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập đều trên trung bình hoặc khá. - Anh Tô Nhuận Vỹ tiếp - Cái yếu của Nguyễn Quang Lập tập trung vào những đề tài mà chính tác giả chưa thực sự tường tận về con người và cuộc sống trong phạm vi của đề tài đó. Nhiều truyện của Nguyễn Quang Lập gây được không khí tranh luận. Đó là một dấu hiệu tốt. Nguyễn Quang Lập tỏ ra thông minh, sắc sảo, bén nhạy trong việc phát hiện ra những vấn đề có kịch tính cao. "Tính vấn đề" cũng bộc lộ một cách mạnh mẽ trong một số sáng tác của Nguyễn Quang Lập. Nó thể hiện một trình độ tư duy cao hơn lớp nhà văn vào nghề từ những năm cuối 60 - đầu 70 như thế hệ chúng tôi. Không riêng gì Nguyễn Quang Lập, ý đồ “lập ngôn” thông qua những chủ đề tư tưởng lớn thể hiện khá rõ trong tác phẩm của nhiều anh chị em trẻ những năm gần đây. Nhưng ở một chừng mực nào đó, Nguyễn Quang Lập tỏ ra xông xáo hơn, kiên trì để đi đến “cái tận cùng” của vấn đề được đặt ra. Điều đó tôi nhận thức được sau khi đọc “Đò ơi” và “Cây sến lửa” tôi thích hai truyện ngắn này. (Nhân tiện nói luôn một cư xử thật đáng buồn của tờ báo, chỉ đăng truyện Cây sến lửa: Nguyên truyện có tên là cây chò lửa. Tờ báo đó chữa lại là cây sến vì nói rằng, trong Lăng Bác có cây chò, sợ phạm húy. Chuyện có thật đấy, tôi không hề bịa). Đã một thời gian dài văn học và đời sống xã hội của chúng ta thường chú ý đến cái chung mà bỏ qua cái riêng. Chú ý cái tập thể mà quên đi cá thể, đề cao cộng đồng mà lãng quên cái dị biệt.

Quan niệm thẩm mỹ đó đã chi phối mạnh mẽ suốt một quãng đời sáng tạo của thế hệ chúng tôi. Nhiều khi ngồi nghĩ lại tôi không khỏi rùng mình.

Nhận xét của anh Tô Nhuận Vỹ làm tôi liên tưởng đến con đường đi của văn học Xô Viết đương đại. Không riêng gì ở Liên Xô mà hầu như văn học các nước xã hội chủ nghĩa ngày nay có xu hướng loại bỏ ra khỏi những nỗ lực sáng tạo của mình cái nhiệm vụ “trưng bày hàng mẫu". Nó tỏ ra dứt khoát trong việc phơi bày tất cả sự thật về cuộc sống và con người, giúp con người tự khám phá ra sức mạnh của chính mình để có thề đi tiếp trên con đường hoàn thiện nhân cách.

Ngừng một lát, anh Vỹ tiếp:

- Trong truyện Cây sến lửa, nếu theo quan niệm thông thường thì có thể kết thúc ngay sau khi nhân vật của Nguyễn Quang Lập giết xong người bạn phản trắc, nhưng Nguyễn Quang Lập đã không dừng lại ở đó. Sau khi giết Ba-đoong, CuMôn thấy cả nửa cuộc đời mình đã chết theo cái chết của người bạn. Bi kịch của CuMôn là ở chỗ phải giết bạn mà vẫn rất thương bạn: “Không giết mi, mi hại nhiều lũ làng nữa, phải giết thôi. Nhưng mi là bạn tau. Tau thương lắm. Tau không muốn mi chết”. Và từ những giọt nước mắt khóc bạn của CuMôn đã mọc lên một cây Sến, đúng hơn là một nhân cách. Đó mới là con người-nhân-loại. Nếu ra đời cách đây 10 - 15 năm, chắc chắn Bùi Việt Pháo trong truyện ngắn Đò ơi sẽ được xếp vào loại nhân vật tiêu cực, bởi người ta không dễ chấp nhận những khuyết điểm như vậy trong cuộc sống của một người anh hùng. Tôi cho rằng sự ray rứt của Bùi Việt Pháo suốt quãng đời còn lại của nhân vật ấy còn anh hùng hơn những năm tháng ông ta vật lộn với bom đạn. Đây là một kiểu anh hùng hoàn chỉnh. Tính cách của nhân vật anh hùng được bộ lộ trọn vẹn hơn qua quá trình tự đấu tranh với bản thân. Trong tình hình của chúng ta hiện nay, những tác phẩm như Cây sến lửa, Đò ơi, cần phải được khẳng định. Cái mạnh nhất của Nguyễn Quang Lập là đi đến tận cùng của cái riêng để đạt được một cái chung, nhưng hình như Nguyễn Quang Lập chưa thấy hết chỗ mạnh của mình, đôi khi anh lại quay về với những công thức rạch ròi, dễ dãi trong cách xây dựng nhân vật. Dù kiểu người như Cu Chơn trongChuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri có thực trong cuộc đời thì nó vẫn không thật và có truyện khoa học viễn tưởng lại cứ thật như chính cuộc đời. Dù là cái cao cả hay cái thấp hèn, khi được đẩy đến tận cùng đều có những dấu hiệu kỳ dị. Người đọc rất dễ bị “dị ứng” trước một đối tượng thẩm mỹ như vậy.Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri có không ít người thích. Nhưng tôi thì rất băn khoăn, có thể nói là không thích. Một đứa bé nung nấu suốt ngày, suốt đêm, cả trong giấc mơ, cả trong trò chơi và cư xử quyết tâm diệt Mỹ, ước mong đi bộ đội đến viết cả khẩu hiệu lên ba lô, “đập” lại cả người lớn, bỏ trốn để đi về phía tiền tuyến (em trên dưới mười tuổi), tôi đọc cứ vô hồi bắt nhớ lại truyện một đứa bé cũng trên dưới mười tuổi, trong hàng loạt sách báo tuyên truyền một thời ở Trung Quốc, lạc trong bão tuyết cùng hàng ngàn con cừu, đã nhớ lời dạy của Mao Chủ tịch nên phát thông minh và thêm sức mạnh, đã tìm được cách sống và đưa được cả đàn cừu về cho công xã. Riêng tôi, tôi cho rằng Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri chứng tỏ Nguyễn Quang Lập hoang mang trong việc khẳng định cái mạnh của mình. Rất có thể tác giả không nhất trí, nhưng tôi cho rằng một gợi ý như vậy là cần thiết đối với Nguyễn Quang Lập.

Khác với anh Tô Nhuận Vỹ, tôi là một trong những người thích Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri. Có thể không có trong ý đồ sáng tạo của tác giả, nhưng điều tôi quan tâm ở truyện ngắn này là vấn đề chọn lựa những giá trị trong cuộc sống, từ góc độ có thể góp phần khẳng định thêm chỗ mạnh của Nguyễn Quang Lập. Thương sẵn sàng đem cả cuộc đời mình để lau khô vết máu trên cuộc đời của người khác, muốn sống hoàn toàn cho hạnh phúc của Chơn, nhưng không thể chạy trốn nỗi cô đơn và những nhu cầu bình thường trong cuộc sống của con người. Có thể mức độ bi kịch ở đây không đậm đặc như trongĐò ơi, Cây sến lửa, nhưng rõ ràng nhân vật Thương đã được giải phóng ra khỏi những công thức giả tạo. Kiểu tính cách như CuMôn trong Cây sến lửa, Bùi Việt Pháo trong Đò ơi, và ở một chừng mực nào đó là Thương trong Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri đã mang lại cho người đọc những cảm nhận sinh động về chiều sâu tâm lý của những chiến công anh hùng, của những hành vi cao cả. Nhân vật không bị lược quy vào những sơ đồ có sẵn mà gần gũi với người đọc, giúp người đọc dễ phát hiện ra chính bản thân mình.

Dường như để củng cố những chỗ thống nhất và chưa thống nhất trong ý kiến của chúng tôi, Nguyễn Quang Lập trình bày cặn kẽ hơn cái “duyên nợ văn chương” của anh:

- Tôi làm thơ trước khi viết văn. Thơ tôi được đăng và cũng có lần được giải thưởng nhưng tôi vẫn có cảm giác rằng thơ không giúp tôi giải quyết được những nhu cầu nội tâm. Về sau, tôi nghĩ rằng đó là một cảm giác giả tạo. Tôi là người ít đọc, nhưng kể từ 1982, khi tôi có ý đồ chuyển sang viết truyện ngắn, tôi đã phải đọc rất nhiều, chủ yếu là truyện ngắn trên văn nghệ và văn nghệ quân đội nhưng phần lớn truyện nào cũng như truyện nào, rất ít truyện mang lại cho tôi những khoái cảm thẩm mỹ tối đa. Tôi quay lại với những truyện ngắn của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan. Nam Cao thì khỏi nói, còn hình như Nguyễn Công Hoan tôi không thích. Mãi đến năm 1984 tôi mới viết Người lính hay nói trạng, và đó là truyện ngắn đầu tay của tôi. Tôi viết truyện này một cách ngẫu nhiên. Nhân đọc những bài viết về chuyện trạng của anh Phùng Quán và Võ Xuân Trang, đặc biệt là chuyện trạng Vĩnh Hoàng, tôi liên tưởng đến những chuyện trạng được lưu hành rộng rãi trong cuộc sống của người lính và tôi cứ viết tự nhiên như vậy. Sau khi

Người lính hay nói trạng xuất hiện trên Sông Hương, anh Nguyễn Khoa Điềm khuyên tôi: “Cậu nên đi vào truyện hơn thơ”. Có thể nói, nhận xét của anh Điềm đã hình thành trong tôi niềm tin đầu tiên, sau đó tôi viết Tiếng lục lạc và cảm thấy mình đã có một sự tiến bộ nhất định.

Anh Vỹ có đề cập đến “Ý thức lập ngôn” trong một số truyện của tôi, thực ra tôi chưa bao giờ có ý định viết truyện để răn dạy người đời. Tôi viết truyện vì bị thôi thúc bởi những nhu cầu nội tâm. Có thể thành công hay thất bại, nhưng rõ ràng nỗi đau của tôi là có thật, không giả vờ. Tôi thường bị ám ảnh bởi nhân vật, và tôi viết ra khi nhân vật đã hình thành rõ nét trong tôi. Tôi ít tả hình dáng mà thích triển khai chiều sâu nội tâm của nhân vật. Tôi rất tâm đắc một câu nói của Bửu Chỉ: “Sáng tác đối thoại với cuộc sống”. Truyện ngắn là gì? - là một số phận luôn luôn hiện lên như một dấu hỏi đáng để người đời quan tâm.

Trừ Người lính hay nói trạng, những truyện tiếp theo tôi viết rất có ý thức. Còn Một giờ trước lúc rạng sángBông cỏ mặt trời là một “ngoại lệ”, nghĩ một đường, viết một nẻo. Hai truyện ấy tôi viết về miền Nam và đều đổ cả hai. Đúng là mỗi người phải tạo cho mình một vùng đất riêng.

Tôi rất tán thành ý kiến nhận xét của anh Vỹ về truyện Cây sến lửa, nhưng đó không phải là truyện hay nhất của tôi. Thực ra ở đó, tôi đã cố ép các tình huống để chứng minh cho một chân lý. Tôi cũng có những suy nghĩ không giống anh Vỹ về Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri. Có thể tôi không thực hiện được ý đồ của mình, nhưng thông qua truyện ngắn ấy, tôi muốn đề cập đến vấn đề đức tin. Cu Chơn đã có những đòi hỏi cực đoan vì nó không thể đảo ngược những tiêu chuẩn giá trị đã bám rễ rất sâu trong nhận thức của nó. Chính vì vậy sự ra đi của nó là để đáp ứng một nhu cầu giải thoát. Có một cá tính mạnh mẽ, nhưng Chơn không phải là người anh hùng. Niềm tin của Chơn là một niềm tin rất nguy hiểm, đó là “ngu tin”, bởi vì cuộc sống cứ phải trôi theo đúng quy luật của nó.

Anh Thái Ngọc San:

- Khi quan tâm tới một tác giả nào đó, tôi vẫn có thói quen xem trong tác phẩm họ chọn cái gì giữa vô số những chất liệu của cuộc sống, và sau đó là những phương tiện nghệ thuật mà nhà văn đã sử dụng để xử lý đề tài đã được chọn lựa. Trong truyện ngắn, tôi quan tâm đến hai vấn đề: bố cục và tính cách. Anh xây dựng một mẫu người mà người đọc không thể chấp nhận được sẽ bị lố bịch ngay tức khắc. Điều đáng mừng là Nguyễn Quang Lập tạo được thế mạnh trong thiết kế bố cục và khắc họa tính cách. Tất nhiên vẫn có những truyện chưa thuyết phục được tôi, chẳng hạn Tiếng kèn Trom-pet và đặc biệt là Một giờ trước lúc rạng sáng. Điều đáng tiếc là truyện kém nhất lại được trao cái “vinh dự” đại diện cho cả tập truyện. Cu Chơn trong Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp ri cũng là một sự quá đà của Nguyễn Quang Lập. Người vẽ chân dung giỏi có thể bằng những nét rất tiết kiệm mà vẫn bộc lộ được tính cách của nhân vật. Giữa ý đồ của tác giả và hiệu quả khách quan của bản thân tác phẩm thường tồn tại một khoảng cách khắc nghiệt nếu ngòi bút của tác giả tỏ ra thiếu bản lĩnh.

Tôi nhìn đồng hồ. Đã 17 giờ kém 5.

Dù còn những ý kiến khác nhau, giữa chúng tôi vẫn có sự thống nhất trước những vấn đề sinh tử của văn nghệ nói chung và tác phẩm của Nguyễn Quang Lập nói riêng.

- Điều quý nhất là chúng ta đã trao đổi với nhau hết sức thẳng thắn, với tư cách “chủ nhà” anh Vỹ kết luận. Ở Bình Trị Thiên, lực lượng cầm bút của chúng ta đông, nhưng số có sắc thái không nhiều, về truyện ngắn có thể kể đến Nguyễn Quang Lập, Thái Ngọc San, ký có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Quang Hà, thơ có Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ và ở một chừng mực nào đó, có thể kể thêm Phạm Tấn Hầu... Cái còn lại với đời chính là bản sắc. Cái khó nhất cần phải vươn tới của bất kỳ một nhà văn nào cũng chính là bản sắc. Có lẽ cũng nên nhấn mạnh một lần nữa với Nguyễn Quang Lập rằng anh đã mở ra cho mình con đường để đi đến một bản sắc, và chỉ nên đi một hướng...

Chúng tôi chia tay nhau. Nguyễn Quang Lập tranh thủ “đáp lễ” anh Vỹ bằng một ý kiến khá độc đáo: “Tiểu thuyết là một trận bóng đá, nhưng truyện ngắn là một phát “sút” 11 mét”.

Huế, 2-6-87
TRẦN THỨC ghi


---------------
(1) Tập truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản 1987.

Nguồn: Sông Hương

Đặng Thiều Quang: “Nhà văn là người kể lại những giấc mơ…”

  Đặng Thiều Quang:  “Nhà văn là người kể lại những giấc mơ…”

Đặng Thiều Quang sinh năm 1974 tại Lào Cai. Học Đại học Kiến trúc Hà Nội nhưng Đặng Thiều Quang lại mê viết văn. Từ khi còn là sinh viên anh đã là một tác giả nổi tiếng trong Hội bút Hương đầu mùa (Hoa Học Trò) với bút danh D’Artagnan. Đến nay, Đặng Thiều Quang đã xuất bản các tiểu thuyết Hoen gỉ (1996), Chờ tuyết rơi (2007), Đảo cát trắng (2008), Bóng giai nhân (2009), cùng các tập truyện Tôi và D’Artagnan (2007), Phải lòng (2009). Với anh, công việc của một nhà văn là kể lại những giấc mơ, trước khi nó bị lãng quên.

“Săn cá thần” là tiểu thuyết mới ra mắt của Đặng Thiều Quang. Khác hẳn với phong cách văn chương anh xác lập trước đây, “Săn cá thần” đầy kịch tính, hoang đường, phiêu lưu và đượm chất kinh dị.

Câu chuyện ly kỳ này kể về hai gã đàn ông trẻ dấn thân vào cuộc săn con cá thần trên con sông Thiêng miền Tây Bắc. Một kẻ thành công, mạnh mẽ, tự tin, một người thất bại, nhút nhát, yếu đuối, một kẻ quyết săn cá thần để chứng tỏ tài năng và sức mạnh, một kẻ a dua cuộc săn “cho có chuyện” để giết thì giờ, nhưng cả hai đều đã bị cuốn vào cuộc săn mà càng về sau càng trở nên kỳ quái không thể nào thoát ra được. Và cuối cùng, cuộc đời họ rẽ sang những ngả mới mà không ai ngờ tới.

Đặng Thiều Quang trình diễn cuộc “Săn cá thần” của mình bằng lối viết cách hiện thực huyền ảo. Anh khoác lên cuốn tiểu thuyết tấm màn huyền ảo với con cá thần nơi khúc sông hoang vu, những giấc mơ báo ứng, lão thầy cúng bị cắn cụt tay, rồi con cá khổng lồ đội nước phi lên bờ trước nỗi sững sờ của tất cả đám người trần tục… Những câu chuyện hoang đường này được Đặng Thiều Quang kể một cách chi li, tường tận, thản nhiên, xen kẽ với những mảng miếng hiện thực chẳng xa lạ với chúng ta, khiến toàn bộ bức tranh dựng nên như thật và đầy sức cuốn hút. Nhưng trong khi người ta còn bán tín bán nghi với chuyện cá thần thì ngược lại, người ta lại tin chắc vào cái cốt lõi hiện thực mà tiểu thuyết thể hiện. Cuộc đi săn trưng ra một hiện thực cuộc sống trần trụi với tiền và dục vọng, với những con người hiện đại đầy tự tin, không sợ bất cứ điều gì, và muốn chiếm hữu những thứ “đỉnh” nhất. Con cá thần như là biểu tượng về niềm tin, về một giá trị thiêng, và sự mất niềm tin khiến con người ô trọc và tàn độc. Nhưng may thay, giá trị không phải là thứ mà cứ có ý chí hay công nghệ hiện đại là giành được. Đám người đi săn đã giáp mặt cá thần, nhưng chỉ để nhận về một nỗi khinh bỉ khôn cùng.

 

“Săn cá thần” được Đặng Thiều Quang đặt bút viết vào đúng ngày 1.4.2009 và đặt dấu chấm kết thúc bản thảo vào 19.1.2013. Vậy là Quang vật vã gần bốn năm cho cuốn sách này. Trong đó hơn một năm trời, do mưu sinh, việc viết lách của Quang bị đứt đoạn. Anh kể, thời gian đó mình “lặn ngụp” vào việc quản lý một câu lạc bộ hoạt động 24/7, sống và tiếp xúc với đủ các hạng người như dân chơi về đêm, dân cờ bạc, lô đề, cá độ bóng đá… Nhờ thế, anh có điều kiện trải nghiệm và hiểu hơn về những ngóc ngách cuộc sống, vốn tiếng lóng phong phú hơn. Chính một năm dừng bút, lặn vào đời sống giúp cho anh có sự lột xác trong văn chương, và có được những trang văn sống động và “rất đời” trong “Săn cá thần”. Quang tâm sự: “với một nhà văn, ngay cả khi anh ta tạm dừng viết, thì câu chuyện vẫn cựa quậy và tiếp diễn trong đầu anh ta, nung nấu, suy tư về nó, cho dù anh ta đang làm việc này việc nọ để mưu sinh”.

Sự khác biệt lớn nhất của cuốn sách lần này với những cuốn đã ra mắt trước đây của Đặng Thiều Quang như “Chờ tuyết rơi”, “Bóng giai nhân”… đó là mạch truyện nhất quán, kết cấu đơn giản, rõ ràng. Các nhân vật được khắc họa sắc nét hơn. Một điều khác biệt nữa là ngôn ngữ mạng cũng hiện diện trong các trang viết của anh lần này, từ thực tế anh tham gia rất nhiều diễn đàn, nơi mà văn nói đang thịnh hành, với vô số những lối chơi chữ lắt léo, những cách nói tắt, một kiểu gần như thứ ngôn ngữ “Sát thủ đầu mưng mủ”. Nhận thấy đây là một hiện tượng thú vị, Quang đã đưa nó vào tác phẩm của mình, vừa là phá vỡ sự tẻ nhạt của văn phong truyền thống, vừa đối trọng cân bằng lại với những ẩn dụ hay ý đồ nghệ thuật. Với sự thay đổi này, anh tin là độc giả sẽ thấy nó hiện đại, chân thực, tự nhiên. Họ sẽ tin vào cái thế giới mà tác giả đã vẽ ra.

 

Còn nhớ, năm 2009, tiểu thuyết “Chờ tuyết rơi” từng được nhà phê bình Nguyễn Hòa khen ngợi đây là cuốn hay nhất của Đặng Thiều Quang. Cuốn sách được nhận xét là đậm chất văn chương, tuy hơi khó đọc cho đại chúng, nó phù hợp hơn với những độc giả khó tính có tâm hồn u uẩn, duy mỹ, yêu vẻ đẹp của văn chương, yêu thích bi kịch. Còn lần này, với “Săn cá thần” Đặng Thiều Quang thử sức với một phong cách mới, nên cảm giác vừa trăn trở, hồi hộp; vừa phấn khích .

Anh chia sẻ : Những bầm dập cuộc đời khiến tôi thay đổi tư duy về văn chương, những trải nghiệm dã ngoại câu cá nơi hoang dã cũng dạy tôi cách tìm lại những cảm xúc nguyên sơ như nỗi sợ hãi, bản năng sinh tồn, những bài học sơ đẳng về sinh tồn, và trên hết là nhận thức lại chính mình, đi tìm lại chính mình.

Có một điều thú vị ở Đặng Thiều Quang, đó là nhiều tiểu thuyết của anh được khởi viết từ một truyện ngắn và ngược lại. Anh giải thích: “Một truyện ngắn khi có khả năng gợi mở để triển khai thành một cuốn tiểu thuyết đầy đặn, nhà văn nên bám ngay lấy mạch nguồn vừa được khơi ra này. Ngược lại, có một số truyện ngắn của tôi lại “ăn theo” chính những tiểu thuyết của tôi, bởi dư âm cuốn tiểu thuyết vẫn còn âm vang trong tôi một thời gian dài sau khi đã đặt dấu chấm hết cho bản thảo tiểu thuyết. Có thể bởi các nhân vật vẫn còn đi lại và suy tư trong đầu tôi, nói năng càu nhàu về chuyện này chuyện nọ, và thế là tôi bèn viết những truyện ngắn trùng tên, vừa ăn theo nhưng lại cũng vừa tự tạo nên một huyền thoại về những cuốn tiểu thuyết của chính mình. “Bóng giai nhân”, “Đảo Cát Trắng”, “Chờ tuyết rơi” chính là những tiểu thuyết và truyện ngắn trùng tên như vậy của tôi. Rất có thể tôi sẽ viết một truyện ngắn Săn cá thần nay mai, tại sao không?”.

Khi sáng tác “Săn cá thần”, Đặng Thiều Quang vừa viết vừa công bố trên facebook. Tuy nhiên, với một số nhà văn mạng, họ khai thác lợi thế từ việc tương tác với độc giả để điều chỉnh tác phẩm của mình cho phù hợp với nhu cầu của bạn đọc; còn với Đặng Thiều Quang, việc bạn đọc và chia sẻ, góp ý cho tác giả các hướng đi của tác phẩm… lại không ảnh hưởng nhiều đến việc sáng tác của anh. Quang bảo: tôi trung thành với bản thân mình mà thôi. Khi sáng tác tôi luôn chỉ đối diện với chính mình. Đừng nhìn nhận mọi thứ theo những gì xảy ra trên bề mặt và sự quy chụp tiện lợi của mọi người, hôm nay ta gọi là tương tác mạng nghe có vẻ thời thượng và mới mẻ, nhưng lời đề từ trên cuốn “Chuông nguyện hồn ai” của Hemingway cách đây vài chục năm đã viết rồi đó, đại ý là: “Một hòn đá bên bãi biển rơi xuống biển cũng có nghĩa là Châu Âu đã mất mát nhỏ bé đi một chút…”. Những nhận xét hay phỏng đoán của độc giả, nó giống như chất xúc tác để ta hứng thú viết tiếp thì đúng hơn. Giống như ta đá bóng trong sự cổ vũ cuồng nhiệt của khán giả vậy. Đừng có nói là nhà văn không cần sự cổ vũ nhé, họ rất cần là đằng khác, trong bối cảnh đời sống văn chương èo uột như hiện nay.

Trở lại câu chuyện về đời sống của chính nhà văn, không ít người lo ngại cho cái mà họ quan niệm là sự vất vả, lận đận của Đặng Thiều Quang, bằng chứng là: Nghề nghiệp của Quang luôn không ổn định, nay đây mai đó: lúc mở quán, lúc đi buôn cây, lúc làm thiết kế, và bây giờ là bán cafe. Từng có thời kì Quang dấn thân vào buôn bán, để rồi cuối cùng nhận lại hai bàn tay trắng với nhiều khoản nợ. Những chật vật trong mưu sinh của Quang, khiến cho việc sáng tác của anh cũng bị gián đoạn và chi phối khá nhiều. Nhưng bản thân Quang thì không nghĩ vậy. Thậm chí, anh còn chạnh lòng khi thấy các bạn mình ổn định trong cái vỏ ốc, và chấp nhận an phận. Anh ước mình có thể nay đây mai đó. Anh mong, một ngày nào đó khi những trách nhiệm về chuyện mưu sinh không còn đè nặng trên vai, anh sẽ lang thang nay đây mai đó cho thỏa mãn bản thân mình. Nó cũng là cách sống mà anh lựa chọn cho mình.

Một niềm vui với Đặng Thiều Quang là ngay sau khi tiểu thuyết “Săn cá thần” ra mắt, anh đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ những người có tiếng là khó tính trong làng văn. Quang chia sẻ: “tôi rất vui, nhưng nếu nói là ưng ý thì chưa, tôi vẫn tâm niệm cuốn sách hay nhất là những cuốn mà tôi đang viết, sẽ viết, đó là bộ tiểu thuyết “Vua xứ mù”, đó mới là cuộc phiêu lưu vĩ đại đầy tham vọng mà tôi đã khởi thảo trước cả “Săn cá thần”.” Chúng ta hãy cùng chờ xem.

 

Văn nghệ Trẻ

 

 

NỤ CƯỜI CHIM SẮT: TÁI HIỆN QUÁ KHỨ BẰNG BÚT PHÁP HIỆN ĐẠI

NỤ CƯỜI CHIM SẮT: TÁI HIỆN QUÁ KHỨ BẰNG BÚT PHÁP HIỆN ĐẠI

Nhà văn trẻ Võ Thu Hương vừa cho ra mắt truyện ký NỤ CƯỜI CHIM SẮT (NXB Kim Đồng) được nhiều độc giả đón nhận. Ấn tượng đầu tiên xuyên suốt tác phẩm chính là cách dẫn dắt, lối hành văn giản dị mà hiện đại của tác giả, đưa tác phẩm tới gần hơn với bạn đọc. Chúng ta cùng chia sẻ với tác giả, vốn là sinh viên khoa Ngữ Văn  - Báo Chí (K2001), ĐH KHXH & NV để biết rõ hơn về tác phẩm và tác giả.


-         Chào Võ Thu Hương, bắt đầu từ nguyên nhân nào khiến bạn - là một người còn trẻ nhưng lại chọn đề tài cách mạng để viết?

-         Tôi bắt đầu ý định viết Nụ cười Chim Sắt từ sau những cuộc gặp gỡ, phỏng vấn các nữ tù chính trị để viết báo. Người nữ chiến sĩ- nhân vật chính Thu Nguyệt, có biệt danh Chim Sắt có một cuộc đời đầy biến cố đã khiến Hương cảm động, thấy cần phải chia sẻ nhiều hơn nữa. Và đó là “cái cớ” để viết truyện này. Xa hơn nữa, ngay từ hồi còn ngồi trên ghế nhà trường tôi từng thích mê tiểu thuyết “Tuổi thơ dữ dội” của bác Phùng Quán. Tác phẩm kể về những thanh thiếu niên ở Huế, thời kì kháng chiến chống Pháp. Tôi đọc tác phẩm gần 1000 trang sách này tới 4 lần và đã nghĩ mình sẽ viết về tuổi thơ, thanh thiếu niên chống Mỹ.

-         Đọc nhiều lần như vậy, chị có sợ bị ảnh hưởng văn phong một tên tuổi lớn không?

-         Không bạn ạ. Mỗi người có một văn phong khác nhau. Nói thật, nếu văn phong tôi giống được bác Phùng Quán thì tôi… rất mừng. Nhưng mà không giống tẹo nào cả (cười). Hơn nữa, mỗi tác phẩm lại có những số phận nhân vật khác nhau nên tôi không hề nghĩ tới việc sợ bị ảnh hưởng.

-         Viết “Nụ cười Chim Sắt” hẳn có nhiều khó khăn khi những câu chuyện này xảy ra cách đây từ lâu, gần 40 năm về trước?

-         Khó khăn lớn nhất là tôi nghĩ: Đề tài này có ai mặn mà không? Bởi đề tài về cách mạng truyền thống trước nay vẫn bị mặc định là khô. Vậy nhưng rất mừng là khi tôi đăng kí đề tài với NXB Kim Đồng, anh trưởng ban biên tập phía Nam đã đồng ý ngay lập tức với thái độ cực kì hào hứng. Khi tôi viết xong, sách ra, nhiều bạn bè, thậm chí cả những độc giả chưa từng quen biết đã đặt sách qua email, facebook khá nhiều. Điều đó là sự khích lệ lớn.

Còn khó khăn khi cầm bút thì vẫn là tình trạng nhiều nhà văn gặp, không riêng tôi. Có khi hào hứng cũng sẽ có lúc mệt mỏi muốn buông bút. Nhưng quan trọng là cuối cùng sách đã ra và được đón nhận.

-         Vậy bí quyết nào để viết sách truyền thống mà vẫn “hút hàng”?

-         Tôi chẳng dám nhận là “bí quyết”. Chỉ có một chút chia sẻ với các bạn bắt đầu cầm bút: Khi tôi còn học trong trường Nhân văn, tuy không được học thầy Nhật Chiêu nhưng vì chơi chung nhiều bạn học ngành văn học nên có nhiều cơ hội cùng các bạn ấy trò chuyện với thầy. Tôi học được ở thầy rằng: Nuôi được đam mê, cảm xúc, viết chân thành thì sẽ có tác phẩm và tác phẩm sẽ có độc giả nhất định. Sau này, khi đã xuất bản 6 đầu sách thì đối với tôi bài học ấy vẫn luôn còn nguyên giá trị và thầy vẫn là nhà văn tôi rất ngưỡng mộ.

-         Cảm ơn sự chia sẻ của nhà văn Võ Thu Hương.

Minh Huệ

Box: Võ Thu Hương tốt nghiệp ĐH KHXH&NV TP.HCM năm 2005. Hiện là phóng viên Báo Mực Tím – Khăn Quàng Đỏ TP.HCM. Đã xuất bản 6 đầu sách của NXB Kim Đồng, NXB Trẻ. CTV truyện ngắn trên các báo Phụ nữ, Thanh Niên, Tiếp thị Gia đình…

Giải thưởng VHNT Huỳnh Văn Nghệ (năm 2005, 2010), Giải thưởng Hồ Xuân Hương (năm 2010), Giải thưởng truyện ngắn hay báo Tiếp thị Gia đình (năm 2007, 2013)…

Nếu không có câu chuyện kể của cựu tù Côn Đảo này, hẳn chúng ta không thể biết đã từng có những không gian sống, những cuộc đời thật đẹp, tồn tại giữa hai làn đạn. Lịch sử, đôi khi vì lí do nào đó mà bị vùi lấp, lãng quên.

Gần như chỉ là một cuốn hồi kí được sắp xếp khéo, nhưng cuốn sách có thể được coi là một tác phẩm hiện đại, bởi cách sắp xếp tình tiết câu chuyện cuộc đời của một nữ biệt động Sài Gòn, những chiến công vang dội mà người làm nên nó lại rất thầm lặng, những năm tháng bị tù đày cùng đồng đội bất khuất kiên cường...

Võ Thu Hương đã mạnh dạn thử sức bằng lối viết dung dị, truyền thống, lại rất hiện đại bởi tính tư tưởng được soi chiếu bằng mạch tư duy hiện thực.

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà (trưởng Ban Nhà văn trẻ, Hội nhà văn Việt Nam)

Câu chuyện này không hẳn thật mới, nhưng tại sao lại cuốn hút? Phải chăng tác giả đã biết chọn những trường đoạn, những chi tiết đắt nhất - phục chế được đời sống thị dân ở khu phố nghèo, đến miền Trung gió cát, nhà tù Côn Đảo… cùng những trận đánh đã đi vào trang sử, được kể với giọng điệu và ngôn ngữ văn chương. Những nhân vật trong “Nụ cười Chim Sắt” lần lượt hiện lên, tạo ấn tượng cho người tiếp nhận. Số phận họ được thể hiện không chỉ bằng lòng quả cảm, xả thân cho nghiệp lớn mà còn có tính cách dung dị thể hiện trong đời sống thường nhật lúc bấy giờ. Có thể nói rằng, khi nhà văn có tài phản ánh hiện thực, sẽ có tác phẩm hay.

Nhà văn Nguyễn Quốc Trung


Nụ cười Chim Sắt (NXB Kim Đồng 2013) kể về Thu Nguyệt – cô gái mồ côi mẹ lúc lên 5 và trở thành một trong những nữ biệt động Sài Gòn đầu tiên (đội Biệt Động 159, thành lập tháng 1/1959) lúc 16 tuổi. Bằng sự thông minh, nhanh nhạy và lòng quả cảm của mình, ở tuổi 20 cô đã lập nhiều chiến công oanh liệt, cả khi đã bị bắt giam từ đày, thì những phẩm chất quý báu của người chiến sĩ Việt Nam vẫn được toát lên rõ nét.

Giọng văn mượt và mềm, khá biến hóa, Võ Thu Hương đã có những trang văn đẹp, thấm đẫm nhân văn, gieo vào độc giả một sự cảm thông, ngưỡng mộ với nhân vật. Cái tài của tác giả còn ở việc khéo léo lồng vào những tiểu tiết, dựng lên cuộc sống đời thường, đồng thời bộc lộ được cá tính của nhân vật. Đời sống của những người dân bần hàn trong xóm lao động nghèo ở Sài Gòn những năm giữa của thế kỉ trước được tái hiện hết sức sinh động. Nơi ấy, những con người của một thành phố chỉ vài trăm năm, ngập chìm trong chiến tranh, đã sớm được hun đúc bởi tư tưởng quật cường từ thế hệ tiền nhân. Một bé gái đương độ tuổi đi học vẫn sẵn sàng nghỉ  để bươn chải nhọc nhằn lo nuôi dưỡng hai cháu nhỏ khi chẳng may mẹ của chúng đột ngột qua đời do cơn băng huyết sau khi sinh. Một ông chú lấy vỏ bọc làm nghề cắt tóc để hoạt động cách mạng. Một bác đạp xích lô không nề hà chở không công đoạn đường hơn trăm cây số giữa Sài Gòn để kịp đưa đứa cháu về nhà loan báo hung tin người thân mất, để rồi vẫn cười thật tươi vỗ về an ủi cháu bé khi nó mấp máy ngần ngại việc không có tiền trả công…

Phần trọng tâm của tác phẩm: cuộc đời chính thức hoạt dộng cách mạng của nhân vật chính. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt câu chuyện là một cô gái dẫu qua hoàn cảnh nào vẫn luôn tin tưởng vào ngày mai “ngày mọi gia đình không phải xa cách, tôi sẽ gặp lại ba tôi” với nụ cười hồn nhiên. Để Nguyệt từ một cô gái thùy mị trở thành tình nhân xen vào hạnh phúc của một gia đình là sự lạ, đánh dấu chuỗi thắt-mở nút đầy kịch tính. Ra đó chỉ là một màn kịch, sự phối hợp của Chim Sắt với đồng dội mình đã làm nên chiến công vang dội: một quả bom phát nổ tại sân bay Honolulu, nhận được lời khen ngợi của Bác Hồ: “đánh Mỹ trên đất Mỹ”. Đoạn thoát hiểm trong gang tấc trong chuyến vận chuyển vũ khí cho một trận đánh lớn sẽ khiến bạn hồi hộp rồi thêm phần cảm phục hình tượng người nữ chiến sĩ anh hùng Lê Thị Thu Nguyệt.

Còn một hình ảnh một Chim Sắt khác, một Chim Sắt ngoài đời thường. Nguyệt yêu nhạc lãng mạn, sợ đỉa, và say mê ánh trăng đổ vàng mặt đất. Viết ra những dòng này, tác giả như đã hóa thân được vào nhân vật, đẩy mạnh độ chân thực và thể hiện sự thấu đáo, chu toàn trong ngòi bút.

Hằng Dương

Trang Hạ và Dâu Tây bàn về tình yêu hiện đại

Trang Hạ và Dâu Tây bàn về tình yêu hiện đại
Nhà văn Trang Hạ cùng blogger Dâu Tây sẽ cùng nói chuyện về hôn nhân ngày nay trong chương trình "Tình yêu thời thổ tả".

Lấy tên theo tác phẩm nổi tiếng của Gabriel Garcia Marquez, nhưng chương trình lại bàn về những vấn đề xã hội. Các diễn giả sẽ cùng nhau thảo luận hàng loạt vấn đề nổi cộm của tình yêu và hôn nhân trong xã hội hiện đại, từ trào lưu làm mẹ đơn thân tới quan niệm "tránh lấy chồng Việt" của phụ nữ Việt thời nay. Việc sống nhanh, sống gấp, thiếu sự quan tâm, yêu thương thực sự dẫn tới những hệ quả nhức nhối như ly hôn xanh (sáng cưới, chiều chia tay), đàn ông Việt ngày càng tụt hậu hay phụ nữ hiện đại quên dần thiên chức và các giá trị truyền thống cũng sẽ được khách mời mổ xẻ.

Nhà văn Trang Hạ.

Dưới sự dẫn dắt của MC Đặng Hoàng Giang, các khách mời trò chuyện, tranh luận và trả lời khán giả trong không khí cởi mở. Các diễn giả của chương trình gồm nhà văn Trang Hạ, blogger Dâu Tây (Joe Ruelle) và tiến sĩ Đinh Đoàn. Trang Hạ được xem là một mẫu phụ nữ độc lập và cá tính. Dâu Tây nổi tiếng với các bài viết nhìn nhận sâu sắc, hóm hỉnh về con người Việt, xã hội Việt. Còn tiến sĩ Đinh Đoàn là chuyên gia tư vấn tâm lý.

Tình yêu thời thổ tả nằm trong chuỗi chương trình "Đúng hay Sai?" do không gian nghệ thuật Manzi tổ chức. "Đúng hay Sai?" là một diễn đàn đa chiều, phản ảnh sự cọ xát, va đập của các thang giá trị, thẩm mỹ, các trào lưu và thị hiếu khác nhau của xã hội đương đại Việt Nam.

Chương trình diễn ra lúc 19h30 ngày 20/11 tại Manzi Art Space.

Hiền Đỗ

Nguồn: vnexpress

Đoàn Văn Mật: Viết giữa chân trời của những xung đột

Đoàn Văn Mật:  Viết giữa chân trời của những xung đột

Đoàn Văn Mật sinh năm 1980, quê Nam Định, tốt nghiệp khóa 8 - Khoa Viết văn - Báo chí - Đại học Văn hóa Hà Nội, hiện đang làm Biên tập viên Ban Thơ - Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Với Đoàn Văn Mật, “thơ ví như con lạc đà thì hẳn con lạc đà thơ ấy không chỉ mang trên mình nó những câu chữ, những ý niệm, những miền xúc cảm để đi qua sa mạc,… mà phải chở thêm cả ngàn nỗi ưu tư của thân phận con người đang cùng đi với nó.”

“Con lạc đà thơ chở ngàn nỗi ưu tư”

6 năm kể từ tập thơ đầu tay “Giữa hai chiều thời gian” (2007), Đoàn Văn Mật mới quyết định ra mắt tập thơ thứ 2 của mình “Bóng người trước mặt” (2013). Trình làng một tập thơ khiêm tốn chỉ với 28 bài thơ, sau 6 năm khá im ắng, phải chăng anh đang tự nghiêm khắc với mình trước con đường thi ca còn rất nhiều chông gai?

Thật vui và cảm ơn chị đã có những chia sẻ về tập thơ thứ 2 này của tôi. Phải nói thế nào nhỉ? Nói thật là tôi không có gì để nghiêm khắc với thi ca cả, nhưng tôi luôn ý thức rất rõ ràng về khả năng cũng như con đường sáng tạo nhiều chông gai, đầy bất trắc này. Tôi tự thấy thi ca đang có phần khiêm nhường với mình vì suốt 6 năm qua tôi chỉ viết được chưa đầy 50 bài trong có 28 bài đã đưa vào Bóng người trước mặt. Càng ngày thi ca càng cho tôi thấy sự vô bờ bến của nó và đôi lúc nhìn lại những gì đã viết tôi bỗng rơi vào cảm giác ngộp thở đến chết chìm giữa mênh mông chữ nghĩa. Có thể coi đó một bi kịch nhưng rất cần thiết để tôi có thể nhìn lại mình một cách nghiêm túc và bình tâm nhất.

6 năm không phải là dài với một đường thơ. Trong 6 năm ấy, liệu có (đã) xảy ra một “cú huých” nào buộc anh phải thay đổi trên từng trang viết của mình?

Tôi nghĩ văn chương là sự tự thân và người viết luôn phải có ý thức đổi mới trên con đường sáng tạo. Chính vì vậy dẫu không có cú huých nào xảy ra thì người viết vẫn buộc phải thay đổi từng trang viết của mình rồi. Nhưng nếu nói về cú huých nào đó với tôi trong 6 qua thì cũng có đấy: sau khi học xong khóa học về văn chương tôi đã trở thành thành viên của Nhà số 4 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội) và nói như nhà thơ Trần Đăng Khoa thì Nhà số 4 chính là nơi có được môi trường tốt nhất để người viết có thể khẳng định mình. Dẫu vậy thì đường vẫn còn xa lắm thưa chị.

Nếu ở tập thơ “Giữa hai chiều thời gian”, người đọc bị ám ảnh bởi những khuôn sự chiêm nghiệm và tính thế sự đậm hơn. Đó phải chăng là bước chuyển mới trong tư duy người làm thơ?

Một cách khá tự nhiên thì sự chiêm nghiệm hay tính thế sự mà chị vừa nói đã đi vào tiềm thức sáng tác của tôi từ rất lâu. Có lẽ cái tạng của tôi nó thế, cứ động bút viết là những trải nghiệm, những va đập của cuộc sống lại dồn đến, đeo bám đến ám ảnh để rồi không viết ra không được và cũng không thể viết khác được.

Tạm gọi đấy là một bước chuyển trong tư duy cũng được nếu chúng ta cần đánh dấu hay ghi nhận cho những thay đổi đã diễn ra nhưng nghĩ lại thì bước chuyển ấy với tôi vốn không có nhiều dấu ấn của cái mới, nói đúng hơn đó chỉ là sự dịch chuyển của những năng lượng sống đang ngày một nhọc nhằn, đầy lo âu đổ vỡ và bất trắc. Và nếu thơ ví như con lạc đà thì hẳn con lạc đà thơ ấy không chỉ mang trên mình nó những câu chữ, những ý niệm, những miền xúc cảm để đi qua sa mạc,… mà phải chở thêm cả ngàn nỗi ưu tư của thân phận con người đang cùng đi với nó.

“Bóng người trước mặt”, để ghi lại một chặng đường, hay là sự thôi thúc cần phải cất lên một tiếng nói?

Quả thật là với tập thơ này tôi không định ghi lại một chặng đường hay để cất lên tiếng nói gì cả. Đó chỉ là sự tập hợp lại những gì tôi đã viết và muốn để bạn đọc có cái nhìn dầy hơn về sáng tác của mình mà thôi. Thi ca là một ngôi đền thiêng đầy ngưỡng vọng nhưng cũng đầy ảo mộng, tôi là một người trong muôn vạn người có hân hạnh được bước vào đó. Dù phải chịu sự lặng im hay cố gắng cất lên được tiếng nói của cũng là vui rồi.

Quan trọng nhất là sự đam mê và tinh thần dám dấn thân

Thơ gian khó, vì thơ viết ra nhọc nhằn. Người làm thơ phần lớn vừa phải lo in, vừa lo tặng, vừa hồi hộp chờ những hồi âm sau khi đã cất lên một tiếng vọng. Cá nhân anh mong muốn điều gì với mình(với tư cách một nhà thơ) và với thơ (nói chung)?

Nói như câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm “văn chương lấm láp vêu vao mặt người” quả là không sai. Tôi cho rằng những người thực sự đam mê, dám dấn thân vào thi ca ở thời buổi này phải có tinh thần can đảm lắm. Không can đảm sao được khi anh ta phải nhọc nhằn lao tâm khổ tứ để viết thơ, rồi phải tự bỏ tiền ra in, rồi lo tặng, rồi chờ đợi… trong khi đó nếu để dành số tiền, thời gian, công sức ấy đầu tư vào việc khác có sẽ đỡ vất hơn nhiều. Nói thế thôi chứ con người ta mà đã dính vào căn nghiệp văn chương chữ nghĩa thì dầu có khổ mấy họ cũng không bao giờ từ bỏ được niềm đam mê ấy. Tôi thấy điều quan trọng bậc nhất của người làm văn chương chính là sự đam mê và tinh thần dám dấn thân vậy.

Dễ nhận thấy rằng cảm giác hoài niệm tràn ngập trong các bài thơ. Anh có thể chia sẻ về điều này?

Khi tương lai là một cái gì đó rất khó đoán định, rất khó nắm bắt thì hoài niệm là thứ duy nhất để cho con người ta được trở về với chính mình được sống thật, sống chậm với mình hơn. Đặc biệt là trong xã hội hiện đại con người ta bị cuốn vào biết bao nhiêu thứ và luôn phải loay hoay tìm chỗ đứng cho mình. Tôi vẫn cho rằng ở khía cạnh nào đó thì văn chương chính là sự hồi cố lại quãng đời ta đã từng sống…

Có ba bài thơ trong tập, khiến tôi chú ý, đó là các bài: “2012, tháng 3”; “2012, tháng 5” và “2012 tháng 9”. Ngày tháng, thay bằng cách đặt như một ghi chú cuối bài thơ, đã được anh đặt thành tiêu đề. Phải chăng, có dụng ý nào đó được anh gửi gắm?

Thực ra đa phần những bài thơ trong tập Bóng người trước mặt đều được tôi đặt tên bằng ngày tháng nhưng sau mỗi lần gửi thơ đăng báo tôi đã đặt lại tên cho nó vì nghĩ rằng với đứa con tinh thần của mình khi xuất hiện trước bàn dân thiên hạ thì cũng cần định cho nó một cái tên bằng chữ cụ thể. Và nhiều bài trong lúc đặt lại tôi đã xóa mất phần khai sinh ra nó, đến lúc muốn trả lại thì không tài nào nhớ nổi. Riêng 3 bài mà chị vừa nói đến là do lúc đăng báo tôi chưa kịp đặt lại tên nên khi đưa vào tập vẫn để nguyên như thế. Tôi thấy cách đặt tên theo ngày tháng có tác dụng rất tốt khi đọc lại vì nó làm mình hồi tưởng được cái tâm trạng lúc viết bài thơ ấy một cách nhanh và chính xác nhất. Nên mỗi lần đọc lại tôi như được trở về với mình với thời điểm mà bài thơ ấy ra đời. Đó là điều thú vị đặc biệt và thật tiếc khi mình không giữ lại được.

Anh nghĩ sao khi tôi nói rằng: đọc thơ anh cần phải có một tâm trạng. Nếu không, sẽ không thể nhập vào được những câu thơ ấy?

Tôi đồng ý với suy nghĩ này của chị. Tôi làm thơ trong lúc tâm trạng của mình được đẩy lên cao nhất âm ỉ và dai dẳng nhất có khi tâm trạng ấy còn được lặp đi, lặp lại nhiều lần suốt một thời gian dài. Để hoàn thành xong một bài thơ có khi tôi phải mất cả tháng trời vương vấn về nó.

Nhưng tôi nghĩ rằng với bất kì tác giả nào, với bất kì loại thơ nào khi đọc chúng ta cũng nên dành cho nó một tâm trạng, một tâm thế phù hợp để tiếp cận. Đấy chính là chìa khóa mở ra những điều thú vị của bài thơ.

Sẽ khó tránh khỏi những xung đột giữa thế giới đời thường và thế giới thi ca. Cách ứng xử của anh?

Giữa thế giới đời thường với thế giới thi ca luôn chứa chất rất nhiều xung đột và sự xung đột ấy đã góp phần tạo nên những dằn vặt, những ám ảnh cho người viết. Nếu đọc kĩ bạn đọc sẽ thấy nhiều bài thơ trong “Bóng người trước mặt” nói về những xung đột này: Trở dậy thấy những chân trời lạ/ mọc bên nhau nhưng chẳng thể áp gần// Đâu đây thời gian trườn lên dấu chân mình/ gió đến thổi dọc dài bão tố// Mưa hiển thị sang ngày tháng cũ/ lặng lẽ đơm xanh từng nhánh hoang tàn// Là buồn vui trong ta quá rộng/ hay đời sống xoáy vòng luẩn quẩn// Như lối mòn kia mở ra con đường/ đi tận cùng lại trở về thuở ta chập chững// Như trước mặt ta cái cây sừng sững/ đang rụng những chiếc lá cuối ủ cho hạt mầm vừa tách vỏ// Trở dậy thấy con ta - một dáng hình thơ bé/ đùa chơi hồn nhiên bên những chân trời lạ. Cái chân trời của những xung đột ấy đôi khi chúng cứ mọc bên nhau nhưng mãi mãi chẳng thể nào áp gần được và trong trường hợp ấy tôi luôn cố gắng biểu lộ ra ngoài bằng một tư thế điềm tĩnh nhất nhưng vẫn biết bên trong mình là muôn vàn dằn vặt. Tôi thầm nghĩ người viết nào mà không biết dung hòa những xung đột, không biết cách kiềm chế hay che giấu mình thì cuộc đời anh ta rất dễ sa vào bi kịch của những thứ không đầu không cuối và đổ vỡ là điều khó tránh khỏi.

Sự cô độc/ cô đơn của người sáng tác, đó là bi kịch hay là một đặc ân, theo anh?

Sự cô độc/ cô đơn là một đặc ân đặc biệt của người viết nhưng đó phải là sự cô độc vận động trong nội tại của bản thân như một sự bất lực chứ không phải là cái do anh ta cố tình tạo ra. Khi người viết cố tình tạo ra cho mình sự cô đơn/ cô độc thì đấy là bi kịch nhiều hơn là đặc ân mà anh ta dành cho mình.

  • Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

Nguồn: vannghetre

PVVNT thực hiện

Một cõi ''miên di"

Một cõi ''miên di

Chỉ vỏn vẹn ba chữ “thơ miên di” nằm khiêm tốn trên góc bìa tập thơ khổ lớn. Hơn hai trăm bài thơ là những chắt lọc trong suốt quá trình cầm bút của tác giả. “Thơ Miên Di” ra mắt ngày 25/9/2013, do XNB Hội Nhà văn ấn hành.
Đọc thơ Miên Di, thật khó để tin rằng anh là một… doanh nhân! TT&VH xin giới thiệu trích đoạn bài viết của Trịnh Sơn


Nhà thơ Miên Di


* Cánh vỗ vô chừng

Thơ – sau rất nhiều khái niệm, kể cả những khái niệm bắt đầu lặp lại – đi từ vũ trụ đơn độc đến cái tôi vô cùng, lại miên man chập chững bước trên bờ một bên nắng quái mưa xiêu thênh thang con người một bên vực thẳm mênh mang tâm hồn và trí tưởng. Ngồi lại phiến đá lạnh nào đó, để nhóm lửa cho chỗ ngồi chứ chắc gì cho ai hay cho bản thân mình, là hồn thơ miên di.

“Miên” là bất định, “di” là vỗ cánh? Miên di là cánh vỗ vô chừng? Mỗi vết chân người qua, lửa cháy lạnh. Lửa cháy không cần hơi ấm. Nếu lửa chỉ là lửa.

Lửa có biết tự mình không là ấm
nếu vắng cái hơ tay của kẻ rét âm thầm

(Lửa lạnh - Miên Di)

Tôi bước vào thơ miên di như thế. Một cõi ấm tự thân. Gã chẳng buồn viết hoa tên mình (tác giả Miên Di thường không viết hoa tên mình, kể cả trên bìa tập thơ này). Cớ gì tôi vênh vang chạnh lòng mỗi chữ cái bắt đầu cái tôi?

Có lần muốn sống phần muông thú
sợ người làm bẩn tiếng chó tru

(Người&con – Miên Di)

Thơ – chỉ cần vài dòng trích ngang như thế, đã đầy đủ điêu linh và thống khoái cho bất cứ ai chạm vào. Giới hạn con – người không làm nên rào cản trên địa hạt tưởng như rất cụ thể mà vô hình dung của Miên Di. Kiêu hãnh người bất chợt ngã ngửa, hóa thành cái chỏng chơ mặc cảm của một giống nòi lạc loài nhất, cô đơn nhất và thương đau nhiều nhất. Nếu không muốn dùng chữ vạm vỡ lạm phát thời nay.

Tôi cố ý trích dẫn mấy trường hợp (nếu không muốn nói là mấy trường đoạn li kỳ) của thơ miên di để giới thiệu với chính tôi và mọi người: Một cõi “miên di”. Thơ kiêu ngạo, mảnh mai vượt qua biên giới tột cùng của triết thuyết, mở ra một không gian xây bằng từng viên gạch triết thuyết dữ dội hơn, mới mẻ hơn để giam cầm thứ triết thuyết đã đẻ ra các nhà thơ kim cổ.

“Vôi vữa” của thơ Miên Di, không ngoại lệ, tất nhiên, là chữ. Nhưng là thứ chữ tự xé nát mình ra. Tự đau. Và tự lành. Thương tổn đến tận cùng, cho đến khi tổn thương hóa thành vết sẹo tưởng chừng chỉ có đôi bàn tay thánh thần ma quái may vá mới đẹp đến vậy: Tình! Nguyên vẹn nỗi đau. Trọn vẹn cuộc giải phẫu tâm hồn mình bằng lưỡi kiếm tha nhân.


Cuốn Thơ Miên Di


* Chữ bạt vía, nghĩa kinh hồn

Kể từ khi Bùi Giáng ghé đến thế gian Việt ngữ, cũng là khi Người tự tẩm liệm mình bằng thơ ca ý tưởng và hạ huyệt giữa cô quạnh thần sầu – chưa có ai nhìn thấy Người lần nữa. Tâm tưởng của Người, chữ nghĩa của Người đã trọn vẹn trong cuộc Phụng hiến bất đắc kỳ sinh:

Đi về trong cõi người ta
Người là người lạ ta là quá quen?
Anh từ thể dục dưỡng điên
Thành thân thơ mộng thiên nhiên một giờ
(Chào em – Bùi Giáng)

Ảnh của Người rơi rớt khắp cùng đường cuối ngõ chợ trời thiền viện thánh đường tù ngục. Hao hao dáng Người đã là hạnh phúc lắm chứ đừng tưởng đem cái dạ “ta là một” mà chối bỏ hạnh duyên. Lục bát Miên Di khởi nguồn từ dòng lục bát “thơ mộng thiên nhiên” của “Trung niên thi sĩ” Bùi Giáng mà róc rách, réo rắt đến lẫm liệt:

Một ngày thấu hiểu mây trôi
cao xanh cũng chứa tả tơi trong lòng

Thử làm một chuyến xe đông
đi không để đến và không để về
Thử làm thú giữa hoang khê
động tình tru thót cơn mê kiếp người

(Thử - Miên Di)

Dường như lùa bò trong sương. Dường như lùa bò lên đồi sim trái chín. Những con bò vác chữ không trên lưng oằn cong mà trong mơn mởn cỏ xanh nắng sớm. Lật ngược chữ để tìm cách giấu nghĩa đi, chữ vẫn đó nghĩa vẫn đó mà thân ta trở nên biệt tăm tự lúc nào.

Lời đề từ thi phẩm Thơ Miên Di, gã tự thú: “Sẽ phải mang về nơi đang đến, những gì để lại lúc đi qua…”. Như tấm biển treo trên cổng thơ dẫn vào một cõi giới mà tính xác thực vô độ, hư vô chảy khúc khích qua kẽ tay, thanh thiên bạch nhật đêm hôm khuya khoắt đều có trong từng chiếc lá.

Một cõi thi ca “miên di”: Ngại ngần gì không xác quyết như thế. Chưa chắc, bầu trời cao xanh sóng động trong ấy có dung thứ gã thi sĩ đến tận cùng ngóc ngách câu chữ. Nhưng chắc chắn ánh sáng thiền mặc khải động đã soi rọi từng vết chân ngữ nghĩa trải qua. 

Nếu có thể, tôi xin không viết hoa tên mình nữa:
Thử dừng một nhịp luôn luôn
thử quên cho lạc con đường đã quen
(Thử - miên di)

Nhà thơ miên di tên thật là Lê Xuân Hoà, nguyên quán Đà Nẵng, sinh năm 1976 tại Đại Từ, Thái Nguyên. Hiện sống và làm việc ở phố núi Pleiku, Gia Lai. Làm thơ, viết truyện và tiểu luận phê bình.


Trịnh Sơn

Nhà thơ trẻ “rất nhát” ra mắt thơ tại Hà Nội

Nhà thơ trẻ “rất nhát” ra mắt thơ tại Hà Nội

Chiều 25-9, tập thơ đầu tay của nhà thơ Miên Di ra mắt độc giả tại Hà Nội.

Nhà thơ trẻ Miên Di sinh sống ở tận Plây Cu - Gia Lai, anh được biết đến trên diễn đàn thơ trẻ mấy năm gần đây như một đại diện của thơ trẻ cao nguyên với nhiều bài thơ mang hơi thở hoang dã, bụi bặm mà thắm thiết và có khi còn tinh quái. Làm kinh doanh nhưng thơ với tâm hồn anh như một sự chắp cánh.

Miên Di đã tham dự Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8 tại Tuyên Quang năm 2011. Đầu năm nay, tổ khúc thơ “Tổ quốc” và “Tình yêu” do Miên Di và các cây bút trẻ khác thể hiện trên sân thơ trẻ - Ngày thơ Việt Nam, được nhiều người khích lệ.

Tập thơ đầu tay “Thơ Miên Di” vừa được NXB Hội nhà văn ấn hành. Chiều 25-9, trong mưa gió, ẩm ướt, anh đã có cuộc ra mắt nhỏ tại bán đảo hồ Thiền Quang với sự giúp đỡ của Ban nhà văn trẻ - Hội nhà văn Việt Nam. Nhiều nhà thơ, nhà phê bình uy tín, trân trọng Miên Di, cùng các bạn sáng tác quý mến anh, đã tham dự, chia sẻ và đọc thơ Miên Di trên nền nhạc.

TS Chu Văn Sơn chia sẻ những cảm nhận ban đầu về thơ Miên Di.

 

 

Tập thơ có đến hơn 200 bài, gồm nhiều bài thơ tự do, thơ văn xuôi và lục bát. Có những bài là một cặp lục bát, chớp lại một cảm nhận, loé ra một chiêm nghiệm, một suy ngẫm. Tác giả quan sát, “nhặt nhạnh” được nhiều hình ảnh, âm thanh trong đời sống và thể hiện qua những câu chữ được sắp xếp cẩn trọng, dồn chứa nhiều chiều cảm nhận.

Trong chia sẻ của bạn bè, những nhà văn, nhà thơ luôn cổ vũ Miên Di như Võ Thị Xuân Hà, Hữu Việt, Phan Huyền Thư…, Miên Di hát hay, rất tình cảm và mau nước mắt. Thơ anh có nhiều điều đáng để đọc, cảm nhận và ghi nhận. Và như Miên Di bộc bạch thì anh hết sức xúc động đến mức run rẩy được đón nhận sự có mặt của mọi người. “Tôi nghĩ tôi chỉ hoang dại trên trang giấy chứ thực ra tôi rất nhát!”, anh nói.

Có mặt ở cuộc ra mắt, nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm xúc động nhớ lại mấy chục năm trước, các tác giả trẻ ra sách, làm gì có được cuộc ra mắt trang trọng, vui tươi như thế này! Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tỏ ý thích cái tên Miên Di. Ông cho rằng, Miên Di như cơn gió hoang dã đi xuống đồng bằng từ cao nguyên, và hy vọng thơ anh sẽ kỳ vĩ, đắm mê hơn nữa. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên và nhà thơ Nguyễn Việt Chiến nhanh chóng mời Miên Di tham dự hội nghị những người viết văn trẻ Hà Nội sẽ diễn ra vào cuối tháng 10 tới.

Nguồn: nhandan.com.vn

Trang 8 trong tổng số 27 trang.

Các tin mới nhất

Nhiều người đọc

Sách mới xuất bản

Thống kê

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay910
mod_vvisit_counterHôm qua4079
mod_vvisit_counterTất cả4536495

20 149
,
Hôm nay:30 - 3 - 2017
Hiện có 410 khách 1 thành viên online

Đăng ký tin thư

Tên:
Email: